Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

phân tích công tác marketing ở công ty may thăng long


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "phân tích công tác marketing ở công ty may thăng long": http://123doc.vn/document/1054309-phan-tich-cong-tac-marketing-o-cong-ty-may-thang-long.htm



SƠ ĐỒ BỘ MÁY CÔNG TY MAY THĂNG LONG
Giám đốc
Phó giám đốc
T i và ụ Vật tư
Sản xuất
Tổ chức

Bảo
vệ
Văn
thư
Điều
độ kế
hoạch

điện

Kế
toán
Thủ
quỹ
Phân
xưởng
may 1
Phân xưởng
may 2
Phân xưởng
may 3
Tổ cắt
v ho n thià à ện
- Giám đốc : là người chỉ huy cao nhất của Công ty, chịu trách nhiệm hoàn toàn với
Nhà nước về toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty.
- Phó Giám đốc : chịu sự chỉ đạo trực tiếp Giám đốc và giúp việc cho Giám đốc để có
thể đảm bảo cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh luôn thông suốt, kết hợp đề xuất ý
kiến giúp Giám đốc nắm vững tình hình các bộ phận, ra được các quyết định kịp thời và
đúng đắn để sản xuất kinh doanh luôn đạt hiệu quả cao nhất.
- Phòng tổ chức lao động : phụ trách việc tuyển chọn công nhân, cán bộ cho Công ty,
giải quyết các vấn đề chính sách chế độ đồng thời quản lý về tiền lương của cán bộ công
nhân viên trong Công ty.
- Phòng sản xuất : phụ trách và giải quyết các vấn đề kỹ thuật trong sản xuất, kiểm tra
chất lượng sản phẩm sản xuất ra, nghiên cứu đề xuất ý kiến, giải pháp nhằm tiết kiệm
nguyên vật liệu, thời gian, sức lao động để sản xuất ra một sản phẩm nhằm tăng năng xuất
lao động, giảm giá thành.
- Phòng tài vụ : chuyên tổ chức kiểm tra việc hạch toán phân tích các thông tin, hoạt
động tài chính, hướng dẫn chỉ đạo và kiểm tra chế độ hạch toán, quản lý tài chính trong
Công ty.
- Phòng xuất nhập khẩu : chuyên đàm phán ký kết hợp đồng với khách hàng, nghiên cứu
thị trường, xây dựng các chiến dịch quảng cáo tiếp thị và giải quyết các thủ tục xuất nhập
khẩu với hải quan.
* Ngoài ra Công ty còn có 5 Xưởng chính :
- Xưởng may 1.
- Xưởng may 2.
- Xưởng may 3.
- Xưởng cắt.
- Xưởng thu hoá ( hoàn thiện ).
* Với kiểu quản lý cơ cấu trực tiếp chức năng, Công ty may Thăng Long luôn phát
huy được năng lực chuyên môn của các bộ phận một cách tối đa và mang tính khoa học
cao, đó là một trong những yếu tố chính giúp Công ty đứng vững trong thời kỳ cơ chế
chuyển đổi thị trường đầy mới lạ và khó khăn cũng như phát triển ngày càng mạnh mẽ ở
hiện tại, hứa hẹn một sự khởi sắc trong tương lai.

III. Một số đặc điểm quy trình sản xuất của Công ty may Thăng Long.
1. Quy trình Công nghệ.
Công ty may Thăng Long có quy trình Công nghệ khá phức tạp nhưng mang tính
liên tục. Trong cùng một quy trình sản xuất có sử dụng nhiều loại nguyên vật liệu khác
nhau, nhiều loại sản phẩm được sản xuất ra trên một dây chuyền công nghệ. Nhìn chung có
thể khái quá quá trình sản xuất sản phẩm của Công ty như sau :
Sơ đồ quy trình công nghệ của Công ty may Thăng Long

- Công đoạn Giác mẫu : do tổ giác mẫu thực hiện, nguyên vật liệu được đưa từ kho
về các tổ giác mẫu thực hiện sau đó chuyển giao cho tổ cắt.
8
Nguyên vật
liệu
Giác mẫu
Cắt
May
L ho n thià à ện
Th nh phà ẩm

- Công đoạn Cắt : nhận chuyển giao từ các tổ giác mẫu, thực hiện các thao tác như
cắt pha, cắt gọt, viết số và phối kiện để cuối cùng tạo ra bán thành phẩm cắt.
- Công đoạn May : nhận bán thành phẩm từ các khâu cắt, các tổ may tiếp tục gia
công hoàn chỉnh sản phẩm. Kết thúc công đoạn này sản phẩm gần như đã được hoàn chỉnh
và được chuyển sang các tổ Là để tiếp tục hoàn thiện.
- Công đoạn Là : tổ là của các xí nghiệp thành viên sau khi nhận sản phẩm từ các tổ
may chuyển sang sẽ tiến hành Là phẳng và cho vào túi ni - lon hoặc đóng hộp . Đó chính
là thành phẩm ở cuối dây chuyền sản xuất.
2. Tổ chức sản xuất.
- Như chúng ta đều biết, mỗi loại sản phẩm đều có quy trình công nghệ sản xuất
riêng, từ đó chi phối đến đặc điểm tổ chức sản xuất của từng xí nghiệp, từng Công ty.
Công ty may Thăng Long với mặt hàng chủ yếu là áo sơ mi, áo T - shirt, quy trình sản xuất
mang tính liên hoàn phức tạp được chuyên môn hoá và hiện đại hoá. Với đội ngũ công
nhân có tay nghề cao, dây chuyền công nghệ được trang bị những thiết bị hiện đại trong
lĩnh vực may. Chính vì vậy Công ty may Thăng Long luôn thoả mãn được những yêu cầu
cao nhất về chất lượng, kỹ thuật cũng như mỹ thuật của khách hàng. Đó là những yếu tố
quan trọng góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho kế hoạch chiếm lĩnh thị trường nội địa của
Công ty.
- Vì gia công theo đơn vị đặt hàng không phải lo tới việc tiêu thụ sản phẩm nên
khác với các doanh nghiệp tự sản xuất, tự tiêu thụ, họ phải lập kế hoạch sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm dựa trên các số liệu thu được về tình hình biến động của thị trường cùng nhu
cầu về mốt, mầu sắc, chất vải hay tình hình về sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh máy
móc thiết bị, năng lực sản xuất của chính mình Công ty may Thăng Long lập kế hoạch
sản xuất các phần giản đơn hơn, phòng kế hoạch dựa vào số lượng sản phẩm theo đơn vị
đặt hàng cùng tình hình máy móc thiết bị, năng lực sản xuất của mình lập ra kế hoạch sản
xuất rồi phân bố cho các phân xưởng thực hiện với các định mức về thời gian, tiêu phí
nguyên vật liệu, máy móc, đơn giá gia công . . . để có thể theo dõi sát sao việc thực hiện kế
hoạch kịp tiến độ đã định.
3. Đặc điểm về công tác cung ứng vật tư.
- Nguyên liệu là yếu tố trực tiếp cấu tạo nên thực thể sản phẩm vì vậy nếu thiếu vật
liệu hoặc việc cung ứng vật liệu bị gián đoạn, kế hoạch sản xuất sẽ bị đe doạ về mặt tiến
độ.
- Công ty may Thăng Long chủ yếu là thực hiện gia công sản phẩm nên gần như
toàn bộ nguyên vật liệu chính và phụ đều được khách hàng cung cấp, Công ty chỉ có việc
vận chuyển nguyên liệu từ nơi khác vào kho. Nói chung với loại hình sản xuất như hiện tại,
9

Công ty không gặp khó khăn mà có thể nói hoàn toàn thuận lợi trong công tác cung ứng
vật tư. Với tổng diện tích hơn 2000 m
2
và vị trí thuận lợi về giao thông, nguyên liệu cung
cấp theo đơn đặt hàng, hết lại nhập theo từng đợt lên kho chứa tuy không lớn nhưng vẫn
không gặp khó khăn, thêm vào đó là việc vận chuyển rất thuận lợi. Nhưng đối với thị
trường nội địa, khi lập kế hoạch chiếm lĩnh thị trường thì rất khó khăn, phức tạp sẽ nảy
sinh nhiều như mạng lưới, nguồn cung cấp nguyên liệu, kho chứa, tích trữ nguyên liệu để
đảm bảo sản xuất không bị gián đoạn, đó là những vấn đề cần phải quan tâm và xem xét.
4. Thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Thị trường cùng những biến động của nó là căn cứ để lập kế hoạch sản xuất, các
doanh nghiệp nếu muốn sản xuất kinh doanh hiệu quả phải tìm kiếm kỹ và nắm bắt được
nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng thì sản phẩm sản xuất ra mới được thị trường chấp nhận.
Mặt hàng áo sơ mi là mặt hàng được ưa chuộng có thị trường tiêu thụ rộng lớn không chỉ ở
trong nước mà còn cả ở nước ngoài. Hiện nay, áo sơ mi nữ của Công ty may Thăng Long
được bạn hàng ưa chuộng về chất lượng và kiểu dáng. Vì Công ty chủ yếu gia công theo
đơn đặt hàng của bạn hàng trong nước cho nên có thể nói sản phẩm của Công ty tiêu thụ ở
thị trường nội địa tới hơn 90% và thị trường nước ngoài hầu như rất ít. Mặc dù tính đến
chuyện tiếp cận thị trường nước ngoài Công ty sẽ gặp nhiều khó khăn phức tạp về lập kế
hoạch sản xuất, cung ứng vật liệu, nghiên cứu thị trường và kèm theo đó là độ rủi ro cũng
rất lớn.
5. Tình hình tài chính của Công ty may Thăng Long.
- Trước đây trong thời kỳ tập trung bao cấp các cơ sở sản xuất quốc doanh được
Nhà nước bao cấp về kinh phí hoạt động và hưởng nhiều ưu đãi như tỷ lệ lãi xuất vay ngàn
hàng, cũng như thuế doanh thu thường thấp hơn nhiều so với những doanh nghiệp tư nhân.
Cho đến những năm 1991, 1992 khi Nhà nước xoá bỏ cơ chế tập trung bao cấp và chuyển
sang cơ chế thị trường, các cơ sở sản xuất quốc doanh trong đó có Công ty may Thăng
Long, Công ty gặp nhiều khó khăn vì phải tự hoạt động theo chế độ tự hạch toán kinh tế.
Nhưng nhờ có sự vượt bậc của ban lãnh đạo Công ty và sự giúp đỡ của Nhà nước như bỏ
thuế doanh thu, thuế xuất khẩu hàng may mặc và được vay vồn Ngân hàng với lãi xuất
thấp, Công ty may Thăng Long đã đứng vững được, những bước bỡ ngỡ ban đầu qua đi
bằng sự năng động, sáng tạo của ban lãnh đạo cùng các cán bộ quản lý cũng như sự nỗ lực
của toàn thể công nhân viên, may Thăng Long đã đứng vững và phát triển không ngừng.
Công ty luôn hoàn thành kế hoạch sản xuất, thực hiện đầy đủ việc nộp ngân sách và thuế
cho Nhà nước. Công ty đã linh hoạt, chủ động trong việc vay vốn kinh doanh dựa trên tình
hình thực hiện kế hoạch sản xuất đề ra.
- Để tránh hiện tượng vốn lưu động tồn đọng trong lưu thông nhất là đối với hàng
tồn kho, hàng gửi bán. Công ty cần có biện pháp tăng lượng hàng bán ra như bằng các
chiến dịch quảng cáo, tiếp thị hoặc tỷ lệ hoa hồng hấp dẫn, ưu đãi đối với các đại lý tiêu
thụ, khách hàng thường xuyên nhằm tránh để hàng hoá tồn đọng dẫn đến ứ đọng vốn. Mặt
10

khác Công ty cần tổ chức tốt công tác thu hồi công nợ nhất là đối với khách hàng nước
ngoài nhằm tránh lãng phí nguồn vốn tự có trong khi vẫn phải đi vay lãi Ngân hàng để sản
xuất kinh doanh.
- Trong năm 2000, 2001 Công ty đã gặp một số khó khăn khi sản xuất cũng như
sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ rất chậm và có thể tồn kho bởi vì trên địa bàn hay thị trường
Hà Nội và một số tỉnh lên cận có nhiều cơ sở sản xuất cùng loại mặt hàng sản phẩm mẫu
mã như Công ty, nên điều đó tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt để giành giật thị trường với
Công ty dẫn đến mặt hàng sản phẩm bị ứ đọng, tồn kho một số loại vào cuối năm 1999 đầu
năm 2000 làm ảnh hưởng tới sản xuất. Ngoài ra giá cả vật tư đầu vào lại tiếp tục tăng mà
sản phẩm Công ty không tăng thậm chí phải giảm chi để tăng khả năng tiêu thụ. Tất cả các
nguyên nhân trên ảnh hưởng, tác động rất lớn đến mọi mặt của Công ty.
a). Doanh thu : Nhìn vào bảng 1 ta thấy :
- Tổng doanh thu năm 2000 : 1.315.526.781
- Tổng doanh thu năm 2001 : 3.059.565.452
như vậy tổng doanh thu năm 2001 tăng lên 1.744.038.671 (gấp ~ 2,3 lần).
- Trong hoạt động kinh doanh của Công ty may Thăng Long thì phần sản xuất kinh
doanh mang lại nhiều lợi nhuận doanh thu và đạt hiệu quả cao đó là chế tạo được nhiều
mầu mè, sản xuất nhiều sản phẩm may mặc. Cũng từ đó, Công ty rất chú trọng đến việc
phát triển, đầu tư, củng cố lại máy móc, nâng cao chất lượng để không ngừng đáp ứng nhu
cầu thị hiếu ngày càng cao của khách hàng (nội địa và xuất khẩu) đồng thời cũng hoà nhập
với một số hàng cùng hàng sản xuất. Một đặc trưng rõ nét nhất của Công ty may Thăng
Long là vừa sản xuất vừa kinh doanh vì Công ty đã có nhiều biện pháp, ý kiến, đầu tư mở
rộng nhà xưởng, trang bị thêm một số thiết bị máy móc tân tiến ở các nước phát triển như :
Đài Loan, Nhật Bản Đồng thời Công ty đã chủ động mở thêm một số ki - ốt, cửa hàng,
đại lý giới thiệu sản phẩm ở tại Hà Nội hoặc ký gửi hàng hoá ở các Công ty khác tại Hà
Nội và một số tỉnh lên cận. Ngoài ra Công ty còn ký kết hợp đồng với một số doanh nghiệp
ở trong nước và nước ngoài (chủ yếu ở Anh và Mỹ)
b). Sản lượng.
Sản 15000 chiếc áo sơ mi
lượng
10000
8000
11


0 1999 2000 2001 Năm
- Nhìn vào biểu đồ sản lượng ta có nhận xét như sau :

Sản lượng hàng hoá ngày càng được nâng cao.
+ Năm 1999 sản lượng là 8000 chiếc.
+ Năm 2000 sản lượng là 10000 chiếc.
+ Năm 2001 sản lượng là 15000 chiếc.
* Mặc dù sản lượng tăng không cao lắm, nhưng đó cũng là một điều đáng mừng.
Hiện nay Công ty đã nhập thêm một số máy may công nghệ hiện đại mong sao sản lượng
có thể tăng cao nhiều hơn nữa. Dự kiến từ nay cho đến năm 2002 sản lượng có thể tăng lên
tới 50.000 chiếc/năm.
c). Số lao động.
- Để đáp ứng sự phát triển, thúc đẩy sản xuất của Công ty, thì lực lượng lao động
cũng phải được phát triển để mà đủ sức làm chủ được các kiến thức khoa học kỹ thuật
công nghệ mới. Năm lao động (trực tiếp + gián tiếp) của năm 2000 là 170 người, đến năm
2001 là 182 người. Mặc dù, số lao động năm 2001 không tăng nhiều về số lượng nhưng về
mặt chất lượng đã được nâng cao một bước, đáp ứng được nhiệm vụ sản xuất ngày càng
cao.
- Tổng quỹ lương cũng tăng 498.687.451 năm 2000 lên 599.876.543 năm 2001
(tăng gấp 1,1 lần).
+ Nhờ vào số lao động phong phú, sản lượng được nâng cao, chi phí mọi mặt giảm,
tổng quỹ lương được tăng lên.
- Tiền lương bình quân (đồng/người/năm) tăng 2.897.640 đồng năm 2000 lên
3.298.756 đồng năm 2001 (tăng lên 1,14 lần).
+ Mặc dù tiền lương bình quân/người không được cao lắm nhưng đó chỉ là vấn đề
trước mắt, công nhân vẫn có công việc ổn định.
12

* Như vậy doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả và được thể hiện một
phần qua thu nhập cuả cán bộ công nhân viên không những tạm ổn mà còn tăng thêm so
với năm trước.
d). Lợi nhuận.
- Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả nên mang lại lợi nhuận đáng
kể. Tổng lợi tức sau thuế.
+ Năm 2000 đạt hơn 407 triệu đồng.
+ Năm 2001 đạt hơn 78 triệu đồng.
- Lợi nhuận năm 2001 không tăng so với năm 2000 mà còn giảm đi đáng kể.
* Tình hình tăng trưởng Lợi nhuận của Công ty Thăng Long được thể hiện rõ
qua " Đồ thị Lợi nhuận " năm 1999 - 2001 như sau :
407 triệu

78 triệu
1999 2000 2001
- Lợi tức thuần từ sản xuất may mặc tăng trưởng rất chậm bởi vì Công ty đã sản
xuất được một số loại sản phẩm phù hợp với thị trường và thị hiếu người tiêu dùng. Qua
phân tích một số các chỉ tiêu kinh tế hai năm 2000 - 2001 ta thấy Công ty may Thăng Long
Hà nội là một Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh rất có hiệu quả. Không những doanh
thu tăng, lợi nhuận giảm, thu nhập đầu người tăng mà họ còn biết chú trọng trong việc sử
dụng lao động hợp lý. Cũng chính từ việc hoạt động kinh doanh có hiệu quả nên Công ty
Thăng Long TALIMEX - Hà Nội thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước đầy đủ.
e). Nguồn vốn kinh doanh.
* Qua Bảng tổng hợp theo dõi kết quả sản xuất kinh doanh ta thấy :
- Nguồn vốn kinh doanh của Công ty Thăng Long tăng lên rất nhiều do khách hàng
đặt nhiều đơn đặt hàng và có khả năng thanh toán nhanh, hàng hoá bán nhanh, ít bị trả lại
và tồn kho.
13

+ Năm 2000 là : 1.452 triệu đồng.
+ Năm 2001 là : 5.559 triệu đồng.
- Chính từ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Thăng Long có hiệu quả nên
Công ty luôn luôn đảm bảo việc nộp ngân sách hàng năm. Số liệu thuế lợi tức phải nộp
trong Bảng đã nói lên những đóng góp của Công ty đối với Nhà nước. Cụ thể như sau :
+ Thuế lợi tức năm 2000 là : 45 triệu đồng.
+ Thuế lợi tức năm 2001 là : 87 triệu đồng.
6. Năng lực sản xuất.
- Khi nói về một nhà máy, một cơ sở sản xuất, chúng ta không thể không nói tới
năng lực sản xuất, thước đo sự phát triển và quy mô sản xuất. Năng lực sản xuất là yếu tố
cơ bản để từ đó lập ra kế hoạch sản xuất, các nhà quản lý phải nắm được năng lực sản xuất
của từng khâu, từng bộ phận trên dây chuyền sản xuất để phân bố kế hoạch sao cho hợp lý,
khoa học nhất. Tăng năng lực sản xuất luôn là mục đích hướng tới của các nhà sản xuất,
tuỳ theo đặc điểm sản xuất, tình hình tài chính mà các doanh nghiệp quyết định phương
thức tăng năng lực sản xuất cho cơ sở sản xuất của mình như đầu tư trang thiết bị, xây
dựng thêm nhà xưởng, mở rộng thêm sản xuất hay cải tiến dây chuyền công nghệ, nâng
cao năng lực sản xuất ở những khâu yếu kém của dây chuyền hoặc bằng hình thức liên
doanh, liên
kết với các cơ sở khác .
- Công ty may Thăng Long sản xuất một số loại sản phẩm trên nhiều dây chuyền
công nghệ và những dây chuyền này có mối quan hệ chuyển giao bán thành phẩm. Ta có
thể khái quát quá trình sản xuất sản phẩm của Công ty như sau :
+ Nguyên liệu đầu tiên được chuyển từ kho tới các tổ giác mẫu của các xí nghiệp
thành viên tiếp đó bán thành phẩm từ khâu giác mẫu được chuyển sang công đoạn cắt sau
đó chuyển giao tới công đoạn may.
+ Công đoạn may nhận bán thành phẩm từ các công đoạn trước thực hiện hoàn
thiện sản phẩm rồi chuyển sang công đoạn Là và sau cùng sản phẩm được đóng hộp hoặc
bao túi ni - lon.
14
Nguyên liệu
Giác mẫu
Cắt
May

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét