LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu nông sản việt nam sang thị trường các nước asean của công ty xuất nhập khẩu intimex": http://123doc.vn/document/1054049-thuc-trang-va-giai-phap-day-manh-xuat-khau-nong-san-viet-nam-sang-thi-truong-cac-nuoc-asean-cua-cong-ty-xuat-nhap-khau-intimex.htm
sản. Do điều kiện khí hậu 2 mùa rõ rệt nên đã tạo nên ngành nông nghiệp Việt
Nam 2 mùa thu hoạch: vụ mùa và vụ chiêm. Do nông sản có tính thời vụ vì
vậy quá trình sản xuất, buôn bán nông sản Việt Nam cũng mang tính thời vụ.
Từ đó tạo nên sự cung theo mùa có nghĩa là khi chính vụ thì hàng nông sản
dồi dào, chủng loại đa dạng, chất lợng tốt, giá bán rẻ (cung >cầu) nhng khi
trái vụ nông sản lại trở nên khan hiếm, số lợng ít, chất lợng không cao, giá lại
cao (cung<cầu).
Nông sản Việt Nam khi thu hoạch thờng có chất lợng cao nhng do
không đợc bảo quản dự trữ và chế biến đúng quy cách, kỹ thuật nên khi xuất
khẩu thì thờng xuất khẩu hàng thô hoặc qua sơ chế hay có đợc chế biến thì
chất lợng sản phẩm không cao, không đạt các tiêu chuẩn do vậy thờng bán với
giá rẻ.
Hàng nông sản phụ thuộc rất lớn vào thời tiết, khí hậu, địa lý Năm
nào có ma thuận gió hoà thì cây cối phát triển, năng suất cao, hàng nông sản
đợc bày bán tràn ngập trên thị trờng. Năm nào thời tiết khắc nghiệt, bão, lũ
lụt, hạn hán xảy ra thờng xuyên nông sản mất mùa lúc đó thì hàng nông sản
khan hiếm, chất lợng lại không cao, do không có hàng bán nên cung < cầu,
lúc này giá bán lạI rất cao. Hàng nông sản chủ yếu là phục vụ nhu cầu ăn
uống của ngời tiêu dùng cuối cùng vì thế chất lợng của nó tác động trực tiếp
tới tâm lý, sức khoẻ ngời tiêu dùng trong khi đó khâu bảo quản, dự trữ chế
biến hàng nông sản của nớc ta vừa thiếu lại vừa yếu nên hàng nông sản của
Việt Nam khi bán trên thị trờng thì giá thờng thấp hơn các nớc trong khu vực
và thế giới.
Với điều kiện khí hậu nớc ta rất phù hợp với nhiều loại cây trồng do đó
chủng loại hàng nông sản của nớc ta rất đa dạng, phong phú, một số loại cây
trồng cho năng suất rất cao tạo ra chất lợng hàng hoá cũng phong phú và đa
dạng. Nớc ta là nớc nông nghiệp với hơn 70% dân số là làm nông nghiệp do
vậy cây nông sản đợc trồng ở khắp mọi nơi trên đất nớc nhng do khác nhau về
tự nhiên, địa lý mỗi vùng thích hợp cho một hoặc một vài loại cây trồng khác
nhau, mỗi vùng sử dụng một phơng thức sản xuất khác nhau và trồng những
giống cây khác nhau. Do vậy tạo nên những loại hàng hoá khác nhau và chất
lợng hàng hoá khác nhau.
Tóm lại, nông sản Việt Nam rất đa dạng, phong phú về chủng loại, chất
lợng cao đợc rất nhiều nớc trên thế giới và khu vực a chuộng. Nhng do nền
kinh tế của nớc ta cha phát triển nên khâu bảo quản, dự trữ rất yếu kém và
ngành chế biến cha đợc đầu t đúng mức. Do đó hầu hết hàng nông sản Việt
Chuyên đề thực tập Nguyễn Thị Huyền TMQT 42
Nam xuất khẩu sang thị trờng khu vực và thế giới chủ yếu là hàng thô và th-
ờng bị ép giá nên giá trị xuất khẩu không cao.
Do vậy, vấn đề bảo quản, dự trữ, chế biến là rất quan trọng, nó ảnh hởng
trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Với đặc tính khó bảo
quản, dễ bị ẩm mốc, biến chất của hàng nông sản, vì vậy trong quá trình tổ
chức xuất khẩu nông sản các doanh nghiệp phải rất quan tâm đến đIều khoản
giao hàng, đIều khoản chất lợng để tổ chức thực hiện một cách nhanh chóng
song vẫn đảm bảo đợc các đIều khoản đã ký kết.
1.3. Tình hình xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trờng
ASEAN
Trong hơn 10 năm thực hiện chiến lợc ổn định, phát triển kinh tế xã hội,
Nhà nớc ta đã có sự đóng góp quan trọng vào thắng lợi chung của sự nghiệp
đổi mới. Trong đó đặc biệt phải kể đến thành tựu nổi bật về xuất khẩu nông
sản. ASEAN là một trong những thị trờng đóng góp một phần đáng kể vào
tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu nông sản
sang thị trờng ASEAN tăng nhanh, đạt tốc độ bình quân 16%/năm. Tỷ trọng
kim ngạch xuất khẩu nông sản sang thị trờng ASEAN chiếm tỷ trọng trung
bình 93%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trờng ASEAN của
Việt Nam. Khối lợng xuất khẩu một số mặt hàng nông sản sang ASEAN tăng
lên nhanh chóng trở thành những mặt hàng chiến lợc có sức cạnh tranh cao
của Việt Nam. Sản phẩm nông sản của Việt Nam có mặt ở hầu hết thị trờng
các nớc ASEAN. Một số sản phẩm chiếm thị phần lớn trong thị trờng ASEAN
này là:
Cà phê: Chiếm 30% thị phần trong ASEAN và đứng thứ nhất trong khu
vực về sản lợng với nhiều chủng loại khác nhau nhng chủ yếu là cà phê cha
chế biến. Năm 1989 1999 cà phê có tốc độ phát triển xuất khẩu cao, là một
trong số các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị tr-
ờng các nớc ASEAN. Năm 2000 xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị tr-
ờng ASEAN gấp 7,6 lần so với năm 1990, đạt 130 nghìn tấn, đạt 89 triệu USD.
Sang đến năm 2001, đây là năm ngành cà phê Việt Nam gặp rất nhiều khó
khăn nh hạn hán kéo dài ở khu vực Tây Nguyên là nơi trồng nhiều cà phê nhất
của Việt Nam, sản lợng cà phê bị giảm bên cạnh đó giá cà phê còn xuống
thấp. Do đó, kim ngạch cà phê xuất khẩu sang thị trờng ASEAN giảm 22,4%
và chỉ đạt 69 triệu USD. Việt Nam sản xuất cà phê chủ yếu là xuất khẩu tới
95% sản lợng. Cà phê Việt Nam hiện nay xuất khẩu sang thị trờng ASEAN
chủ yếu là bằng phơng thức xuất khẩu trực tiếp, chiếm tới 95%. Và Singapore
là thị trờng nhập khẩu cà phê lớn nhất của nớc ta trong khối ASEAN. Việt
Chuyên đề thực tập Nguyễn Thị Huyền TMQT 42
Nam xuất khẩu cà phê sang thị trờng ASEAN có 2 loại cà phê hạt và cà phê
rang, xay, hoà tan Cà phê hạt chủ yếu chế biến bằng phơng pháp khô với
thiết bị thủ công lạc hậu vì vậy chất lợng cà phê hạt rất thấp, có khoảng 2%
sản lợng cà phê xuất khẩu sang thị trờng ASEAN đạt loại 1 (R
1
) còn lại là loại
2 (R
2
). Do đó, hiệu quả xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trờng ASEAN
không cao. Đến cuối năm 2002 giá cà phê xuất khẩu trên thị trờng thế giới nói
chung có những thay đổi thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu
cà phê, sản lợng cà phê tăng mạnh kéo theo giá cà phê lên cao. Kim ngạch
xuất khẩu cà phê sang thị trờng ASEAN của Việt Nam đạt 414 triệu USD, cao
nhất từ trớc đến nay và Singapore vẫn là thị trờng nhập khẩu cà phê lớn nhất
của nớc ta trong ASEAN. Đến năm 2003, lợng xuất khẩu cà phê giảm chủ yếu
do nguồn cung khan hiếm và tồn kho giảm tuy nhiên nhờ giá thị trờng thế giới
tăng nên khối lợng xuất khẩu giảm nhng giá trị xuất khẩu vẫn tăng. Chính vì
vậy, chúng ta phải chú ý đến khâu bảo quản dự trữ, đó là một khâu cực kỳ
quan trọng nó giúp ta tận dụng đợc cơ hội của thị trờng mà không nằm trong
tình trạng khi có hàng thì giá rẻ, khi hàng khan hiếm thì giá cao dẫn đến hiệu
quả kinh doanh không cao.
Cao su: ASEAN là thị trờng xuất khẩu cao su chủ yếu của Việt Nam.
ASEAN là một trong 3 thị trờng xuất khẩu cao su lớn nhất của Việt Nam,
chiếm trên 38%. Xuất khẩu cao su của Việt Nam sang thị trờng ASEAN chủ
yếu vẫn là xuất khẩu ở dạng thô hoặc mới qua sơ chế. Trong thị trờng ASEAN
thì cao su Việt Nam xuất khẩu chủ yếu là sang Singapore. Năm 2001, Việt
Nam xuất khẩu trên 80 nghìn tấn cao su sang thị trờng ASEAN, giá trị kim
ngạch thu đợc trên 30 triệu USD. Đến năm 2002 thì cao su Việt Nam đã xuất
khẩu trên 120 nghìn tấn, giá trị kim ngạch đạt trên 40 triệu USD, sau có một
năm mà giá trị kim ngạch tăng lên 10 triệu USD đó là thành công lớn của
ngành cao su Việt Nam ở thị trờng ASEAN này. Đặc biệt, năm đó do các nền
kinh tế lớn của thế giới đang phục hồi nhanh chóng và tiêu thụ mạnh mặt hàng
này, thêm vào đó thời tiết năm đó không thuận lợi đã góp phần đáng kể làm
giảm lợng cung cao su trên thị trờng. Vì thế giá cao su bắt đầu tăng lên và đạt
mức trên 1.000 USD/tấn tạo điều kiện cho Việt Nam tăng giá trị kim ngạch
xuất khẩu cao su. Trong năm đó, thị trờng Singapore nhập khẩu cao su của
Việt Nam tăng 4,4 lần, Malaysia tăng 3,9 lần. Sang năm 2003 giá xuất khẩu
cao su tiếp tục thuận lợi, trị giá tăng mạnh mặc dù khối lợng xuất khẩu không
bằng năm 2002 do hạn chế nguồn hàng, thời tiết làm giảm tiến độ lấy mủ cao
su ở Thái Lan và Inđônêxia. Nhìn chung nhu cầu về cao su tiếp tục tăng, do
Chuyên đề thực tập Nguyễn Thị Huyền TMQT 42
vậy khối lợng cũng nh giá trị kim ngạch xuất khẩu cao su của Việt Nam sang
thị trờng ASEAN sẽ còn tăng nữa trong những năm tới.
Hạt tiêu: Hạt tiêu của Việt Nam xuất khẩu sang thị trờng ASEAN cũng
khá lớn, do đặc điểm của hạt tiêu Việt Nam có mùi vị đặc trng mà rất nhiều n-
ớc không có đợc. Việt Nam là nớc xuất khẩu hạt tiêu đứng thứ 6 trên thế giới.
Chất lợng hạt tiêu Việt Nam thì thuộc loại tốt. Tuy nhiên, hạt tiêu xuất khẩu
của Việt Nam nói chung và sang thị trờng ASEAN nói riêng chủ yếu là hạt
tiêu thô hoặc qua sơ chế cha phải là sản phẩm chế biến thành gia vị. Kim
ngạch xuất khẩu thời kỳ 1989 1999 sang thị trờng ASEAN là trên 685
triệu USD. Năm 2000 là 11 nghìn tấn với trị giá 44 triệu USD. Năm 2001 là 13
nghìn tấn trị giá đạt 54 triệu USD. Nh vậy, sản lợng tăng 18,2% trong khi trị
giá tăng 22,7%. Sang đến năm 2002 là khối lợng hạt tiêu xuất khẩu sang
ASEAN tăng nhanh nhng giá xuất khẩu lại giảm. Và năm 2003 giá xuất khẩu
hạt tiêu Việt Nam sang thị trờng ASEAN tăng nhẹ, do đó kim ngạch xuất khẩu
đạt 58 triệu USD. Do vậy để nâng cao kim ngạch và hiệu quả xuất khẩu hạt
tiêu của Việt Nam sang thị trờng ASEAN chúng ta cần phải có kế hoạch phát
triển vùng sản xuất, đầu t mạnh vào công nghệ chế biến hạt tiêu để biến hạt
tiêu của ta thành gia vị đem lại hiệu quả kinh doanh cao cho ngành hạt tiêu
Việt Nam.
Ngoài ra, còn rất nhiều nông sản của Việt Nam xuất khẩu sang thị trờng
ASEAN nh: gạo, lạc nhân, hành, long nhãn, quế hơng Chủng loại và chất l-
ợng rất đa dạng và phong phú chiếm đợc thị phần ngời tiêu dùng trên thị trờng
ASEAN cũng nh các nhà chế biến trên thị trờng này. Giá trị kim ngạch xuất
khẩu đối với các mặt hàng này không lớn lắm nhng nó cũng góp một phần
đáng kể vào tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trờng
ASEAN.
Tóm lại, mặc dù nông sản xuất khẩu của Việt Nam sang thị trờng
ASEAN chủ yếu là dạng thô hoặc mới qua sơ chế, bao bì, mẫu mã thiếu sức
hấp dẫn trên thị trờng nên giá không cao. Hàng Việt Nam tham gia vào thị tr-
ờng phải chấp nhận tuân theo giá cả thị trờng thế giới. Nhng nông sản Việt
Nam xuất khẩu sang thị trờng ASEAN đã có một thành công lớn, khối lợng và
kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng lên. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả
xuất khẩu chúng ta cần phải chuyển dịch cơ cấu cây trồng, áp dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật công nghệ vào khâu trồng trọt cũng nh khâu chế biến để
nâng cao năng suất lao động và chất lợng sản phẩm. Đầu t mạnh vào công tác
xúc tiến thơng mại, thu thập thông tin nghiên cứu thị trờng để luôn đáp ứng
Chuyên đề thực tập Nguyễn Thị Huyền TMQT 42
đầy đủ các đòi hỏi của thị trờng về chất lợng, tiêu chuẩn vệ sinh, cạnh tranh đ-
ợc với các sản phẩm của các nớc trong khu vực. Để làm đợc điều đó chúng ta
đã đa ra một số định hớng phát triển nông sản nh:
Với cà phê: Do cà phê là mặt hàng có sự biến động giá cả và khối lợng
rất thất thờng. Giá cả và sản lợng phụ thuộc nhiều vào thời tiết gây rất nhiều
khó khăn về dự báo. Theo FAO dự báo tới năm 2005 sản lợng thế giới khoảng
7,3 triệu tấn. Và năm 2010 có thể đạt 730 ngàn tấn và kim ngạch là 830 triệu
USD. Để đạt đợc điều đó chúng ta nên chú trọng vào phát triển cà phê Arabia,
đầu t mạnh vào lĩnh vực chế biến cà phê rang, xay với cà phê hoà tan.Tăng c-
ờng marketing và mở rông thị trờng tiêu thụ, đặc biệt quan tâm nghiên cứu và
dự báo thị trờng,giới thiệu sản phẩm,tiếp cận thị trờng, phát huy lợi thế cà phê
Việt Nam. Năm 2003, chính phủ phê duyệt việc sử dụng sàn giao dịch cà phê
tại thành phố Buôn Mê Thuột tỉnh Đắc Lắc tạo điều kiện cho cà phê phát triển.
Thị trờng xuất khẩu cà phê chính của Việt Nam vẫn là ASEAN, EU, Hoa Kỳ,
Nhật Bản.
Với cao su: Chính phủ đã có nhiều phơng án phát triển cao su, sự biến
động giá cả cao su cũng rất thất thờng do nhu cầu không lớn và tăng chậm.
Nhng cao su vẫn là nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nên chính phủ
đã có đầu t thích đáng. Dự báo cao su xuất khẩu trong thời gian tới của Việt
Nam sẽ đạt từ 300 350 ngàn tấn/năm, đạt khoảng 400 triệu USD. Thị trờng
chính là Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN, Mỹ, Đài Loan.
Về hạt tiêu: Hạt tiêu của ta rất đợc a chuộng trên thị trờng thế giới do
xuất khẩu hạt tiêu của ta ở dạng thô nên trong thời gian tới ta tập trung vào
khâu chế biến để sao tự chủ, chiếm đợc thị phần ngời tiêu dùng và tiếp tục mở
rộng sản xuất, gia tăng sản lợng để đạt khoảng 200.000 tấn/năm, giá trị tăng
lên 250 270 triệu USD. Thị trờng xuất khẩu chủ yếu là Nhật Bản, Trung
Quốc, Singapore, Trung Đông, Mỹ.
Nh vậy, định hớng phát triển chung của nông sản Viêt Nam là tập trung
lớn vào khâu chế biến bảo quản và bên cạnh đó tăng sản lợng hơn nữa để làm
tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu. Đa sản phẩm nông sản Việt Nam thâm nhập
vào tất cả các thị trờng trên thế giới đạt hiệu quả kinh doanh tốt nhất.
1.4. Lợi thế xuất khẩu nông sản Việt Nam sang các nớc ASEAN
Việt Nam có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển các cây nông
sản. Đặc biệt là các vùng phía Nam có điều kiện khí hậu rất thuận lợi, nhiệt độ
trung bình vào khoảng 27,5 độ C thích hợp cho đIều kiện sống của các cây nh
cà phê, tiêu, điều, lạc
Chuyên đề thực tập Nguyễn Thị Huyền TMQT 42
Ngời dân Việt Nam có truyền thống làm nông nghiệp, thông minh, sáng
tạo, nắm rõ đặc điểm của từng loại đất, từng loại cây trồng, tạo ra đợc nhiều
loại cây trồng có năng suất cao, chất lợng tốt, chủng loại đa dạng phong phú
thích hợp với nhiều đối tợng khác nhau. Điều này tạo cho nông sản xuất khẩu
của Việt Nam có những u điểm hơn hẳn so với các nớc khác.
Mặc dù nông sản Việt Nam có chất lợng tốt, chủng loại đa dạng, phong
phú nhng giá bán nông sản của Việt Nam thờng vẫn thấp hơn giá bán nông
sản cùng loại của các nớc khác, thêm vào đó các doanh nghiệp Việt Nam khi
tham gia xuất khẩu luôn có tinh thần trách nhiệm cao, thực hiện đúng quy
định về chất lợng, chủng loại cũng nh thời gian đã tạo ra đợc uy tín cho bạn
hàng.
Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi, gần trung tâm trung chuyển hàng
hoá, gần hệ thống đờng bộ và đờng sắt xuyên á và Việt Nam đã gia nhập vào
ASEAN, tham gia vào chơng trình u đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT)
nên đã đợc hởng chế độ u đãi thuế quan khi hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu
sang thị trờng này. Đó là những lợi thế tạo cho hàng nông sản Việt Nam luôn
giữ vững đợc vị trí của mình trong thị trờng ASEAN.
1.5. Các nhân tố tác động đến xuất khẩu nông sản Việt Nam
sang thị trờng ASEAN
1.5.1. Các công cụ, chính sách của Nhà nớc trong quản lý xuất khẩu
Hiện nay, trên thế giới, các nớc sử dụng nhiều công cụ để thực hiện
chính sách thơng mại quốc tế, trong đó công cụ quan trọng nhất là thuế đánh
vào hàng nhập khẩu. Hầu nh tất cả các nớc trong khối ASEAN đều áp dụng
thuế nhập khẩu đối với hàng nông sản, chỉ riêng có Singapore là không. Đây
là nhân tố phức tạp và thờng gây bối rối cho các nhà kinh doanh do hệ thống
pháp luật, bảo hộ mỗi nớc khác nhau nh Singapore thì 99% hàng nhập khẩu
nào là miễn thuế, Thái Lan thì khác vẫn áp dụng mức thuế nhập khẩu khá cao
và gạo vẫn đợc bảo hộ về nhập khẩu.
Ngoài ra, còn có công cụ hạn ngạch (Quota, cơ chế giấy phép nhập
khẩu và các công cụ phi thuế quan khác). Quota là công cụ chủ yếu của hàng
rào phi thuế quan, là những quy định hạn chế số lợng đối với từng thị trờng,
mặt hàng. Nó là công cụ kinh tế phục vụ cho công tác điều tiết quản lý Nhà n-
ớc về xuất nhập khẩu vừa nhằm bảo hộ sản xuất trong nớc. Là quy định của
Nhà nớc về số lợng (hay giá trị) của một mặt hàng đợc phép xuất khẩu trong
một thời gian nhất định.
Chuyên đề thực tập Nguyễn Thị Huyền TMQT 42
- Trợ cấp xuất khẩu: Là biện pháp Nhà nớc hỗ trợ các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh hàng xuất khẩu nhằm khuyến khích tăng nhanh số lợng và
giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ bằng các biện pháp trợ cấp
trực tiếp hoặc cho vay với lãi suất thấp đối với nhà xuất khẩu trong nớc.
- Chính sách tỷ giá hối đoái: Kết quả của hoạt động kinh doanh xuất
khẩu rất nhạy cảm với tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái tăng thờng có lợi cho
xuất khẩu. Vì vậy, trong kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm bắt đ-
ợc sự biến động của tỷ giá hối đoái trên thị trờng, quan tâm chính sách hối
đoái của Chính phủ, nguồn huy động ngoại tệ của quốc gia
1.5.2. Tác động của nền kinh tế trong nớc và ASEAN
Nền kinh tế trong nớc ảnh hởng đến lợng cung của hàng xuất khẩu. Nếu
nền sản xuất chế biến trong nớc phát triển thì khả năng cung ứng hàng xuất
khẩu cũng nh chất lợng hàng xuất khẩu tăng lên, doanh nghiệp sẽ thuận lợi
trong công tác thu mua tại nguồn, cạnh tranh đợc với các sản phẩm trong khu
vực và ngợc lại thì khó khăn và thất bại.
Các nớc ASEAN đều có điểm tơng đồng với Việt Nam, có xuất phát
đIểm là nền văn minh lúa nớc, nông nghiệp là chủ yếu, mặt khác hầu nh các
nớc đều có trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ chế biến hơn ta.
Do đó, nhu cầu về hàng nông sản cũng bị hạn chế, chủ yếu là để tái xuất sang
nớc khác. Nếu trình độ phát triển là ngang nhau thì khả năng cạnh tranh sẽ
thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải cạnh
tranh khốc liệt với các đối thủ trong nớc và ngoài khu vực ASEAN.
Hơn nữa, nếu nền kinh tế ổn định về chính trị văn hoá sẽ là nhân tố
thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, nó tạo lập những khuôn khổ chung cho
hoạt động kinh doanh diễn ra. Khi môi trờng chính trị xã hội của nớc ta và
ASEAN có bất kỳ sự thay đổi nào cũng đều ảnh hởng đến kinh doanh xuất
khẩu. Môi trờng chính trị xã hội phải ổn định nếu không nó đồng nghĩa với
những rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải.
Mặt khác, sự phát triển của hệ thống tài chính ngân hàng, cơ sở hạ tầng
của đất nớc cũng nh nớc bạn ảnh hởng rất lớn tới hoạt động xuất khẩu. Trong
xuất khẩu thì tính phức tạp trong thanh toán nguồn vốn và ngoại tệ cần huy
động lớn. Vì vậy khi hệ thống tài chính ngân hàng của nớc xuất khẩu, nhập
khẩu phát triển thì nó sẽ tạo điều kiện cho các đơn vị kinh doanh xuất khẩu đ-
ợc dễ dàng huy động vốn ngoại tệ, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán nhanh
chóng, chính xác với độ rủi ro thấp góp phần nâng cao uy tín của doanh
Chuyên đề thực tập Nguyễn Thị Huyền TMQT 42
nghiệp. Hiện nay trong các nớc ASEAN thì chỉ có Singapore, Inđônêxia, Thái
Lan là có hệ thống ngân hàng phát triển mạnh.
Hệ thống cơ sở hạ tầng trong đó đặc biệt là hệ thống thông tin liên lạc
có tác động rất lớn đến khả năng xuất khẩu. Ngày nay việc trao đổi mua bán
giữa nớc ta và ASEAN chủ yếu là qua đờng thông tin điện thoại, Internet.
Thông qua khả năng thu thập thông tin, cung cấp thông tin một cách chính
xác, kịp thời, đầy đủ giúp doanh nghiệp không bỏ sót các cơ hội kinh doanh
hấp dẫn, giúp việc giao dịch đàm phán, diễn ra nhanh chóng thuận lợi với chi
phí thấp. Việt Nam hiện nay có hệ thống thông tin liên lạc khá phát triển, điều
này tạo điều kiện rất lớn cho các doanh nghiệp khi tham gia hoạt động xuất
khẩu. Các nớc Singapore, Thái Lan, Malaysia, Philipin là những nớc có hệ
thống thông tin phát triển đIều đó tạo thuận lợi cho việc trao đổi thông tin giữa
nớc ta và các nớc ASEAN rất thuận lợi. Bên cạnh đó là hệ thống giao thông đ-
ờng bộ, đờng thuỷ, đờng biển, đờng không, nhà ga, bến cảng, khu dự trữ đợc
bố trí thuận lợi với máy móc hiện đại cũng tạo điều kiện thuận lợi cho kinh
doanh xuất khẩu.
1.5.3. Quan hệ kinh tế thơng mại giữa nớc ta và các nớc ASEAN
Ngày nay các xu hớng toàn cầu hoá, khu vực hóa, hội nhập kinh tế ngày
càng phát triển, các nớc trong khu vực đều có sự liên kết kinh tế, mở ra những
cơ hội kinh doanh mới nhng cũng làm gia tăng sự cạnh tranh mua bán giữa
doanh nghiệp trong nớc và doanh nghiệp nớc ngoài.
Các quan hệ kinh tế thơng mại ngày càng có tác động cực kỳ mạnh mẽ
tới hoạt động xuất khẩu của từng quốc gia nói chung và từng doanh nghiệp nói
riêng. Quan hệ kinh tế thơng mại giữa nớc ta và các nớc ASEAN có từ rất
lâu. Và hiện nay Việt Nam đã là thành viên của ASEAN vào 28/7/1995 và
tham gia vào khu mậu dịch tự do AFTA năm 2003. Trong khuôn khổ khu vực
mậu dịch tự do các nớc sẽ có đặc quyền buôn bán với nhau. Về lý thuyết, khi
tham gia AFTA, các thành viên có nhiều cơ hội xuất khẩu hàng sang các nớc
ASEAN khác nhờ hàng rào bảo hộ của các nớc đó đợc cắt giảm. Hiện nay,
Việt Nam đã thực hiện chơng trình CEPT nghĩa là chúng ta đã hầu nh hoàn tất
việc cắt giảm thuế với mức 0 5% và dự kiến đến năm 2006 là hoàn thành.
Trong các năm qua trung bình các nớc ASEAN tiêu thụ 23,7% giá trị
hàng xuất khẩu của Việt Nam. Singapore là nớc nhập khẩu lớn nhất các hàng
hoá xuất khẩu của Việt Nam trong các nớc ASEAN. Đứng sau Singapore trong
ASEAN là Thái Lan, Malaysia rồi Inđônêxia tiếp đó là Philipin, Lào. Nếu so
Chuyên đề thực tập Nguyễn Thị Huyền TMQT 42
sánh về giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam thì có thể khẳng định tầm
quan trọng của các nớc ASEAN đối với quan hệ ngoại thơng của Việt Nam.
1.5.4. Các yếu tố về dân số, văn hoá.
Đây là yếu tố vô cùng phức tạp. Nó quyết định dung lợng của thị trờng
và nhu cầu của thị trờng. Khi nghiên cứu yếu tố dân số, văn hóa, xã hội các
doanh nghiệp cần nắm đợc quy mô, cơ cấu dân số, thị yếu tiêu dùng, thu nhập,
phong tục tập quán, tín ngỡng của từng nớc để từ đó đa ra Marketing mix phù
hợp.
1.5.5. Các yếu tố địa lý, sinh thái.
Các yếu tố địa lý, sinh thái phải đợc nghiên cứu, xem xét để có quyết
định đúng đắn về cách thức, phơng hớng, nội dung kinh doanh. Bởi vì, trong
kinh doanh xuất khẩu chi phí vận tải chiếm tỷ trọng rất lớn trong hoạt động
này. Trong khu vực ASEAN việc đi lại, chuyên chở hàng hoá giữa các nớc là
rất thuận lợi, vận chuyển hàng hoá trên nhiều phơng thức: đờng bộ, đờng biển,
đờng sắt, đờng không, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu
hàng hoá giữa các nớc ASEAN nhanh chóng, đúng thời gian quy định tạo đợc
uy tín cho nhau.
Khí hậu thời tiết cũng là một yếu tố ảnh hởng đến xuất khẩu hàng hoá.
Khí hậu ảnh hởng đến chu kỳ sản xuất, khả năng cung ứng, chi phí bảo quản,
chế biến hàng hoá ở nớc xuất khẩu. Vì vậy, yêu cầu các doanh nghiệp kinh
doanh xuất khẩu phải có kế hoạch thu mua, dự trữ, bảo quản, chế biến để bán
hàng phù hợp với nhu cầu thị trờng.
Chuyên đề thực tập Nguyễn Thị Huyền TMQT 42
Chơng 2. Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản
sang thị trờng ASEAN của công ty xuất nhập
khẩu INTIMEX những năm qua
2.1. Khái quát về công ty xuất nhập khẩu INTIMEX
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty xuất nhập khẩu INTIMEX đợc thành lập tháng 10/1979 lúc đó
có tên là Tổng Công ty xuất nhập khẩu nội thơng và hợp tác xã trực thuộc Bộ
Ngoại Thơng, gọi tắt là Công ty xuất nhập khẩu nội thơng.
Ngày 22/10/1985 do việc điều chỉnh các tổ chức kinh doanh trực thuộc
Bộ Nội thơng thông qua nghị định số 225/HĐBT chuyển Công ty xuất nhập
khẩu nội thơng và Hợp tác xã trực thuộc Bộ Nội thơng thành Tổng Công ty
xuất nhập khẩu nội thơng và Hợp tác xã.
Ngày 8/3/1993 căn cứ vào Nghị định 387/HĐBT và theo Nghị định của
Tổng giám đốc Công ty xuất nhập khâủ nội thơng và Hợp tác xã. Bộ trởng Bộ
Thơng mại ra quyết định tổ chức lại Công ty thành hai Công ty trực thuộc Bộ:
- Công ty xuất nhập khẩu nội thơng và Hợp tác xã Hà Nội
- Công ty xuất nhập khẩu nội thơng và Hợp tác xã thành phố Hò Chí
Minh
Tháng 3/1995 Bộ trởng Bộ Thơng mại đã quyết định hợp nhất công ty
thơng mại - dịch vụ Việt Kiều và Công ty xuất nhập khẩu nội thơng và Hợp
tác xã trực thuộc Bộ. Căn cứ pháp lý để Bộ thơng mại hợp nhất hai công ty là
Nghị định 59/CP ngày 4/12/1993 của Chính phủ, quyết định số 629/TM -
TCCB ngày 25/9/1993 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức
bộ máy và thành lập lại Công ty xuất nhập khẩu nội thơng và Hợp tác xã -
dịch vụ phục vụ Việt Kiều của Bộ Thơng mại.
Do biến động của lịch sử, xã hội lúc bấy giờ khi mà các nớc xã hội chủ
nghĩa Đông Âu tan rã, việc trao đổi hàng hoá theo hệ thống nội thơng không
còn phù hợp nữa. Công ty xuất nhập khẩu nội thơng và Hợp tác xã Hà Nội
hoạt động không phù hợp với bối cảnh kinh tế xã hội. Cho nên ngày 8/6/1995
căn cứ vào Nghị định 59/CP ngày 4/12/1993 của Chính phủ và văn bản số
192/UB-KH ngày 19/1/1995 của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nớc và theo đề nghị
của Công ty xuất nhập khẩu nội thơng và Hợp tác xã Hà Nội tại công văn số
336/IN-VP ngày 25/5/1995 đã đổi tên công ty thành công ty xuất nhập khẩu -
dịch vụ thơng mại trực thuộc Bộ Thơng mại.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét