Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

các biện pháp cơ bản trong quá trình đổi mới hệ thống quản lý chất lượng theo mô hình iso 9000


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "các biện pháp cơ bản trong quá trình đổi mới hệ thống quản lý chất lượng theo mô hình iso 9000": http://123doc.vn/document/1051767-cac-bien-phap-co-ban-trong-qua-trinh-doi-moi-he-thong-quan-ly-chat-luong-theo-mo-hinh-iso-9000.htm


Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
Ngày nay ngời têu dùng có những quyền mà đợc pháp luật bảo vệ nh :
- Đợc luật pháp bảo vệ chống lại các thủ đoạn lừa dối trong kinh doanh, nh là
quảng cáo lừa dối, sai sự thật và các hành động buôn bán không trung thực.
- Quyền đợc mong đợi hàng hoá và dịch vụ đã mua đạt tiêu chuẩn chất lợng và
tiêu chuẩn an toàn.
- Có quyền đợc thông tin về hàng hoá và dịch vụ một cách chính xác bao gồm
thông tin về giá, nội dung, và trọng lợng của bao gói, các nhãn hiệu đã đợc ghi thận
trọng trên hàng hoá, các hớng dẫn sử dụng an toàn trên các sản phẩm.
- Có quyền đòi hoàn lại tiền, thay thế hoặc sửa chữa lại hàng hoá đã mua nếu
các điều kiện kể trên không đợc đáp ứng tại thời điểm bán hàng và trong thời gian bảo
hành.
3. Trình độ công nghệ trong các doanh nhgiệp Việt Nam hiên nay
Cũng nh các nớc khác, Vệt Nam không thể nằm ngoài vòng xoáy của tiến trình
hội nhập. Trong thời gian qua, chúng ta đã thực sự tham gia vào tiến trình hội nhập
nền kinh tế thế giới, đã trở thành thành viên chính thức của hiệp hội các nớc Đông
nam á ( ASEAN ), thành viên của diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng
( APEC ), ký hiệp định thơng mại với linh minh Châu Âu (EU ), ký kế hiệp định th-
ơng mại Việt - Mỹ và đang trong quá trình đàm phán để gia nhập WTO.
Bên cạnh rất nhiều mà Việt nam có thể có nhờ vào sự tăng cờng hội nhập nh :
duy trì và mở rộng thị trờng xuất khẩu, có điều kiện tiếp thu những kiến thức và kỹ
năng quản lý mới, công nghệ mới ; học hỏi kinh nghiệm xây dựng và phát triển kinh
tế của các nớc và nhanh chóng đa đất nớc tiến lên thì cũng không ít những khó khăn,
thách thức khi tham dự tiến trình này. Một trong những thách thức lớn nhất đối với
các doanh nghiệp Việt nam hiện nay là năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động
kinh doanh của các doanh nghiệp Việt nam còn thấp hơn rất nhiều so với các nớc
khác trong khu vực và thế giới. Năng lực cạnh tranh đợc thể hiện thông qua các khía
cạnh năng suất, chât lợng cao, chi phí thấp, giá thành hạ, giao hàng nhanh, đúng hạn
và đem lại nhiều lợi ích cho khách hàng.
Mặc dù trong thời gian qua, các doanh nghiệp Việt nam đã chú trọng đến chất l-
ợng, đến năng suất. Nên một số sản phẩm, hàng hoá Việt nam đã chiếm lĩnh đợc thị
trờng trong nớc và có mức tăng trởng ngày càng cao, song nhìn tổng thể thì chất lợng
và năng lực cạnh tranh của các sản phẩm, hàng hoá sản xuất tại các công ty Việt nam
vấn còn yếu kém. Theo đánh giá của diến đàn kinh tế thế giới năm 1999, năng lực
cạnh tranh của Việt nam đợc xếp thứ 48 trong số 59 nớc đợc xếp hạng.
Những thách thức lớn trong việc nâng cao chất lợng và năng lực canh tranh của
các doanh nghiệp Việt nam xuất phát từ nhữ nguyên nhân chính sau đây :
Thứ nhất : phần lớn các doanh nghiệp Việt nam thuộc loại hình doanh nghiệp
vừa và nhỏ, có năng lực tài chính yếu, khả năng đầu t đổi mới công nghệ han chế. Đại
bộ phận doanh nghiệp chỉ sản xuất kinh doanh một vài loại sản phẩm theo chu trình
khép kín từ khâu đầu ( thiết kế ) đến sản xuất cuối cùng. Các tổng công ty 90, 91 tuy
có quy mô lớn nhng chỉ là sự lắp ghép của các công ty thành viên, cha có đổi mới
đáng kể về tổ chức sản xuất kinh doanh. Tình hình này làm hạn chế khả năng doanh
nghiệp vơn lên áp dụng ngay các phơng pháp kỹ thuật và công nghệ quản lý mới để
tạo ra sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ có chất lợng cao và đủ sức cạnh tranh trên thị tr-
ờng.
lớp qtcl - k40

5
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
Thứ hai : trình độ máy móc, trang thiết bị quá cũ và lạc hậu, theo số liệu thống
kê, trên 75% thiết bị máy móc của các doanh nghiệp Việt nam thuộc thế hệ những
năm 60, trong đó có 70% đã khấu hao hết và gần 50% máy cũ đã đợc tân trang lại.
Trình độ công nghệ của chúng ta lạc hậu so với các nớc công nghiệp phát triển
khoảng gần một thế kỷ. Bên cạnh đó việc bố trí mặt bằng, nhà xởng bất hợp lý và láng
phí, vệ sinh công cộng kém, môi trờng công nghiệp lạc hậu là đặc điểm phổ biến của
các doanh nghiệp Việt nam. Tình hình này khiến chúng ta khó lòng có thể tạo ra
những sản phẩm có chất lợng cao và có khả năng canh tranh thắng lợi ngay trong thị
trờng nội địa của mình chứ cha nói đến thị trờng thế giới.
Thứ ba : nguồn nhân lực Việt nam cha đáp ứng đợc sự phát triển hiện tại và tơng
lai. Trình độ và cơ cầu lao động của các doanh nghiệp Việt nam cha phù hợp. Mặc dù
là một nớc có nguồn lao động dồi dào với khoảng gần 40 triệu lao động nhng đó cha
thực sự là nguồn lao động có sức cạnh tranh .Chúng ta mới có khoảng 17,8% lao động
đợc qua đào tạo . Chỉ có khoảng 4000 công nhân bậc cao trong số 2,5 triệu, 36% công
nhân kỹ thuật đợc đào tạo theo hệ chuẩn quốc gia, 39,4% đợc đào tạo ngắn hạn,
24,7% cha qua đao tạo. Mặt khác những công nhân có khả năng điều hành, đứng máy
trong các dây truyền rất khan hiếm.Theo đánh gía về năng lực lao động của BERT
( business environment risk- intelligence ) dựa trên bốn tiêu thức đánh giá : khung
pháp lý, năng suất tơng đối, thái độ của ngời lao động và kỹ năng kỹ thuật thì lực lợng
lao động của Việt nam năm 1999 đạt 32/100 điểm xếp thứ 48 trong số các nớc đợc
xếp hạng ( theo bảng xếp hạng thì <35 điểm đợc xếp hạng kỹ năng kém , năng xuất
thấp ). Trong khi đó phần lớn các doanh nghiệp Nhà nớc có số cán bộ d dôi lớn nên
thờng không mạnh dan đổi mới cơ cấu doanh nghiệp, còn đeo bám theo mô hình cũ,
do vậy không tạo ra đựơc sự chuyển biến đồng bộ và tác phong mới trong hoạt động
sản xuất kinh doanh và sự đồng bộ trong việc giải quyết vấn đề chất lợng.
Thứ t : nhận thứ và trình độ quản lý trong các doanh nghiệp Việt nam còn là vấn
đề nan giải và cha rõ ràng, nhận thứt về tác động cơ chế thị trờng còn còn thiếu phiến
diện, nặng về tác động tiêu cực, từ đó tìm cách đối phó bằng các biện pháp không cơ
bản nh móc nối để mua bán không trung thực,chụp giật để có lợi nhuận trớc mắt mà
cha thấy đợc yếu tố cơ bản của sự cạnh tranh là uy tín và chất lợng. Điều đó làm lu
mờ mục tiêu phát triển lâu dài và bền vứng của doanh nghiệp và hạn chế hoạt động
cải tiến chất lợng .
Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác liên quan đến các yếu tố thuộc tầm vĩ mô
nh : vấn đề sở hữu trong khu vực Nhà nớc cha đợc giải quyết triệt để ; cơ sở quản lý vĩ
mô còn hạn chế, gò bó, cha đảm bảo quyền tự chủ sản xuất kinh doanh và sự chựu
trách nhiệm, hạn chế khả năng sáng tạo dám nghĩ, dám làm của các doanh nghiệp.Tổ
chức còn phức tạp, cồng kềnh. Đây thực sự là những trở ngại đa cái mới vào sản xuất
kinh doanh, hạn chế những khả năng tạo ra và cung cấp SP, HH và DV có chất lợng
thoả mãn khách hàng và tạo lợi thế cạnh tranh.
Tóm lại, để các doanh nghiệp Việt nam có sức cạnh tranh trong môi trờng cạnh
tranh khốc liệt hiện nay cần phải tiến hành một bớc đổi mới triệt để cả về quan điểm
nhận thức lẫn phơng pháp điều hành quản lý. Các doanh nghiệp Việt nam phải từng b-
ớc chuyển dần từ mô hinh quản lý cũ sang mô hình quản lý mới mà ở đó có sự phát
triển cao về nguồn nhân lực, có môi trờng để thúc đẩy khả năng sáng tạo trong lao
động, có điều kiện để phát triển áp dụng các công nghệ tiến tiến mà trớc hết cơ sở
nền tảng của nó phải dựa trên triết lý và chiến lợc kinh doanh đúng đắn là : mọi lỗ lực
tập trung vào việc không ngừng cải tiến và nâng cao chất lợng để toạ lợi thế cạnh
tranh và sự phát triển bền vứng trong tơng lai.
II. một số tồn tại chủ yếu trong quản lý chất lợng ở
doanh nghiệp Việt nam
1.Sự rời rạc và riêng rẽ trong quản lý ở doanh nghiệp
lớp qtcl - k40

6
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
Đất nớc ta đã chải qua cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc để giành độc lập. Trong
những giai đoạn đầu của thời kỳ độc lập, chúng ta đã phát triển nền kinh tế theo theo
cơ chế tập trung bao cấp. Một nền kinh tế tế phát triển theo sự chỉ huy của nhà nớc,
các cấp, các nghành. Sự sản xuất theo chỉ tiêu pháp lệnh của cấp trên giao cho. Phát
triển kinh kinh tế tự lự tự cờng nhng lại khong thiết lập quan hệ rộng rãi với các nớc
khác trừ các nớc trong khối xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế tập trung này đã làm
cho cán bộ, công nhâncủa chúng ta kém năng động, sáng tạo trong sản xuất và quản
lý. Sự tồn tại của cơ chế này đã kìm hám sự phát triển nền kinh tế của đất nớc, do đó
đất nớc chúng ta vẫn nằm trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu trong nhiều năm.
Trong tình trạng tồn tại, hạn chế của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Đảng
và Nhà nớc ta đã phải chuyển đổi cơ chế này sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của
Nhà nớc, từ Đại hội Đảng VI ( 1986). Từ những năm chuyển đổi cơ chế cho đến nay,
đất nớc chúng ta đã phát triển trên nhiều mặt, về sản xuất thì sản xuất lơng thực nh về
gạo chúng ta đã đứng nhì, ba thế giới về xuất khẩu, nhiều mặt hàng hải sản chúng ta
đã xuất khẩu ra nớc ngoài. Nhiều mặt hàng công nghiệp cũng đã phát triển. Chúng ta
cũng đã thiết lập nhiều các mối quan hệ hợp tác quốc tế nh ( ASEAN, AFTA, APEC,
EU). Nhng trong những thành tựu đạt đợc, chúng ta còn khá nhiều tồn tại và thách
thức trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc. Nhất là sự tồn tại trong
quản lý, vì chúng ta còn bị ảnh hởng của cơ chế quan liêu, nó đã thấm nhuần vào t t-
ởng các nhà quản lý của ta, để thay đổi đợc nó thật sự là một khó khăn lâu dài.
2.Con ngời trong quản lý chất lợng ở các doanh nghiệp Việt nam trớc kia và hiện
nay
Từ khi chuyển đổi cơ chế tập trung sang cơ chế thị trờng thì công tác quản lý
chất lợng cũng từ đó có những chuyển đổi nhng vẫn còn chịu ảnh hởng của thời kỳ tr-
ớc .
Công tác quản lý chất lợng giai đoạn trớc năm 1990 :
Trong giai đoạn này thì với suy nghĩ để đảm bảo cho sản xuất sản phẩm có đủ
tiêu chuẩn về chất lợng thì bên cạnh hệ thống quản lý sản xuất, điều hành kế hoạch,
mỗi cơ sở sản xuất hình thành lên một tổ chức quản lý chất lợng - phòng KCS. Tổ chứ
này đợc đặt dới sự điều hành và kiểm soát trực tiếp của giám đốc, hoạt động độc lập
và hoàn toàn khách quan với hệ thống sản xuất trực tiếp, nhng mong muốn KCS sẽ
đảm bảo cho sản phẩm có chất lợng đã không hoàn toàn xẩy ra trong thực tế.
Thực tế thì hàng hoá vẫn kém chất lợng, mẫu mã xấu và không đợc thay đổi
trong một thời gian dài mà còn lãng phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công cho những
phế phẩm, vì KCS chỉ làm nhiệm vụ kiểm tra sự phù hợp của sản phẩm ở khâu cuối
cùng.
Không những thế quan điểm hầu hết các cơ sở sản xuất trong giai đoan này đều
cho rằng chất luựng chỉ đợc quyết định bởi khâu sản xuất, còn trong lu thông, phân
phối không có liên quan. Khi hỏi đến chất lợng sản phẩm nguời ta thờng có một câu
trả lời chung chung là : Ngời ta sản xuất ra nh vậy .
Nhiều khi việc vi phạm quy chế quản lý chất lợng lại do chính giám đốc gây ra.
Bởi tính thúc bách của kế hoạch giao nộp sản phẩm nhiều trờng hợp, giám đốc đã gia
quyết làm nhanh, làm ẩu, làm dối để đối phó với hoàn cảnh trớc mắt.
Một quan điểm chất lợng nữa trong giai đoạn này là áp đặt ngời tiêu dùng, buột
ngời tiêu dùng phải mua, phải dùng những thứ sản xuất ra. Ngoài những thứ đã có và
đang đợc sản xuất theo chỉ tiêu, những thứ còn lại chỉ là chờ đợi và là ớc mơ của ngời
tiêu dùng vào kỳ vọng kế hoạch sẽ thay đổi.
lớp qtcl - k40

7
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
Từ nhận thức về quản lý chất lợng nh trên đã đa đến thực trạng của công tác
quản lý chất lợng trong sản xuất nh sau :
Trong sản xuất việc bảo đảm chất lợng nh là trách nhiệm riêng của những ngời
chịu trách nhiệm quản lý, những ngời sản xuất trực tiếp hầu nh không có liên quan vì
họ không quan tâm nhiều đến chất lợng sản phẩm. Những ngời sản xuất trực tiếp chỉ
quan tâm đến năng xuất lao động và định mức. Họ sợ việc chú ý đến chất lợng hàng
hoá sẽ ảnh hởng đến giao nộp đúng kế hoạch, đã có nhiều sự gian dối trong trong chất
lợng sản xuất xẩy ra.
Đồng thời, sau khi giao nộp hàng hoá ngời sản xuất dờng nh đã song trách nhiệm
của mình, chất lợng của sản phẩm hàng hoá cũng chỉ đợc quan tâm bởi trách nhiệm
của doanh nghiệp đến khi sản phẩm đã ra khỏi nhà máy. Việc lu thông, phân phối đi
đâu, cho ai sử dụng nh thế nào và thông tin phản hồi từ phía khách hàng doanh nghiệp
không cần quan tâm.
Những hạn chế :
- Nhận thức về vai trò, vị trí và nội dung của công tác quản lý chất lợng trong
nền kinh tế cha theo kịp sự đòi hỏi của tình hình mới về năng lực quản lý, trình độ
công nghệ còn thấp kém, kiến thức và kinh nghiệm quản lý chất lợng trong cơ chế thị
trờng còn yếu. Hệ thống tổ chức và cơ sở vật chất của cơ quan quản lý chất lợng từ
trung ơng đến địa phơng cha đợc nâng cao về cả số lợng và chất lợng .
- Mục tiêu của ngời sản xuất và của ngời tiêu dùng không đồng nhất trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của toàn xã hội. Ngời sản xuất không biết thị hiếu của ngời
tiêu dùng, ngời tiêu dùng không hiểu về ngời sản xuất .
- Tách rời trách nhiệm của mỗi ngời với công việc mình đã làm. Ngời sản xuất
trực tiếp sau khi hoàn thành công việc thì không cần quan tâm đến trách nhiệm về
chất lợng công việc mình vừa làm. Doanh nghiệp cũng vậy, chỉ cần hoàn thành kế
hoạch về chỉ tiêu số lợng. Đồng thời không có sự đồng nhất trong một công việc
chung. Không có sự kiểm tra kết quả lao động của mỗi ngời. Vì thế không có sự nhịp
nhàng, cân đối và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .
- Hệ thống quản lý chất lợng chủ yếu là các phòng KCS trong các doanh
nghiệp, làm việc một cách thụ động, gây nhiều láng phí và ít hiệu quả vì cần nhiều
nhân viên trong khâu kiểm tra sản phẩm cuối cùng, nên phòng KCS rất cồng kềnh
,chi phí cao. Đồng thời nhận thức về quản lý chất lợng còn nhiều hạn chế bởi tính,
cứng nhắc, không phản ánh tình trạng trung thực, khoa học và không xuất phát từ thực
tế của nền sản xuất, thực tế của công nghệ kỹ thuật cở sở và những thực tế nhu cầu về
chất lợng của thị trờng.
Vì thế, để có hiệu quả hơn trong sản xuất kinh doanh nói riêng của các doanh
nghiệp và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế lên tầm vĩ mô thì công tác quản lý chất
lợng phải có những thay đổi.
Công tác quản lý chất lợng trong giai đoạn sau năm 1990 cho đến
nay :
Từ năm 1990 là sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Vì vậy, sự đòi hỏi của thị
trờng trong nớc cũng nh ngoài nớc buộc sản xuất muốn thích ứng và tồn tại phải có
những thay đổi về công nghệ và trang thiết bị kỹ thuật. Là nớc đi sau Việt nam đợc
thừa hởng viện trợ và chuyển giao công nghệ. Vì thế mà đội ngũ lao động đợc đào tạo
và đợc kiểm soát trong hệ thống quản lý mới làm việc hiêụ quả hơn, tạo gia những sản
phẩm chất lợng cao hơn và tuân theo những yêu cầu nhất định của nền kinh tế thị tr-
ờng.
lớp qtcl - k40

8
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
Từ những thay đổi của nền sản xuất hàng hoá trong nớc, sự thay đổi về nhận thức
của ngời tiêu dùng và sự hội nhập nền kinh tế thế giới của nớc ta đã đặt ra yêu cầu bức
thiết về vấn đề quản lý chất lợng. Nhận thức và quan điểm về quản lý chất lợng đã có
nhiều thay đổi nhng bên cạnh những quan điểm đúng đắn còn tồn tại một số quan
điểm còn lệc lạc.
Những quan điểm đúng đắn :
- Công tác quản lý chất lợng đợc coi trọng và đợc phát triển cả về chiều rộng lẫn
chiều sâu .
- Cùng với sự đổi mới về kỹ thuật và công nghệ, các nhà sản xuất cũng nh các
nhà quản lý đã thấy đợc vai trò của chất lợng trong nền kinh tế. Họ đã tìm cách tổ
chức việc quản lý chất lợng theo đúng hớng thông qua những việc làm cụ thể nh :
+ Tìm hiểu thị trờng : tìm hiểu nhu cầu, thay đổi nhận thức về khách hàng và ng-
ời cung ứng. Các khách hàng và ngời cung ứng cũng là những bộ phận quan trọng của
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Đa ra những chính sách để điều hành quản lý chất lợng tìm ra những phơng
thức thích hợp để quản lý nh : TQM, ISO, HACCP, 5S,và số lợng các doanh nghiệp
đã đợc cấp chứng chỉ ISO 9000, GMP, HACCP ngày càng tăng, đặc biệt trong những
năm gần đây, năm 2000 dã lên tới 400 doanh nghiệp.
+ Hoạt động quản trị chất lợng hiện nay đã có đợc sự quan tâm thật sự của các
cấp lãnh đoạ doanh nghiệp, vì thế hoạt động chất lợng đợc tiến hành ở nhiều cấp bậc
khác nhau trong doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc tăng c-
ờng quản lý chất lợng thông qua áp dụng mô hình quản lý chất lợng mà còn đi xa hơn
biến hoạt động chất lợng thành phơng châm, triết lý kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Việc nâng cao chất lợng sản phẩm của các doanh nghiệp Việt nam đã phần đợc
thông qua bằng việc chú trọng đổi mới công nghệ. Các doanh nghiệp đã xác định
trong hệ thống nâng cao chất lợng sản phẩm, sau khi nắm bắt đợc nhu cầu thị trờng
thì đổi mới công nghệ. Đi song song với việc đổi mới công nghệ là các giải pháp quan
trọng khác liên quan trực tiếp đến đảm bảo chất lợng sản phẩm nh nghiên cứu thiết kế
sản phẩm phù hợp với thị trờng , nâng cao các thông số kỹ thuật, tăng giá trị sử dụng
đáp ứng các yêu cầu của ngời tiêu dùng vì sự tiện lợi an toàn, thẩm mỹ, xác định nâng
cao trách nhiệm chất lợng là nhiệm vụ của mọi ngời trong doanh nghiệp do đó phân
công công việc cụ thể phù hợp với khả năng để phát huy tối đa năng lực của ngời lao
động.
+ Bên cạnh những doanh nghiệp lớn quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu mô hình kỹ
thuật và phơng thức quản lý chất lợng hiện đại, các doanh nghiệp t nhân với quy mô
sản xuát vừa và nhỏ cũng thực hiện các công tác liên quan đến chất lợng qua các khâu
mua bán nguyên liệu kiểm soát các sản phẩm trong quá trình sản xuất.
+ Số lợng các doanh nghiệp Việt nam tham gia các hội thảo, hội nghị ,tập huấn
do Nhà nớc hoặc các tổ chức các nớc ngoài thực hiện ngày càng tăng.
+ Hoạt động quản lý chất lợng của Việt nam đã hoà nhập bớc đầu với thế giới
thông qua việc tiếp cận với các hệ thống quản lý chất lợng tiên tiến nh : TQM, chất l-
ợng và trình độ quản lý, xu hớng quản lý chất lợng vì con ngời.
Những thay đổi tích cực đó đã đa đến những thành công ban đầu cho doanh
nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp lụa chọ và áp dụng hệ thống quản lý chất l-
ợng.
Những quan điểm còn lệc lạc dẫn tới thực trạng sau :
lớp qtcl - k40

9
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
+ Hoạt động quản lý chất lợng trong một số doanh nghiệp còn mang tính tự phát,
thiếu sự nghiên cứu và định hớng khoa học.
+ Một số doanh nghiệp lúng túng trong việc lựa chon mô hình quản lý chất lợng.
Việc tổ chức quản lý chất lợng trong một số doanh nghiệp còn mang tính dò dẫm ,tự
phát cha có sự hơng dẫn và t vấn của cơ quan quản lý chất lợng Nhà nớc hay các tổ
chức công ty nớc ngoaì.
+Sự hiểu biết của các doanh nghiệp Việt nam về hệ thống chất lợng chua đồng
bộ. Trong đó : các doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài và công ty liên doanh có sự
hiểu biết sâu sắc hơn về các hệ thống TQM, ISO, HACCP, GMP và phần lớn các
doanh nghiệp đợc cấp chứng chỉ hiên nay thuộc loại này.
+ Các doanh nghiệp Nhà nớc có sự hiểu biết nhất định về các hệ thống chất lợng.
Nhiều doanh nghiệp đang phấn đấu đạt ISO 9000 hoặc triển khai TQM .Tuy nhiên
còn nhiều doanh nghiệp cha quan tâm đến vấn đề này do đang có lợi thế độc quyền về
sản xuất kinh doanh.
+ Các doanh nghiệp t nhân hoặc công ty TNHH với quy mô sản xuất vừa và nhỏ,
đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất ở địa phơng còn rất hạn chế trong sự hiểu biết
và áp dụng các hệ thoóng chất lợng.
+ Một số doanh nghiệp chỉ coi trọng vấn đề đợc cấp chứng chỉ chất lợng mà áp
dụng nh một phong trào mang tính đôí phó, không đi sâu vào bản chất của quản trị
chất lợng.
+ Do không đủ năng lực và trình độ, một số doanh nghiệp đã thực hiện làm hàng
nhái, hàng bắt trớc. Họ không tự tìm cho mình một con đờng thích hợp mà lợi dụng
uy tín của ngời khác đánh lùa ngời tiêu dùng còn chất lợng thực sự của sản phẩm họ
không quan tâm .
3.Năng suất chất lợng sản phẩm trong doanh nghiệp
Sự ảnh hởng đến năng suất chất lợng sản phẩm là nhân tố ngời lao động. Mặt dù
là một nớc có nguồn lao động trẻ dồi dào 38 triệu ngời nhng nớc ta chỉ có 17,8% lao
động đã qua đoà tạo, riêng đội ngũ công nhân lao động có 2,5 triệu ngời nhng chỉ có
400 công nhân bậc cao 36% công nhân kỹ thuật đợc dào tạo theo hệ chuẩn quốc gia
39,37% đợc qua đào tạo ngắn hạn , 24,63% cha qua đào tạo .Những công nhân có khả
năng điều hành ,đứng máy trong những dây truyền tự động hoá là cự kỳ khan hiếm.
Chất lợng của hoạt động quản lý cũng là một điểm yếu, chính do t duy quản lý từ
thời bao cấp còn rời rạc lại hay những định hớng quản lý theo kiểu tiểu thơng chỉ
nhằm vào lợi ích trớc mắt đã làm cho vấn đề năng suất chất lợng sản phẩm không đợc
chú trọng, số cán bộ có năng lực quản lý còn rất thiếu .
Một số vấn đề tồn tại nữa đối với việc năng cao năng suất chất lợng sản phẩm
tăng cờng khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt nam là do tỷ lệ phần trăm của
nguồn doanh thu dành cho tái đàu t, nghiên cứu và phát triển các sản phẩm mới của
các doanh nghiệp Việt nam là rất ít nếu không muốn nói là hầu nh không có .Trong
khi đó tỷ lệ dành cho nghiên cứu và phát triển ở các công ty nớc ngoài là 30% doanh
thu.
4.Cha có sự đào tạo hợp lý cho mọi ngời trong tổ chức về chất lợng
Trên thực tế cho thấy nhiều tổ chức, doanh nghiệp mà trình độ cán bộ còn nhiều
han chế đặc biệt là về kiến thức quản lý, quản lý chất lợng, ngoại ngữ điều này ảnh
hởng đến việc tiếp thu các phơng pháp mới về tổ chức quản lý sản xuất và khoa học
lớp qtcl - k40

10
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
kỹ thuật. Đó chính là cán bộ lãnh đạo cấp cao thiếu sự quan tâm đến bồi dỡng kiến
thức cho tổ chức mình đẻe nâng cao chất lợng cho tổ chức.
Công việc đào tạo là rất quan trọng trong việc đổi mới kiến thức của mỗi con
ngời. Nó cho thấy rằng những kiến thức của họ không thể đáp ứng đợc với tình hình
mới hiện nay và nếu nh không đợc đào tạo thì họ sẽ tụt hậu. Và ngày nay với sự phát
triển rất nhanh của nền kinh tế thì các doanh nghiệp Việt nam đã có sự thay đổi nhận
thức trong công tác đào tạo cán bộ công nhân viên của mình, họ cũng đã có những ch-
ơng trình đào tạo hợp lý để nâng cao tay nghề cho công nhân để bắt kịp vơí thời đại.
Nếu nh các doanh nghiệp không có chính sách đào tạo hợp lý thì trong tơng lai họ sẽ
bị phá sản. Do đó sự quan tâm đào tạo của các doanh nghiệp Việt nam từ trớc cho đén
nay là cha hợp lý đã dấn tới sự phát triển của các doanh nghiệp thấp kém từ trớc tớ
nay so với các doanh nghiệp ở trong khu vực. Chính vì vậy sự thay đổi nhận thức,
quan điểm của cán bộ lánh đạo cấp cao về đào tạo giáo dục trong các doanh nghiệp
Việt nam hiện nay là rất quan trọng. Nó thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp
trong tơng lai vào thị trờng thế giới và khu vực.

III. những biện pháp cơ bản trong đổi mơi công tác quản ly
chất lợng theo mô hình iso 9000
1.Giới thiệu hệ thống chất lợng theo ISO 9000
Những thay đổi gần đây trên thế giới đã tạo gia những thách thức mới trong kinh
doanh. Khách hàng ngày càng có những đòi hỏi đa dạng về mẫu mã, kiểu giáng và
chất lợng sản phẩm với giá cá rẻ nhất.Từ đó dẫn tới sự cạnh tranh quyết liệt giữa các
doanh nghiệp trong một quốc gia, giữa các doanh nghiệp của các quốc gia.
Một khi sản phẩm của các doanh nghiệp đã đủ sức phá lồng để sâm nhập thị
trờng quốc tế, sự sống còn phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản là giá cả và chất lợng.
Giá cả phải hạ nhng chất lợng phải cao mới tồn tại, giá cả hạ mà chất lợng kém
thì sản phẩm hàng hoá trở thành của ôi chỉ càng thêm thua lỗ về vận chuyển, kho
chứa và có thể còn chịu thêm cả tiền mai táng phí cho những lô hàng bị bắt buộc
bị loại bỏ!
Các cuộc khảo sát ở nhiều nớc công nghiệp cho thấy những doanh nghiệp thành
công trên thơng trờng phần lớ là do đã giả quyết tốt bài toán chất lợng .
Họ đã tìm ra bí quyết để thoả mãn khách hàng trong nớc và quốc tế. Sự phát
triển của khoa học công nghệ ngày nay cho phép các nhà sản xuất nhậy bén đủ khả
năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao vủa khách hàng, tạo ra lợi thế cạnh tranh.
Các nhà sản xuất cố gắng phát huy tối đa lợi thế của mình trong thơng trờng
mang tính toàn cầu hoá để cung cấp sản phẩm có chất lợng nh mong đơi của khách
hàng. Hiên nay các nguồn lực tự nhiên không còn là chìa khoá mang lại sự phồn vinh.
Nhiều quốc gia không có nguồn tài nguyên dồi dào đã bù đắp lại bằng lực lợng lao
động kỹ thuật cao đợc đào tạo và huấn luyện kỹ càng. Lịch sử hiện đại đã chứng minh
rằng một quốc gia không có lợi thế về tài nguyên vẫn trở thành quốc gia hàng đầu về
chất lợng và quản lý chất lợng. Việt nam là quốc gia có khá nhiều thuận lợi về tài
nguyên, nhân lực vá trí tuệ để vơn tới sự phồn vinh. Song điều đó có đạt đợc hay
không là nhờ vào sự ổ định chính trị và năng lực quản lý, phải mạnh dạn thay đổi từ
nếp nghĩ đến việc làm, phải biền lòng yêu nớc tinh thần dũng cảm, cần cù thành sự
say mê học hỏi, cải tiền quản lý, cải tiền công nghệ và sự hăng say lao động sáng tạo
để không ngừng tăng năng suất nâng cao chất lợng sản phẩm. Phải đa sản phẩm kể
cả sản phẩm trí tuệ của Việt nam lên một tầm cao mới, thoả mãn nhu cầu trong nớc
và xuất khẩu.
lớp qtcl - k40

11
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
Từ hội nghị chất lợng toàn quốc lần thứ nhất tổ chức tại Hà Nội tháng 8 năm
1995, một phong trào chất lợng rộng khắp đã đợc phát động. Danh mục các mặt hàng
đã tăng lên đáng kể, đặc biệt là đã có nhiều mặt hàng chất lợng cao, đợc ngời tiêu
dùng tín nhiệm. Từ con số không đến nay chỉ qua cha đày 6 năm số doanh nghiệp áp
dụng thành công hệ thống quản lý chất lợng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000 lên đến
gần 400 đơn vị. Việc áp dụng hệ thống bảo đảm chất lợng theo mô hình ISO 9000 bớc
đầu đã thay đổi nếp nghĩ, nếp làm việc trì trệ tuỳ tiện trớc đây bằng phơng pháp t duy
khoa học, chỉ đạo có kế hoạch, ý thức làm việc có trách nhiệm, có tìm tòi, sáng tạo
của mọi ngời trong tổ chức.
Để đảm bảo ngày càng nhiều doanh nghiệp nhận chứng chỉ ISO 9000 trong
những năm tới, việc cung cấp các kiến thức về ISO 9000 ( phiên bản năm 2000 ) là
công việc rất cần thiết .
Để thực hiện đợc phơng pháp hệ thống, hớng toàn bộ lỗ lực của công ty nhằm
thực hiện mục tiêu chung đã đề ra, cần có một cơ chế quản lý cụ thể và có hiệu lực -
nghĩa là xây dựng một hệ thống quản lý chất lợng.
Và Hệ thống quản lý chất lợng bao gồm các yếu tố sau :
- Cơ cấu tổ chức ;
- Thủ tục ;
- Quá trình ;
- Nguồn lực đảm bảo để thực hiện quản lý chất lợng ;
Hệ thống chất lợng nhằm boả đảm với khách hàng rằng họ sẽ nhận đợc những gì
mà hai bên đã thoả thuận.
Do đó Hệ thống chất lợng phải đáp ứng các yêu cầu sau :
- Xác định rõ sản phẩm và dịch vụ cùng các quy định kỹ thuật cho sản phẩm đó.
Các quy định này phải đảm bảo thoả mãn khách hàng
- Các yếu tố kỹ thuật, quản trị và con ngời có ảnh hởng đến chất lợng sản phẩm
phải đợc thực hịên theo kế hoạch đã định, hớng tới giảm, loại trừ và ngăn ngừa sự
không phù hợp.
Có thể tóm lợc toàn lợc công việc của công ty theo các quá trình sau :

Mọi quá trình đều có khách hàng và ngời cung cấp. Trong mối quan hệ bộ ba
giữa ngời cung cấp, doanh nghiệp và khách hàng hình thành chuỗi quan hệ với dòng
thông tin phản hồi nh sau :
lớp qtcl - k40

12
Quá trình
Đầu vào
Đầu ra
Giá trị gia tăng
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
Vì vậy, quản lý chất lợng thực chất là quản lý các quá trình trong doanh nghiệp.
Các quá trình đó cần đợc quản lý theo hai khía cạnh :
- Quản lý cơ cấu và vận hành của quá trình là nơi l thông dòng sản phẩm hay
thông tin.
- Quản lý chất lợng sản phẩm hay thông tin lu thông trong cơ cấu đó.
Mọi doanh nghiệp đều phải thực hiện gia tăng giá trị. Hoạt động đợc thực hiện
bởi một mạng lới các quá trình, nó không chỉ đơn giản là một dòng liên tiếp mà là
một hệ thống kết nối kiểu mạng nhện. Giữa các quá trình lại có các mối quan hệ, các
điểm tơng giao. Doanh nghiệp phải xác định rõ trong các quá trình ấy, đâu lá quá
trình chính, đặt yêu tiên cho nó và phối hợp mọi nỗ lực của doanh nghiệp để đạt đợc
các mục tiêu quản lý. Chính nhờ mang lới các quá trình mà doanh nghiệp mới tạo ra,
cải tiến và cung cấp sản phẩm luôn ổn định chất lợng theo yêu cầu của khách hàng.
Quản lý chất lợng theo hệ thống các quá trình nh vậy chính là nền tảng của bộ tiêu
chuẩn ISO 9000.
Giữa hệ thống chất lợng và mạng lới quá trình trong xí nghiệp có mối quan hệ
chặt chẽ. Hệ thống chất lợng đợc tiến hành nhờ các quá trình, các quá trình này tồn tại
cả bên trong và xuyên ngang các bộ phận chức năng. Cần nhớ rằng một hệ thống
không phải là phép cộng các quá trình, xác định các điểm tơng giao giữa các quá trình
ấy.
2.Con ngời là vấn đề quan trọng trong đổi mới quản lý chất lợng
Tất cả mọi công việc khi tiến hành đều phải bắt đầu từ con ngời. Do đó, con ngời
là yếu tố quyết định cho sự thành công trong mọi vấn đề. Vì vậy, trong quá trình đổi
mới quản lý, muốn sự đổi mới thành công ta phải làm thay đổi nhận thức của con ng-
ời, làm cho họ thấy đợc sự đổi mới là cần thiết cho công việc thì khi đó khi giao
nhiệm vụ cho mọi ngời thì họ mới có ý thức tiến hành công việc của mình, có trách
nhiệm với công vệc. Chính vì vậy việc quản lý con ngời là một trong những vấn đề
quan trọng nhất, tế nhị nhất không chỉ riêng cho lĩnh vực quản lý chất lợng mà cho
công tác quản lý nói chung. Chúng ta thờng thấy các chuyên gia t vấn chất lợng đều
nhấn mạnh dến vai trò quyết định của yếu tố con ngời. Không quản lý tốt con ngời
mọi phơng pháp đều không thể phát huy. Một trong những vấn đề quan trong của
TQM lá quản lý con ngời để mọi ngời hiểu rõ đợc công việc của mình, tự giác và đem
hết khả năng tham gia vào các hoạt động chung. Tuy nhiên, công việc khó khăn ấy có
làm đợc hay không, làm đợc đến đâu còn phụ thuộc vào quan điểm và biện pháp của
từng tổ chức, trớc hết là của tập thể lãnh đạo.
Trong lịch sử quản lý phơng tây cổ đại coi vật chất làm trọng, con ngời chỉ là
công cụ, thậm chí chỉ thấy vật chất mà không thấy con ngời. T tởng quản lý này đã đ-
ợc mệnh danh là vật bản . Tuy nhiên điều sai lầm ấy đã đợc sửa chữa mạnh mẽ ở
những thế kỷ gần đây. Sau đó t tởng nhân bản ngày cảng đợc coi trọng và đề cao.
Địa vị của con ngòi trong quản lý ngày càng đợc nổi bật. Khoa học nghiên cứu hành
vi, chủ yếu là phát huy tính tích cực của các cá thể ,nghiên cứu về nhu cầu cá thể, nhu
cầu của con ngời gọi là klhoa học hành vi đã gia đời. ở phơng đông t tởng dân bản
cũng không ngừng đợc phát huy. Thoạt nhìn ta thấy tởng trừng hai quan niệm này có
lớp qtcl - k40

13
Ngời cung cấp Doanh nghiệp Khách hàng
Yêu cầu
Phản hồi
Yêu cầu
Phản hồi
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
mâu thuẫn, nhng tựu trung chúng đều có mục đích là tăng cờng ở mừc cao nhất chủ
thể sáng tạo là con ngời, nhằm tạo ra một môi truờng vật chất phong phú, đa dạng để
phục vụ chính con ngời. Vào những thập kỷ 70, 80 trên cơ sở t tởng dân bản , ở
Nhật Bản đã hình thành nên văn hoá xí nghiệp - mà chủ yếu là văn hoá chất lợng. Các
bậc thầy chất lợng thế giới nh Đeming, Grosby, đã từng tổng kết rút ra từ tởng này
những bài học trong việc thực hành chất lợng của mình. Phải thừa nhận rằng quan
điểm nhân bản của phơng tây và quan điểm dân bản của phơng đông đợc vận
dụng trong lĩnh vực chất lợng đã tạo gia một cuộc cạnh tranh quyết liệt trong những
năm 80 giữa các hãng Xeox ( máy xao chụp), Harlay- Davidson (xe máy ) của Mỹ và
các hãng Honda của Nhật bản. Kết quả là công nghệ xao chụp và xe máy đợc nâng
lên một tầm cao mới, đã toạ ra những cuộc chạy đua quyết liệt về chất lợng sản phẩm
giữa các quốc gia, giữa các công ty, các tập đoàn trên toàn thế giới.
Rõ ràng, không một quan điểm nào, một hệ t tởng chủ đạo nào lá hoàn mỹ. Mỗi
một quan điểm đều có những mặt tích cực và đều có những hạn chế nhất định. nếu coi
trọng tập thể thì vai trò cá nhân sẽ lu mờ, cá nhấn sẽ lệ thuộc vào tập thể, khả năng
sáng tạo, năng động của cá nhân sẽ suy giảm. nếu mọi cá nhân đều nh vậy thì cả tập
thể sẽ thiếu sức sống, xí nghiệp chậm phát triển. Ngoài ra điều này còn dẫn tới sự
sùng bái quyền uy, ỷ lại vào tổ chức, lãnh đạo, ít chựu sự suy nghĩ. Các thiếu sót này
dễ nhận thấy trong quản lý xí nghiệp của chúng ta. Sự thực, quan hệ giữa con ngời với
tập thể là quan hệ giữa cá thể với tập thể. Mỗi con ngời không thể thoát ly đợc khỏi
xã hội. Vấn đề là phải biết giải quyết mối quan hệ này nh thế nào cho thích hợp.
Nếu quá nhấn mạnh vai trò cá nhân - nhân bản thì nh các cụ thờng nói một
cây làm chẳng lên non. Mỗi cá thể dù là một nhà khoa học, nhà quản lý tài ba, cũng
không chỉ đơn phơng độc mã mà làm nên sự nghiệp .
Dới đây ta xét một khía cạnh trong quản lý con ngời :
Lý thuyết XY
Các nguyên tắc cơ bản con ngời có thể phân làm hai nhánh.
Nhánh thứ nhất theo định hớng nhân văn rất phổ biến ở thập kỷ 40, 50 đợc gọi là
quan hệ nhân văn hay quan hệ con ngời.
Nhánh hai gọi là khoa học hành vi, ra đời trong những năm 50 còn tiếp tục cho
đến nay.
Khoa học hành vi dựa trên các nghiên cứu về tâm lý học, xã hội học. Các kết quả
nghiên cứu cho thấy con ngời không chỉ bị ảnh hởng bởi những điều kiện vật chất mà
còn bởi các yếu tố tinh thần.
Năm 1960, Mc.Gregon cho ra đời lý thuyết XY của quản lý dựa trên sự đối ngợc
nhau về bản chất con ngời. Ông cho rằng con ngời có hai loại.
Loại X có bản chất là :
1. Ngời công nhân bình thờn, có bản chất lời vá làm càng ít càng tốt ;
2. Vì công nhân lời nên họ phải đợc kiểm soát, phạt, thởng tuỳ theo nhu cầu
của công ty ;
3. Công nhân không có tham vọng , hoài bão ,không có trách nhiệm , quen chỉ
đâu, đánh đấy và thờng chọn phơng pháp nào là an toàn nhất cho bản thân ;
Loại Y có bản chất là :
lớp qtcl - k40

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét