Thứ Hai, 14 tháng 4, 2014

nghiên cứu đánh giá tác động môi trường dự án bãi chôn lấp ctr sinh hoạt huyện gò quao, tỉnh kiên giang.


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nghiên cứu đánh giá tác động môi trường dự án bãi chôn lấp ctr sinh hoạt huyện gò quao, tỉnh kiên giang.": http://123doc.vn/document/1044496-nghien-cuu-danh-gia-tac-dong-moi-truong-du-an-bai-chon-lap-ctr-sinh-hoat-huyen-go-quao-tinh-kien-giang.htm


Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường dự án bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt huyện
Gò Quao, tỉnh Kiên Giang
2.1.3. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường sinh thái
Các hiện tượng liên quan đến sinh thái như ô nhiễm nước và không khí, cũng
liên quan đến việc quản lý chất thải rắn không hợp lý. Ví dụ, nước rò rỉ từ các bãi
chôn lấp không hợp vệ sinh gây ô nhiễm nước mặt và nước ngầm. Trong khu vực
khai thác mỏ sự rò rỉ từ nơi thải bỏ các chất thải có thể chứa các độc tố như đồng,
arsenic, hoặc là nước cấp bị ô nhiễm với các hợp chất muối Ca và mg. Mặc dù thiên
nhiên có khả năng pha loãng, phân tán, phân huỷ, hấp phụ để làm giảm tác động của
sự phát thải vào trong khí quyển, trong nước, và trong đất. Sự mất cân bằng sinh thái
xuất hiện khi khả năng đồng hoá của thiên nhhiên vượt mức giới hạn cho phép.
Trong khu vực có mật độ dân số cao, sự thải bỏ các chất thải gây nên nhiều
vấn đề bất lợi về môi trường. Lượng rác thay đổi từng nơi theo từng khu vực.
Ví dụ như sự thay đổi về số lượng rác thải ở khu vực thành thị và nông thôn.
Tại Việt Nam ước tính trung bình vao thoi diem 2007 một người dân ở các thành phố
phát thải từ 0,9 đến 1,2 Kg rác/ngày, và người dân ở các đô thị nhỏ và nông thôn
phát thải từ 0,5 đến 0,65 Kg rác/ngày. Tổng lượng chất thải sinh hoạt thải hồi vào
môi trường được ước tính là khoảng 8 triệu tấn/năm.(Theo bài viết phế thải gia cư ở
Việt Nam của TS. Mai Ánh Tuyết, nguồn www.khoahoc.net)
2.1.4. Hệ thống quản lý chất thải rắn
2.1.4.1. Quản lý chất thải rắn đô thị
Hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị có thể xem như là một bộ phận chuyên
môn liên quan đến sự phát sinh, lưu giữ và phân chia tại nguồn; thu gom, phân chia,
chế biến và biến đổi; trung chuyển và vận chuyển; tiêu hủy chất thải rắn một cách
hợp lý dựa trên nguyên tắc cơ bản là sức khoẻ cộng đồng, kinh tế, kỹ thuật, bảo tồn,
cảnh quan, các vấn đề môi trường, và liên quan đến cả thái độ cộng đồng.
Mục đích của quản lý chất thải rắn:
- Bảo vệ sức khỏe cộng đồng
- Bảo vệ môi trường
- Sử dụng tối đa vật liệu
- Tái chế và sử dụng tối đa rác hữu cơ
- Giảm thiểu rác ở bãi rác
SVTH: Phạm Tiến Dũng GVHD: TS. Trương Thanh Cảnh

5
Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường dự án bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt huyện
Gò Quao, tỉnh Kiên Giang
2.1.4.2. Quản lý chất thải rắn tổng hợp
Sự chọn lựa kết hợp giữa công nghệ, kỹ thuật, và chương trình quản lý để đạt được
mục đích quản lý chất thải được gọi là quản lý chất thải rắn tổng hợp (ISWM). Văn phòng
bảo vệ môi trường của Mỹ (USEPA) đã đưa ra thứ bậc hành động ưu tiên trong việc thực
hiện ISWM là: Giảm tại nguồn, tái chế, đốt chất thải, và tiêu hủy. Hiệu quả lớn nhất của
chương trình này là giảm được kích thước và kinh phí xây dựng lò đốt. Tái chế chất thải
cũng giảm được các yếu tố làm thiệt hại nồi hơi, loại bỏ được các thành phần xỉ, và các chất
bẩn khác trong lò luyện.
2.1.4.3. Các công cụ pháp lý trong công tác quản lý chất thải rắn
a/. Các tiêu chuẩn
Các tiêu chuẩn áp dụng cho mọi khía cạnh của việc quản lý chất thải rắn, bao
gồm lưu chứa, thu gom, vận chuyển, khôi phục tài nguyên và tiêu hủy cuối cùng.
Các tiêu chuẩn chủ yếu bao gồm: tiêu chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn vận hành được áp
dụng cho lưu chứa, thu gom vận chuyển chất thải rắn, củng như quản lý, vận hành,
SVTH: Phạm Tiến Dũng GVHD: TS. Trương Thanh Cảnh

Phát sinh chất thải
Phân chia, lưu trữ, chế
biến tại nguồn
Thu gom
Trung chuyển và
vận chuyển
Phân chia, chế biến,
và chuyển đổi CTR
Tiêu hủy
Hình 2.1: Sơ đồ mối liên hệ giữa các thành phần trong hệ thống quản lý CTR
6
Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường dự án bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt huyện
Gò Quao, tỉnh Kiên Giang
bảo dưỡng các phương tiện. Các tiêu chuẩn này củng bao gồm các quy định về giảm
thiểu và tái chế chất thải.
b/. Các loại giấy phép
Các loại giấy phép được cấp cho các loại phương tiện sử dụng trong chất thải
rắn được phê duyệt để đảm bảo công tác tiêu hủy chất thải rắn được an toàn. Các
giấy phép địa điểm chỉ có thể được cấp, nếu như giấy phép quy hoạch cần có đối với
địa điểm này đã có hiệu lực. Chúng có thể phải tuân theo các điều kiện do các cơ
quan quản lý chất thải rắn quy định và có thể bao gồm các hạng mục như: thời hạn
của giấy phép; sự giám sát bởi người giữ giấy phép; loại và số lượng chất thải, các
phương pháp giải quyết chất thải; sự ghi lại thông tin; các biện pháp đề phòng cần
có; những giờ thích hợp cho việc giải quyết chất thải; và các công việc cần phải hoàn
thành trước khi các hoạt động được phép bắt đầu, hoặc trong khi các hoạt động đó
tiếp diễn.
c/. Các công cụ kinh tế
- Các lệ phí: Có 3 loại phí được áp dụng cho việc thu gom và đổ bỏ chất thải
rắn: phí người dùng, phí đổ bỏ và phí sản phẩm.
- Các khoản trợ cấp: Các khoản trợ cấp được cung cấp cho các cơ quan và
khu vực tư nhân tham gia vào các lĩnh vực quản lý chất thải rắn
- Các hệ thống ký quỹ - hoàn trả: các hệ thống ký quỹ - hoàn trả biểu hiện
mối quan hệ giữa thuế và trợ cấp. Các loại thuế, phí, lệ phí đặc biệt đối với các khách
hàng được thiết kế để khuyến khích tái chế và ngăn ngừa ô nhiễm
2.1.4.4. Những thách thức của việc quản lý chất thải rắn trong tương lai
Xã hội càng phát triển, dân số thế giới càng gia tăng kết hợp với sự đô thị hoá
và công nghiệp hóa làm cho lượng rác thải phát sinh ngày càng nhiều. Những thách
thức và cơ hội có thể áp dụng để giảm thiểu lượng rác thải trong tương lai là:
- Thay đổi thói quen tiêu thụ sản phẩm trong xã hội
- Giảm lượng rác thải tại nguồn
- Phân chia rác tại nguồn
- Xây dựng bãi chôn lấp an toàn hơn
- Phát triển công nghệ mới.
SVTH: Phạm Tiến Dũng GVHD: TS. Trương Thanh Cảnh

7
Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường dự án bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt huyện
Gò Quao, tỉnh Kiên Giang
2.1.5. Hiện trạng và quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
2.1.5.1. Tình hình phát sinh
Ở Việt Nam mỗi năm phát sinh đến hơn 15 triệu tấn CTR, trong đó chất thải
sinh hoạt từ các hộ gia đình, nhà hàng, các khu chợ và kinh doanh chiếm tới 80%
tổng lượng chất thải phát sinh trong cả nước. Lượng còn lại phát sinh từ các cơ sở
công nghiệp. Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại tuy
phát sinh với khối lượng ít hơn nhiều nhưng cũng được coi là nguồn thải đáng lưu ý
do chúng có nguy cơ gây hại cho sức khoẻ và môi trường rất cao nếu như không
được xử lý theo cách thích hợp.
2.1.5.2. Tình hình quản lý
Việc xử lý chất thải chủ yếu do các công ty môi trường của các tỉnh / thành
phố, quận / huyện thực hiện. Đây là cơ quan chịu trách nhiệm thu gom và tiêu huỷ
chất thải sinh hoạt, bao gồm cả chất thải sinh hoạt gia đình, chất thải văn phòng,
đồng thời cũng là cơ quan chịu trách nhiệm xử lý cả chất thải công nghiệp và y tế
trong hầu hết các trường hợp. Về mặt lý thuyết, mặc dù các cơ sở công nghiệp và y
tế phải tự chịu trách nhiệm trong việc xử lý các chất thải do chính cơ sở đó thải ra,
trong khi Chính phủ chỉ đóng vai trò là người xây dựng, thực thi và cưỡng chế thi
hành các quy định/văn bản quy phạm pháp luật liên quan, song trên thực tế Việt Nam
chưa thực sự triển khai theo mô hình này. Chính vì thế, hoạt động của các công ty
môi trường liên quan đến việc xử lý chất thải sinh hoạt là chính do có quá ít thông tin
về thực tiễn và kinh nghiệm xử lý các loại chất thải khác.
2.2. ĐẶC TRƯNG CỦA CHẤT THẢI RẮN
2.2.1. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn
Nguồn gốc phát sinh, thành phần và tốc độ phát sinh của CTR là các cơ sở
quan trọng để thiết kế, lựa chọn công nghệ xử lý và đề xuất các chương trình quản lý
CTR thích hợp.
Có nhiều cách phân loại nguồn gốc phát sinh CTR khác nhau nhưng phân loại
theo cách thông thường nhất là:
- Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt);
SVTH: Phạm Tiến Dũng GVHD: TS. Trương Thanh Cảnh

8
Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường dự án bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt huyện
Gò Quao, tỉnh Kiên Giang
- Từ các trung tâm thương mại; các công sở, trường học, công trình công cộng
- Từ các hoạt động xây dựng: xây dựng và phá hủy các công trình xây dựng
- Từ các nhà máy xử lý chất thải
- Các hoạt động công nghiệp; nông nghiệp
Chất thải rắn phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, căn cứ vào cách phân loại trên ta
có bảng 2.1 sau:
Bảng 2.1. Nguồn gốc các loại chất thải
Nguồn phát sinh Nơi phát sinh Các dạng chất thải rắn
Khu dân cư Hộ gia đình, biệt thự,
chung cư.
Thực phẩm dư thừa, giấy,
can nhựa, thuỷ tinh, can
thiếc, nhôm.
Khu thương mại Nhà kho, nhà hàng, chợ,
khách sạn, nhà trọ, các
trạm sữa chữa và dịch vụ.
Giấy, nhựa, thực phẩm
thừa, thủy tinh, kim loại,
chất thải nguy hại.
Cơ quan, công sở Trường học, bệnh viện,
văn phòng cơ quan chính
phủ.
Giấy, nhựa, thực phẩm
thừa, thủy tinh, kim loại,
chất thải nguy hại.
Công trình xây dựng và
phá huỷ
Khu nhà xây dựng mới,
sữa chữa nâng cấp mở
rộng đường phố, cao ốc,
san nền xây dựng.
Gạch, betong, thép, gỗ,
thạch cao, bụi,
Dịch vụ công cộng đô thị Hoạt động dọn rác vệ
sinh đường phố, công
viên, khu vui chơi giải trí,
bãi tắm
Rác vườn, cành cây cắt
tỉa, chất thải chung tại các
khu vui chơi, giải trí.
Nhà máy xử lý chất thải
đô thị
Nhà máy xử lý nước cấp,
nước thải và các quá trình
xử lý chất thải công
nghiệp khác.
Bùn, tro
Công nghiệp Công nghiệp xây dựng,
chế tạo, công nghiệp
nặng, nhẹ, lọc dầu, hoá
chất, nhiệt điện.
Chất thải do quá trình chế
biến công nghiệp, phế
liệu, và các rác thải sinh
hoạt.
Nông nghiệp Đồng cỏ, đồng ruộng,
vườn cây ăn quả, nông
trại.
Thực phẩm bị thối rửa,
sản phẩm nông nghiệp
thừa, rác, chất độc hại.
Nguồn : Integrated Solid Waste Management, McGRAW-HILL 1993
SVTH: Phạm Tiến Dũng GVHD: TS. Trương Thanh Cảnh

9
Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường dự án bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt huyện
Gò Quao, tỉnh Kiên Giang
2.2.2. Thành phần chất thải rắn
2.2.2.1. Thành phần chất thải rắn
Thành phần của CTR biểu hiện sự đóng góp và phân phối của các phần riêng
biệt mà từ đó tạo nên dòng chất thải, thông thường được tính bằng phần trăm theo khối
lượng. Thông tin về thành phần chất thải rắn đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh
giá và lựa chọn những thiết bị thích hợp cần thiết để xử lý, các quá trình xử lý cũng như
việc hoạch định các hệ thống, chương trình và kế hoạch quản lý CTR.
Thành phần riêng biệt thay đổi theo vị trí địa lý, vùng dân cư, mức sống, thời
gian trong ngày, trong mùa, trong năm gồm 14 chủng loại mà trong đó thành phần
thực phẩm thừa (chất thải hữu cơ) là chiếm tỉ lệ phần trăm nhiều nhất. Cụ thể như
được trình bày ở bảng 2.2 dưới đây.
Bảng 2.2 Sự phân phối các thành phần chất thải rắn
trong các khu dân cư ở các nước có thu nhập thấp, trung bình và cao
ST
T
Thành phần (%) Nước thu nhập
thấp
Nước thu nhập
TB
Nước thu nhập
cao
A Chất hữu cơ
1 Thực phẩm thừa 40 – 85 20 – 65 6 - 30
2 Giấy 1 – 10 8 – 30 20 - 45
3 Carton 5 - 15
4 Nhựa 1 - 5 2 – 6 2 - 8
5 Vải vụn 1 - 5 2 – 10 2 - 6
6 Cao su 1 - 5 1 – 4 0 – 2
7 Da 0 – 2
8 Rác vườn 1 – 5 1 – 10 10 – 20
9 Gỗ 1 - 4
B Chất vô cơ
1 Thủy tinh 1 – 10 1 – 10 4 - 12
2 Can thiếc 2 - 8
3 Nhôm 1 - 5 1 - 5 0 - 1
4 Kim loại khác 1 - 4
5 Bụi, tro 1 – 40 1 – 30 1 - 10
Nguồn : Integrated Solid Waste Management, McGRAW-HILL 1993
SVTH: Phạm Tiến Dũng GVHD: TS. Trương Thanh Cảnh

10
Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường dự án bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt huyện
Gò Quao, tỉnh Kiên Giang
Nhìn vào bảng số liệu 2.2 ta có nhận xét: thực phẩm thừa chiếm tỉ lệ phần
trăm trọng lượng rất cao tại các nước có thu nhập thấp. Điều này có thể do các loại
rau quả, thức ăn không được sơ chế trước khi đưa vào sử dụng.
Các thành phần chất thải rắn tái sinh, tái chế
- Lon nhôm
- Giấy và carton: Giấy báo; thùng carton hỏng; giấy chất lượng cao; giấy loại hỗn
hợp
- Nhựa: Chai nước giải khát, Chai sữa, bình đựng xà phòng, túi xách, bao bì
nylon các phế phẩm làm từ nhựa.
Ngoài ra còn có các chất thải khác là: Thủy tinh; sắt thép; kim loại màu; cao su
cũng cần tái chế sử dụng lại vì lợi ích kinh tế cũng như bảo vệ môi trường.
Sự thay đổi thành phần chất thải rắn trong tương lai:
Nghiên cứu sự thay đổi thành phần CTR trong tương lai có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc hoạch định kế hoạch quản lý CTR, đồng thời nó cũng quyết định các
qui định, dự án và chương trình quản lý cho các cơ quan quản lý (như là sự thay đổi
các thiết bị chuyên dùng).
Bốn thành phần có xu hướng thay đổi lớn là:
- Thực phẩm thừa
- Giấy và carton
- Rác vườn
- Nhựa dẻo (plastic).
2.2.2.2. Phương pháp xác định thành phần chất thải rắn tại hiện trường
Thành phần của chất thải rắn không mang tính chất đồng nhất. Do đó việc xác
định thành phần của các chất thải không phải là công việc đơn giản.
Một cách xác định đơn giản nhất hiện nay vẫn áp dụng là phương pháp một phần
tư. Trình tự tiến hành như sau:
- Mẫu chất thải rắn ban đầu được lấy từ khu vực nghiên cứu có khối lượng
khoảng 100-250kg. Đổ đóng rác tại một nơi độc lập riêng biệt, xáo trộn đều bằng
cách vun thành đống hình côn nhiều lần. Khi mẫu đã trộn đều đồng nhất chia hình
côn làm 4 phần bằng nhau.
SVTH: Phạm Tiến Dũng GVHD: TS. Trương Thanh Cảnh

11
Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường dự án bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt huyện
Gò Quao, tỉnh Kiên Giang
- Kết hợp 2 phần chéo nhau và tiếp tục trộn đều thành 1 đống hình côn. Tiếp
tục thực hiện bước trên cho đến khi đạt được mẫu thí nghiệm đúng quy định, cân
khoảng 20-30kg để phân tích thành phần.
- Mẫu rác sẽ được phân loại thủ công, bằng tay. Mỗi thành phần sẽ được đặt vào
mỗi khay tương ứng. Sau đó đem cân các khay và ghi khối lượng của các thành phần. Để
có số liệu các thành phần chính xác, các mẫu thu thập nên theo từng mùa trong năm.
2.2.3. Tính chất của chất thải rắn
2.2.2.1. Tính chất vật lý
Những tính chất vật lý quan trọng nhất của chất thải rắn là khối lượng riêng,
độ ẩm, kích thước, sự cấp phối hạt, khả năng giữ ẩm tại thực địa (hiện trường) và độ
xốp của rác nén trong thành phần chất thải rắn
a/. Khối lượng riêng:
Khối lượng riêng của chất thải rắn được định nghĩa là trọng lượng của một
đơn vị vật chất tính trên 1 đơn vị thể tích (kg/m
3
). Bởi vì chất thải rắn có thể ở những
trạng thái như: xốp, chứa trong các thùng chứa container, không nén, nén,… nên khi
báo cáo giá trị khối lượng riêng phải chú thích trạng thái của các mẫu rác một cách
rõ ràng. Dữ liệu khối lượng riêng rất cần thiết được sử dụng để ước lượng tổng khối
lượng và thể tích rác cần phải quản lý.
Khối lượng riêng thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Vị trí địa lý, mùa
trong năm, thời gian lưu giữ chất thải.
b/. Độ ẩm: Độ ẩm của chất thải rắn được biểu diễn bằng 2 phương pháp:
Phương pháp khối lượng ướt và phương pháp khối lượng khô.
- Phương pháp khối lượng ướt độ ẩm trong một mẫu được thể hiện như là
phần trăm khối lượng ướt của vật liệu.
- Phương pháp khối lượng khô độ ẩm trong một mẫu được thể hiện như phần
trăm khối lượng khô vật liệu.
Phương pháp khối lượng ướt được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực quản lý
chất thải rắn bởi vì phương pháp có thể lấy mẫu trực tiếp ngoài thực địa.
SVTH: Phạm Tiến Dũng GVHD: TS. Trương Thanh Cảnh

12
Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường dự án bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt huyện
Gò Quao, tỉnh Kiên Giang
Độ ẩm theo phương pháp khối lượng ướt được tính như sau:
M = ( w – d )/ w x 100
Trong đó: M là độ ẩm, %
W là khối lượng mẫu lúc lấy tại hiên trường, kg (g)
D làkhối lượng mẫu lấy sau khi sấy khô ở 105
o
C, kg (g)
Bảng 2.3. Thành phần vật lý trong rác thải đô thị
STT Thành phần Phần trăm khối lượng Độ ẩm (%)
A Chất hữu cơ
1 Thực phẩm thừa 9,0 70
2 Giấy 34,0 6
3 Carton 6,0 5
4 Nhựa 7,0 2
5 Vải vụn 2,0 10
6 Cao su 0,5 2
7 Da 0,5 10
8 Rác vườn 18,5 60
9 Gỗ 2,0 20
B Chất vô cơ
1 Thủy tinh 8,0 2
2 Can thiếc 6,0 3
3 Nhôm 0,5 2
4 Kim loại khác 3,0 3
5 Bụi, tro 3,0 8
100,0
Nguồn : Integrated Solid Waste Management, McGRAW-HILL 1993
c/. Kích thước và cấp phối hạt:
Kích thước và cấp phối hạt của vật liệu thành phần trong CTR đóng vai trò rất
quan trọng trong việc tính toán và thiết kế các phương tiện cơ khí như: thu hồi vật
liệu, đặc biệt là sử dụng các sàng lọc phân loại bằng máy hoặc phân chia bằng
phương pháp từ tính.
d/. Khả năng giữ nước thực tế
Khả năng giữ nước thực tế của CTR là toàn bộ lượng nước mà nó có thể giữ
lại trong mẫu chất thải dưới tác dụng kéo xuống của trọng lực. Khả năng giữ nước
của chất thải rắn là một chỉ tiêu quan trọng trong việc tính toán xác định lượng nước
rò rỉ từ bãi rác. Nước đi vào mẫu CTR vượt quá khả năng giữ nước sẽ thoát ra tạo
SVTH: Phạm Tiến Dũng GVHD: TS. Trương Thanh Cảnh

13
Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường dự án bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt huyện
Gò Quao, tỉnh Kiên Giang
thành nước rò rỉ. Khả năng giữ nước thực tế thay đổi phụ thuộc vào áp lực nén và
trạng thái phân huỷ của chất thải. Khả năng giữ nước của hỗn hợp chất thải rắn
(không nén) từ các khu dân cư và thương mại dao động trong khoảng 50-60%.
e/. Độ thấm (tính thấm) của chất thải đã được nén
Tính dẫn nước của chất thải đã được nén là một tính chất vật lý quan trọng, nó
sẽ chi phối và điều khiển sự di chuyển của các chất lỏng (nước rò rỉ, nuớc ngầm,
nước thấm) và các khí bên trong bãi rác. Hệ số thấm được tính như sau:
K = Cd
2

µ
γ
= k
µ
γ
Trong đó: K: hệ số thấm
C: hằng số không thứ nguyên
d: kích thước trung bình của các lỗ rỗng trong rác
γ: khối lượng riêng của nước
µ: độ nhớt vận động của nước
k: độ thấm riêng
Số hạng Cd
2
được biết như độ thấm riêng. Độ thấm riêng k = Cd
2
phụ thuộc
chủ yếu vào tính chất của chất thải rắn bao gồm: sự phân bố kích thước các lỗ rỗng,
bề mặt riêng, tính góc cạnh, độ rỗng. Giá trị điển hình cho độ thấm riêng đối với chất
thải rắn được nén trong bãi rác nằm trong khoảng 10
-11
÷ 10
-12
m
2
theo phương đứng
và khoảng 10
-10
theo phương ngang.
2.2.2.2. Tính chất hóa học
Các thông tin về thành phần hoá học của các vật chất cấu tạo nên chất thải rắn
đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá các phương pháp; lựa chọn phương
thức xử lý và tái chế chất thải.
Thành phần hóa học của CTR bao gồm những chất dễ bay hơi khi đốt ở nhiệt
độ 950
o
C, thành phần tro sau khi đốt. Tại điểm nóng chảy thể tích của chất thải rắn
giảm 95%.
SVTH: Phạm Tiến Dũng GVHD: TS. Trương Thanh Cảnh

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét