LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Thực trạng quan hệ phân phối ở nứoc ta hiện nay và những giải pháp hoàn thiện quan hệ phân phối ở nứoc ta hiện nay": http://123doc.vn/document/546318-thuc-trang-quan-he-phan-phoi-o-nuoc-ta-hien-nay-va-nhung-giai-phap-hoan-thien-quan-he-phan-phoi-o-nuoc-ta-hien-nay.htm
Lợi ích kinh tế vừa mang tính chất khách quan vừa mang tính chủ quan. Nó mang
màu sắc khách quan bởi vì nó luôn tồn tại và vận động. Thông qua sự vận động
của các quy luật kinh tế do nó trực tiếp sinh ra mà quan hệ sản xuất ảnh hởng tới
quá trình sản xuất. Còn nó mang màu sắc chủ quan là ở chỗ nó biến các tác động
khách quan của các quy luật kinh tế thành các động cơ hành đọng kinh tế cử con
ngời.
Lợi ích kinh tế có vai trò quan trọng là động lực mạnh mẽ đối với sự phát
triển của xã hội. Những hình thức chủ yếu của lợi ích kinh tế trong hệ thống này
luôn đợc đặc trng bằng tính đại diện và tính thống nhất giữa ba nhóm lợi ích cơ
bản.
Đó là lợi ích nhà nớc, lợi ích tập thể lợi ích và lợi ích của bản thân ngời lao
động. Sự thống nhất giữa các hình thức lợi ích kinh tế khác nhau trong xã hội sẽ
dẫn đến sự liên hệ chặt chẽ và thâm nhập nhau giữa chúng. Trong đó lợi ích cá
nhân trực tiếp là động lực mạnh mẽ nhất đối với sự phát triển của xã hội.
Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ đã nói lên sự
không đồng nhất về lợi ích kinh tế xã hội. Tuy nhiên đây là một xu thế tất yếu bởi
điểm xuất phát đi lên là thấp trong khi đó yêu cầu hội nhập quốc tế là cách duy
nhất để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá. Tơng ứng với quá trình
đó, trong nền kinh tế sẽ có nhiều quy luật vận động. Các quy luật kinh tế phát sinh
trên cơ sở những quan hệ kinh tếa tơng ứng và cũng trực tiếp quy định sự hình
thành các lợi ích kinh tế của từng giai cấp từng tầng lớp dân c trong xã hội. Tuy
nhiên bên cạnh sự thống nhất giữa các lợi ích kinh tế cơ bản, không loại trừ những
mâu thuẫn giữa chúng cũng nh trong phạm vi mỗi nhóm lợi ích. Vì vậy cần phải
phát hiện kịp thời các mâu thuẫn giữa các lợi ích và tìm cách giải quyết các mâu
thuẫn đó.
Việc giải quyết các quan hệ về lợi ích kinh tế đợc thực hiện thông qua quan
hệ phân phối. Khi phơng thức sản xuất còn phù hợp (lợi ích của giai cấp thống trị
còn phù hợp với lợi ích của xã hội) thì ngời ta còn bằng lòng với sự phân phối của
xã hội. Nhng khi nó thoái trào thì không còn điều kiện để tồn tại phân phối bởi phân
phối khi đó đã không còn là công cụ đẩm bảo cho sự công bằng xã hội, bất công
ngày càng sâu sắc đẫn đến đấu tranh xã hội và cuối cùng là một phơng thức sản
xuất mới ra đời. Nh vây quan hệ phân phối mang tính lịch sử và thớc đo mức độ tiến
bộ của một hình thái xã hội. Nó chỉ có thể thay đổi khi quan hệ sản xuất đẻ ra quan
hệ phân phối đó mất đi - đó là thông qua cách mạng xã hội.Bởi trong mỗi hình thái
kinh tế thì quan hệ phân phối giải quyết những mâu thuẫn về lợi ích kinh tế và đến
khi nào nó không thể giải quyết đợc nữa thì tất yếu sẽ bị thay thế bằng hình thức
phân phối khác cho phù hợp.
1.3. Các hình thức phân phối ở nớc ta hiện nay
Đại hội đai biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định và Đại hội
Đảng lần thứ IX cũng tiếp tục khẳng định nền kinh tế nớc ta trong thời kỳ quá độ
là nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nớc ,tơng ứng với nó là
nhiều hình thức phân phối nhng lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả
kinh tế là chủ yếu , đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp nguồn lực khác vào
kết quả sản xuất - kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội.
Trong nền kinh tế này xuất hiện nhiều chủ thể kinh tế khác nhau với các
hình thức sở hữu khác nhau và cũng vì lẽ đó mà xuất hiện nhiều phơng thức phân
phối khác nhau.Mỗi thành phần kinh tế có phơng thức sản xuất kinh doanh khác
nhau nên kết quả kinh doanh khác nhaudo đó cần các hình thức phân phối khác
nhau
Vì vậy ở nớc ta hiện nay không thể tồn tại một hình thức phân phối duy
nhất
1.3.1. Phân phối theo lao động
Trong thời kỳ quá độ hiện nay ,hình thức phân phối theo lao động là hình
thức phân phối căn bản , là nguyên tắc phân phối chủ yếu và thích hợp nhất với các
thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu về t liệu sản xuất (kinh tế nhà n-
ớc)hoặc các hợp tác xã cổ phần mà góp vốn của các thànhviên bằng nhau (kinh tế
hơp tác )
Phân phối theo lao động là hình thức phân phối căn bản, là nguyên tắc phân
phối chủ yếu thích hợp nhất với các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu công
hữu về t liệu sản xuất. Do đó dựa trên cơ sở của chế độ công hữu về t liệu sản xuất
mà chế độ ngời bóc lột ngời bị xoá bỏ.Ngời lao động làm chủ những t liệu sản xuất
nên tất yếu cũng làm chủ phân phối theo thu nhập . Lao động đang trở thành cơ sở
quyết định địa vị và phúc lợi vật chất của mỗi ngời. Chính vì vậy mà phân phối theo
lao động là phù hợp với quan hệ sản xuất của các thành phần kinh tế đang tồn tại ở
nớc ta.
Trớc đây nớc ta đã thực hiện sự phân phối bình quân là phân phối cho mỗi
ngời một lợng sản phẩm nh nhau, không phân biệt mức đóng góp của từng ngời
vào sản xuất xã hội. Phân phối bình quân đã gây ra sự bất hợp lý và tiêu cực
trong xã hội.Trong thời kỳ quá độ ở nớc ta hiện nay thì phân phối theo lao động là
hình thức thức căn bản, là nguyên tắc phân phối chủ yếu thích hợp nhất với các
thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu công hữu về t liệu sản xuất. Trong
thành phần kinh tế này tất cả mọi ngời dều có quyền bình đẳng đối với t liệu sản
xuất, thì chỉ có thể thực hiện phân phối giữa những ngời lao động với nhau thông
qua việc láy lao động làm thớc đo. Đối với các thành phần kinh tế thì việc phân
phối theo lao động là một điều tất yếu. Bởi nhiều nguyên nhân:
Nhờ dựa trên chế độ công hữu mà chế độ ngời bóc lột ngời bị xoá bỏ.
Quyền làm chủ về mặt kinh tế đợc xác lập. Lao động đang trở thành cơ sở quyết
định địa vị xã hội và phúc lợi vật chất của mỗi ngời.Chính vì vậy mà phân phối
theo lao động và phù hợp với các thành phần kinh tế đang tồn tại ở nớc ta hiện
nay.
Lý do thứ hai khiến phân phối theo lao động là cần thiết là: trình độ phát
triển của lực lợng sản xuất còn thấp, cha có đủ sản phẩm để phân phối theo nhu
cầu. Tiếp đó là sự khác biệt về tính chất và trình độ lao động Dẫn đến mỗi ngời
có cống hiến khác nhau đến kết quả lao động do đó phải căn cứ vào lao động đã
cống hiến cho xã hội để phân phối.
Thêm một nguyên nhân nữa cho thấy sự cần thiết phải phân phối theo lao
động là lao động cha trở thành nhu cầu của cuộc sống, nó còn là phơng tiện để kiếm
sống, còn là
nghĩa vụ
,,
và quyền lợi của mỗi công dân. Hơn nữa còn những tàn d về
t tởng của xã hội cũ nh thái độ
muốn trút bỏ gánh nặng cho ngời khác, làm ít hởng
nhiều
,,
. Do đó cần phải có hình thức phân phối để các thành viên trong xã hội dựa
vào đó là cơ sở, động lực trong các hoạt động của mình.
Nh vậy việc phân phối theo lao động là một điều tất yếu và phù hợp với
hoàn cảnh của đất nớc ta hiện nay, phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Nguyên tắc thực hiện phân phối theo lao động là phải lấy kết quả lao động
làm thớc đo để phân phối sản phẩm tiêu dùng cá nhân. Lấy số lợng lao động và
chất lợng lao động của mỗi ngời làm căn cứ trả công. Tuy nhiên nguyên tắc này
phải gắn liền với yêu cầu đảm bảo công ăn việc làm cho những ngời có năng lực
lao động, và tất yếu không thể nằm ngoài yêu cầu đảm bảo những nhu cầu cơ bản
về đời sống vật chất tinh thần của ngời lao động.
Trong quá trình phân phối theo lao động cần chống hai sai lầm cơ bản khi
thực hiện, đó là chủ nghĩa bình quân tiểu t sản trong việc trả công lao động, vì nó
gạt bỏ hoàn toàn nuyên tắc lợi ích vật chất, kìm hãm động lực lao động của ngời
lao động. Thứ hai là khuynh hớng đòi mở rộng quá mức khoảng cách giữa các bậc
lơng, thang lơng một cách không có căn cứ kinh tế và những đòi hỏi có sự u đãi
đặc biệt đối với một số ngời.
Thực hiện tốt phân phối theo lao động sẽ có nhiều tác dụng to lớn đối với xã
hội và bản thân ngời lao động. Bởi lẽ nó đáp ứng đợc những đòi hỏi cấp bách của sự
công bằng xã hội đang đặt ra ở nớc ta, nó kết hợp chặt chẽ lợi ích của sản xuất xã
hội với lợi ích của từng cá nhân lao động. Nó khuyến khích ngời lao động đi sâu
vào nghề nghiệp chuyên môn làm cho đội ngũ lao động lành nghề ngày càng đông
đảo. Điều đó còn thúc đẩy ngời lao động ra sức học tập văn hoá kỹ thuật, góp phần
làm cho sự khác biệt giữa lao động trí óc và lao động bằng chân tay bị xoá bỏ dần.
Tạo điều kiện cho việc phân bổ và sử dụng nguồn sức lao động đợc ổn định trong cả
nớc đảm cho sản xuất xã hội cân bằng và có kế hoạch. Thêm vào đó nó góp phần
giáo dục về quan điểm, thái độ và kỷ luật lao động đối với mỗi thành viên xã hội.
Nó làm cho bản thân ngời lao động vì lợi ích vật chất của mình mà quan tâm đến
kết quả lao động của mình , từ đó ra sức mà đẩy mạnh sản xuất.
Tuy nhiên để thực hiện đợc mục tiêu
làm theo năng lực hởng theo nhu cầu
,,
thì còn nhiều việc phải làm. Bởi theo Mac phân phối theo lao động vẫn là một thứ
pháp quyền t sản, quyền bình đẳng vẫn nằm trong khuôn khổ t sản, tức là trong xã
hội sản xuất hàng hoá đợc thực hiện theo nguyên tắc trao đổi ngang giá và quyền
của ngời lao động tỷ lệ với lao động ngời ấy cung cấp thì điều đó vẫn còn thiếu xót.
Bởi vởi với một công việc ngang nhau một phần tham dự nh vào quỹ tiêu dùng xã
hội nhng trên thực tế ngời này vẫn đợc hởng nhiều hơn ngời kia.
Chế độ phân phối theo lao động vẫn còn những thiếu xót nhng đó là những
thiếu xót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa công sản. Nếu nh
trong xã hội t bản phân phối dựa trên cơ sở
ngời có của, kẻ có công
,,
thì trong xã
hội XHCN đợc dựa trên nguyên tắc
ngời làm nhiều hởng nhiều, ngời làm ít hởng
ít, không làm kong hởng
,,
đó là bình đẳng. Mặc dù còn tồn tại thiếu xót nhng với tác
dụng của mình thì phân phối theo lao động vẫn là hình thức phân phối phù hợp nhất
trong điều kiện vừa thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá vừa đảm bảo công
bằng cho các thành viên trong nền kinh tế hoạt động có hiệu quả.
1.3.2. Phân phối theo tài sản hay vốn và những đóng góp khác
Bên cạnh việc thực hiện phân phối theo lao động thì nớc ta còn sử dụng hình
thức phân phối theo tài sản hay vốn và những đóng góp khác. Nền kinh tế nớc ta
trong bớc quá độ định hớng lên chủ nghĩa xã hội . Với cơ cấu nhiều thành phần
,nên tất yếu co nhiều hình thức sở hữu về t liệu sản xuất và cũng sẽ xuất hiện nhiều
hình thức sản xuất kinh doanh khác nhau
Một đặc điểm rõ nét của nớc ta trong quá độ định hớng lên CNXH từ một
nền sản xuất nhỏ là tình trạng thiếu vốn phân tán vốn. Quá trình sản xuất, tích tụ và
tập trung vốn cha cao, một phần tơng đối lớn vốn vốn sản xuất hiện nay còn nằm rải
rác ,phân tán trong tay ngời t hữu nhỏ ,t sản nhỏ ,trong đó có cả dới dang jt liệu sản
xuất , vàng bạc ngoại hối và tiền mặt vv . Để sử dụng nguồn vốn đó cho sản xuất
thì không thể sử dụng cá chính sách ắp đặt nh trng thu, trng mua hoặc đóng góp cổ
phần một cách bình quân. Từ sau nghị quyết hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành
trung ơng (khoá VI) thì ở nớc ta đã xuất hiện các biện pháp huy động vốn của dân
c dới các hình thức vay vốn, hùn vốn và góp cổ phần không hạn chế, với mức lãi
suất hợp lý. Cách làm nh vậy có tác dụng đa đợc vốn nhàn rỗi đi vào chu chuyển.
Qua đó kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể nắm quyền sử dụng một nguồn vốn to
lớn hơn nhiều nguồn vốn tự có. Nh vậy mặc dù sở hữu vốn là t nhân, nhng việc sử
dụng vốn đã mang tính xã hội. Xét tình hình đất nớc ta thì cần phải tạo điều kiện
pháp lý cho các thành phần kinh tế t nhân cá thể và tất cả mọi thành viên trong xã
hội yên tâm và mạnh dạn đầu t vốn và sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó thực hiện
phân phối kết quả sản xuất kinh doanh theo vốn và theo tài sản của mỗi cá nhân
đóng góp vào quá trình sản xuất xã hội dơí hình thức lợi tứcvà lợi nhuận và đợc
coi là hình thức phân phối hợp pháp và đợc sự bảo hộ của pháp luật. Do sự liên
doanh liên kết giữa các thành phần kinh tế, giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh
nên đã xuất hiện các công ty liên doanh, các xí nghiệp cổ phần. ở các loại xí nghiệp
này, việc phân phối dựa trên cơ sở vốn cổ phần, dới hình thức lợi tức cổ phần. Phân
phối thu nhập dới hình thức lợi tức tiền gửi của các cá nhân hoặc tập thể vào ngân
hàng.
1.3.3. Phân phối thông qua phúc lợi tập thể , phúc lợi xã hội
Phân phối theo lao động và phân phối theo tài sản và vốn đều là tất yếu khách
quan trong quá độ hiện nay ở nớc ta , vì các hình thức phân phối đó đều nhằm mục
đích thúc đẩy nền sản xuất phát triển và tạo lập sự công bằng xã hội giữa mọi thành
viên trong xã hội. Nhng trong điều kiện cụ thể của nớc ta hiện nay , nhng ngoài
những ngời khoẻ mạnh có khả năng lao động và đang lao động, đợc trả công theo
lao động, những có vốn và tài sản đóng góp vào qúa trình sản xuất để đợc nhận lợi
tức và lợi nhuận, thì trong xã hội còn có những ngời vì lẽ này hay lẽ khác, không thể
tham gia vào lao động đợc trả công của xã hội. Đời sống số đông ngời này đợc gia
đình đảm bảo. Mặt khác, ngay cả mức sống của cán bộ công nhân viên chức Nhà n-
ớc và những ngời làm việc trong tất cả các thành phần kinh tế cũng không chỉ dựa
vào tiền công cá nhân. Bởi mức tiền công theo qui định của Nhà nớc cha đảm bảo đ-
ợc mức sống. Họ phải dựa một phần vào các quĩ phúc lợi công cộng của Nhà nớc,
của các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế xã hội khác.
Vì vậy mà ngoài việc phân phối theo lao động, theo tài sản và theo vốn thì
trong xã hội còn tồn tại hình thức phân phối ngoài thù lao lao động, thông qua quĩ
phúc lợi xã hội. Đây không phải là phân phối theo nhu cầu, cũng không phải là phân
phối là phân phối theo lao động mà đây mới chỉ là phân phối của thời kỳ quá độ mà
thôi. Đây là hình thức phân phối bổ sung cần thiết và quan trọng đối với nguyên tắc
phân phối theo lao động. Nó thích hợp với việc thoả mãn những nhu cầu công cộng
của xã hội. Nó có lợi trớc hết cho những gia đình mà thù lao lao động tính theo đầu
ngời tơng đối thấp. Nó không những bảo đảm cho tất cả mọi thành viên trong xã hội
đều có mức sống bình thờng tối thiểu mà còn có tác dụng kích thích lao động sản
xuất, kích thích sự phát triển toàn diện của mọi thành viên trong xã hội. Đây là hình
thức phân phối của thời kỳ quá độ, nó góp phần thúc đẩy sự phát triển của một đất
nớc.
Cả ba hình thức phân phối trên đều là những hình thức phân phối cơ bản ở n-
ớc ta hiện nay trong đó phân phối theo lao động giữ vai trò chủ đạo.Phân phối ngoài
thù lao lao động qua các quĩ phúc lợi xã hội ngày càng trở nên quan trọng trong quá
trình phát triển xã hội. Đồng thời phân phối theo tài sản, vốn và những đóng góp
khác ngày nay cũng trở thành một tất yếu, hợp qui luật.
1.4. Kinh nghiệm một số nớc về quan hệ phân phối
1.4.1. Singapore
Là một đất nớc giầu có và có thu nhập cao sự tăng trởng kinh tế cao và liên
tục trong nhiều thập niên đã làm cho việc xoá bỏ nghèo khổ ở đây ít nan giải hơn tỷ
lệ nghèo tuyệt dối giảm từ19 % xuống còn chỉ 13 %. Trong những năm gần đây,
chính phủ Singapore đã có những cố gắng đáng khể để tăng kỹ năng và chất lợng
của toàn bộ lực lợng lao động. Chi phí cho giáo dục tăng nhanh từ đầu năm 80 trở
đi, chủ yếu là tập chung vào các lĩnh vực đào tạo chuyên ngành.
ở Singapơre có sự can thiệp của nhà nớc về thị trờng lao động và giáo dục có
tác dụng tạo nên nguồn vốn nhân lực trong các hộ gia đình và cá nhân. Các biện
pháp trên tuy không trực tiếp loại bỏ mức thu nhập thấp và những bất bình đẳng về
của cải. Nhng nó đã giúp cho mọi cá nhân có cơ hội công suất phản kháng đợc việc
làm tốt với mức thu nhập xứng đáng.
1.4.2. Malayxia
ở Malayxia trong những thập niên 60 70 sự phát triển kinh tế kèm theo
sự gia tăng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập những nhà t sản ngời hoa và các
quan chức hành chính, chính trị ngời Malay là những ngời đợc hởng thụ phần lớn
kết quả của sự tăng trởng kinh tế nhanh của những năm 60 . Hậu quả là các quan hệ
xã hội trở nên hét sức căng thẳngcác vụ bạo động lật đổ đã nổ ra vào cuối những
năm đó. Khi những ngời đợc gọi là TURKS trẻ nên nắm chính quyền đã đa ra
chính sách kinh tế mới, tạo điều kiện về mặt kinh tế xã hội nhằm đạt đợc sự đoàn
kết dân tộc trên cơ sở chính sách tái phân phối thu nhập công bằng hơnnhờ đó mà tỷ
lệ ngời nghèo ở Malayxia đã giảm từ 49,3 % xuống còn 17,3 %. Tuy nhiên việc
giảm tỷ lệ nghèo ở Malayxia chủ yếu là kết quả của mức tăng trởng kinh tế cao liên
tục trong nhiều năm chứ không phải do thu nhập nhiều hơn. ở Malayxia chi phí từ
ngân sách cho các hoạt động xã hội tăng liên tục từ 18 % trong suốt thời kỳ 1970
đến 37 % trong thời kỳ 1988. Trong các dịch vụ xã hội thì giáo dục đợc dành vị trí u
tiên hàng đầu, tiếp theo là nhà ở, y tế và các dịch vụ chung. Nhờ nỗ nực của chính
phủ và sự phát triển kinh tế chủa xã hội nói chung tỷ lệ học sinh sơ cấp tăng từ 88 %
lên 96,4 %. Các chỉ số về y tế nh tỷ lệ sinh tỷ lệ chết tuổi thọ trung bình đều có
những tiến bộ đáng kể. Tuy nhiên , việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của
những ngời nghèo vẫn còn là vấn đề cần quan tâm.
1.4.3. Inđônêxia
ở Inđônêxia các vấn đề đợc quan tâmchủ yếu là giáo dục và tạo việc làm.Từ
những năm 60 chính phủ ở đây đã tiến hành các chính sách nhằm tăng cờng việc
làm ở khu vực nông thôn với một phần kinh phí do nhà nớc cấp,phần còn lại do các
chơng trình viện trợ.Nhờ chơng trình này mà giai đoạn từ1976 đến 1987 số dân
sống dới mức nghèo khổ đã giảm từ 54.000.000 xuống còn 30.000.000.tỉ lệ nghèo
khổ ở nông thôn giảm nhanh hơn so với ở thành thị.Tại quốc gia này các tổ chức phi
chính phủ có đóng góp to lớn trong việc tiếp cận,giúp đỡ tầng lớp nghèo khổ dới các
hình thức nh:t vấn,giúp đỡ sản xuất, huấn luyện nghiên cứu Hoạt động của các tổ
chức này đã ghóp phần giảm bớt gành nặng cho chình phủ Indonexia do có một số
nơi mà hệ thồng quản lí của chính phủ cũng không thể với tới đợc.Với t cách là ngời
trung gian họ chuyển những nguyện của ngời nghèo đến với chính phủ sở tại.
1.4.4. Philippin
Khi nghiên cứu tình trạng nghèo khổ ở Philippin các nhà kinh tế đã chỉ ra
một số nguyên nhân sau:
+.Nguồn cung cấp lao động tăng nhanh dẫn tới thất nghiệp và lơng thấp.
+.Mô hình đầu t công nghiệp với cờng độ vốn tăng nhanh đã làm giảm khả năng
thu hút lao động
+.Sự thiếu hụt về việc làm đã dẫn đến tình trạng nguồn nhân lực nông thôn
không chuyển đợc sang các nghành thứ yếu khác.
+.Sự phân phối đất đai khá chênh lệch.
+.Những sai lầm trong chiến lợc công nghiệp hoá nh:bảo hộ quá mức,tập trung
quá nhiều nguồn lực vào trong thành phố
Trên đây là một số vấn đề mà Philippin gặp trong việc phân phối .Thậm chí
trong chiến lợc công nghiệp hoá hiện đại hoá Philippin cũng tập trung quá nhiều
vào thành thị,chính sách phân phối có lợi cho ngời có thu nhập cao.Hệ thống thuế
chủ yếu dựa vào thuế gián thu.Các gia đình có thu nhập cao chỉ phải đóng
12%,trong đó các gia đình có thu nhập thấp lại phải đóng tới 20%.Chơng trình giảm
nghèo khổ có mục đích chính là thực hiện một sự phân phối công bằng hơn trên cơ
sở phân phối một cách hợp lí hơn.
1.4.5. Thái lan
Thái lan vẫn đợc coi là ít có sự can thiệp của chính phủ vào đời sống kinh
tế hơn cả . Thái lan đã thành công trong việc phát triển kinh tế .Tốc độ tăng trởng
nhanh , tỷ lệ sinh đẻ hạ từ 3,3 trong ba thập kỷ đầu xuống còn 2,2 hiện nay đã làm
thu nhập đầu ngời tăng một cách ổn định . Tuy nhiên sự nghèo khổ ở đây vẫn thể
hiện rõ nét , có sự bất công bằng lớn giữa nông thôn và thành thị , giữa các khu
vực , chênh lệch về thu nhập ngày càng gia tăng .
Tuy nhiên Thái lan cung đạt đợc nhièu thành tựu trong việc cung cấp các dịch
vụ cơ bản dới nhiều hình thức phong phú nh phúc lợi bằng tiền mặt , bằng hiện vật ,
phúc lợi trẻ em và thanh niên ,trợ giúp việc làm phúc lợi cho ngời có tuổi
Tóm lại các chiến lợc công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu ở các nớc
ASEAN đã thất bại chủ yếu do phân phối thu nhập không đều.Chính vì việc phân
phói không đều đã bó hẹp thị trờng nội địa không chỉ do đông đảo quần chúng
nghèo khổ mà còn do những ngòi có thu nhập cao thờng mua hàng ngoại , hoặc
tiêu dùng những sản phẩm đơn lẻ.Qua đó đã chứng minh rằng ,giữa tăng trởng kinh
tế và phân phối thu nhập có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn
nhau .Tăng trởng kinh tế không chỉ dẫn đến sự giàu có chung của đất nớc , mà còn
tạo điều kiện thuận lơi để giúpcácnhóm có thu nhập thực hiễn xoá đói giảm ngheo
mặt khác không thể có tăng trởng kinh tế kéo dài nếu không áp dụng các chinh sách
phân phối thu nhập công bằng hơn
Thành công của các nớc này thờng đi kèm với sự gia tăng vững chắc của
tiền lơng thực tế năng xuất và sự tham gia vào các hoạt kinh tế của đại đa số dân
chúng.Một bài học chung rút ra từ thực tế các nớc ASEAN là thành công trong phát
triển phụ thuộc vào sự can thiệp một cách có hiệu quả của nhà nớc vào đời sống
thực tế và lợi ích của đại bộ phận nhân dân.
+ Phát triển ,hoàn thiện lực lợng sản xuất ngày một tốt hơn trong thời gian tới về
mọi mặt .
+ Hoàn thiện chính sách tiền lơng,bình quân chống chủ nghĩa bình quân và thu
nhập bất chính.Trong vấn đề này,vai trò của chính phủ là phải gắn vhặt tiền
công,tiền lơng với ngời lao động nhằm tờng bớc thực hiện hpân phối công bằng hợp
lí.Nghiêm trị những kẻ có thu nhập bất chính,chúng ta phải từng bớc tiền tệ hoá tiền
lơng,xoá bỏ những đặc quyền, đặc lợi trong phân phối
+ Điều tiết thu nhập dân c giữa các khu vực khác nhau.Trong hoàn cảnh kinh tế
nh hiện nay chúng ta phải thừa nhận sự chênh lệch thu nhập giữa các tổ chức với
nhau.Tuy vậy vai trò của nhà nớc là phải làm giảm đi phần nào sự chênh lệch
đó.Điều tiết thu nhập là một yêu cầu khách quan ở bất kì chế độ nào nhằm duy trì
và ổn định xã hội.Điều tiết thu nhập thông qua các hình thức nh:thuế thu nhập,tự
nguyện đóng góp vào các quỹ phú lợi xã hội
+ Khuyến khích làm giàu một cách hợp pháp.Mục tiêu hàng đầu của nớc ta là
dân giàu,nứơc mạnh,xã hội công bằng,dân chủ,văn minh.Chính phủ luôn khuyến
khích mọi ngời dân,mọi tổ chức kinh tế làm giầu một cách hợp pháp.Ngoài ra
chúng ta còn thực hiện các chính sách xoá đói,giảm nghèo,đền ơn đáp nghĩa đối với
các gia đình chính sách.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét