2.2.Thời kỳ 1976-1985
Thời kỳ này, nhà máy Hải Châu đã khắc phục những thiệt hại sau chiến
tranh và đi vào hoạt động bình thường.
Năm 1976 Bộ Công nghiệp thực phẩm cho sáp nhập nhà máy sữa Mẫu
Sơn (Lạng Sơn) thành lập phân xưởng Sấy phun. Phân xưởng này sản xuất 2
mặt hàng:
-Sữa đậu nành: công suất: 2,4-2,5 tấn/ca.
-Bột canh: công suất 3,5-7 tấn/ca.
Năm 1978 Bộ Công nghiệp thực phẩm cho điều 4 dây chuyền mỳ ăn liền
từ công ty Sam Hoa (tp Hồ Chí Minh) thành lập phân xưởng mỳ ăn liền, công
suất mỗi dây chuyền: 2,5 tấn/ca. Đến năm 1998 không sản xuất mỳ ăn liền nữa
và dây chuyền bánh quy Đài Loan được di chuyển sang thay thế dây chuyền mỳ
ăn liền.
Năm 1982, do khó khăn về bột mỳ và Nhà nước bỏ chế độ độn mỳ sợi nên
nhà máy được Bộ cho ngừng hoạt động phân xưởng sản xuất mỳ sợi. Mặt khác
vì nhận thấy nhu cầu ngày càng cao của thị trường, nhà máy quyết định thanh lý
dây chuyền mỳ lương thực và đầu tư 12 lò sản xuất bánh kem xốp thủ công với
công suất 240 kg/ca.
-Số cán bộ công nhân viên bình quân thời kỳ này: 950 người/năm.
2.3.Thời kỳ 1986-1991
Nhà máy bắt đầu chuyển sang kinh doanh, tự bù đắp chi phí và chưyển
dần sang cơ chế thị trường. Các mặt hàng nhà máy sản xuất như mỳ ăn liền,
bánh các loại, bột canh…ngày càng bị cạnh tranh gay gắt trên thị trường, sản
xuất kinh doanh có xu hướng giảm mạnh với một số mặt hàng, công nghệ và
bao bì sản phẩm thua kém một số mặt hàng cùng loại, buộc nhà máy phải có
những thay đổi thích hợp.
Năm 1989, tận dụng mặt bằng của phân xưởng sấy phun, nhà máy lắp đặt
dây chuyền sản xuất bia với công suất 2000 lít/ngày. Năm 1991, nhà máy lắp đặt
thêm dây chuyền sản xuất bánh quy Đài Loan, đây là một dây chuyền tương đối
5
hiện đại công suất từ 2,5-2,8 tấn/ca. Sản phẩm có chất lượng cao, hợp thị hiếu
người tiêu dùng. Đến nay là một trong những sản phẩm chủ đạo của công ty.
-Số cán bộ công nhân viên bình quân: 950 người/năm.
2.4.Thời kỳ 1992-2006
Nhà máy thực hiện chủ trương sắp xếp lại sản xuất, thành lập công ty
bánh kẹo Hải Châu (theo quyết định số 1355NN-TCCB/QĐ ngày 29/9/1994 của
Bộ trưởng Bộ NN&CNTP). Thời kỳ này công ty đẩy mạnh sản xuất vào các mặt
hàng truyền thống (bánh, kẹo, bột canh…) mua sắm thêm thiết bị mới, thay đổi
mẫu mã mặt hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm cho phù hợp với thị hiếu
người tiêu dùng.
-Năm 1993, đầu tư dây chuyền sản xuất bánh kem xốp của Cộng Hoà
Liên Bang Đức công suất 1 tấn/ca. Đây là dây chuyền sản xuất bánh kem xốp
hiện đại nhất Việt Nam lúc bấy giờ.
-Năm 1994, đầu tư dây chuyền phủ sôcôla của CHLB Đức công suất 500
kg/ca. Dây chuyền có thể phủ sôcôla cho các sản phẩm như bánh kem xốp, bánh
quy.
-Năm 1996, công ty liên doanh với Bỉ thành lập công ty liên doanh sản
xuất sôcôla. Sản phẩm này chủ yếu xuất khẩu (70%). Đến năm 1998 do sản
phẩm không đi được vào thị trường Việt Nam, hoạt động không hiệu quả vì vậy
liên doanh đã nghỉ hẳn không sản xuất nữa.
Cũng trong năm này công ty đầu tư thêm 2 dây chuyền kẹo của CHLB
Đức:
+Dây chuyền sản xuất kẹo cứng công suất: 2400 kg/ca.
+Dây chuyền sản xuất kẹo mềm công suất: 1200 kg/ca.
-Năm 1998, đầu tư mở rộng dây chuyền sản xuất bánh quy Hải Châu,
nâng công suất lên 4 tấn/ca, đồng thời di chuyển sang vị trí của phân xưởng mỳ
ăn liền (khu B của công ty).
Phòng
đầu tư
XDCB
6
-Năm 2001 đầu tư mở rộng nâng công suất dây chuyền sản xuất bánh kem
xốp (CHLB Đức) từ 1 tấn/ca lên 1,6 tấn/ca và dây chuyền sản xuất sôcôla có
năng suất rót khuôn 200 kg/giờ.
-Năm 2003 đầu tư dây chuyền sản xuất bánh mềm (Hà Lan) đây là dây
chuyền hiện đại, tự động cao. Công suất thiết kế 375 kg/giờ.
-Cuối năm 2004, công ty tiến hành chuyển đổi sang hoạt động theo mô
hình công ty cổ phần (theo quyết định số 3656/QĐ/BNN-TCCB ngày
22/10/2004 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNN) từng bước tháo gỡ những tồn tại của
doanh nghiệp Nhà nước chuyển sang.
Với công nghệ và năng lực sản xuất sẵn có, công ty tập trung sắp xếp lại
cơ cấu lao động, tổ chức bộ máy quản lý khoa học, hợp lý hơn, tiếp tục cải tiến,
nghiên cứu sản phẩm mới, phương thức hạch toán mới.
-Tháng 10/2005 công ty đầu tư mới hệ thống máy bao gói bột canh tự
động, đến tháng 7/2006 đã đầu tư 7 máy bao gói tự động. Với việc tự động hoá
khâu bao gói dây chuyền sản xuất bột canh đã làm tăng chất lượng, giảm giá
thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế và cải thiện điều kiện làm việc cho
công nhân.
Phòng
đầu tư
XDCB
7
II.Mô hình tổ chức sản xuất` và tổ chức bộ máy quản trị
Hình 1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Châu
Bộ máy quản lý của Công ty.
- Số cấp quản lý của Công ty được chia làm hai cấp:
+ Cấp công ty
+ Cấp phân xưởng
Các phòng ban là cơ quan tham mưu cho giám đốc chuẩn bị các quyết
định cho Giám đốc chỉ huy sản xuất về kinh doanh.
Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo kiểu hệ thống trực tuyến -
chức năng.
Đại Hội đồng cổ đông
Hội đồng quản trị
Ban điều hành
Ban kiểm soát
Phòng
tổ
chức
Phòng
hành
chính
bảo vệ
Phòng
kỹ
thuật
Phòng
tài vụ
Phòng
đầu tư
XDCB
Phòng
kế
hoạch
vật tư
Phòng
kinh
doanh
thị
trường
XN
Quy
kem
xốp
XN
Bánh
Cao
cấp
XN
Gia
vị
TP
XN
Kẹo
Chi
nhánh
Hà
Nội
Chi
nhánh
Nghệ
An
Chi
nhánh
Đà
Nẵng
Chi
nhánh
TP
Hồ
Chí
Minh
8
- Hội đồng quản trị: Điều hành mọi hoạt động của công ty, ra các quyết
định quản trị, thống nhất hoạch định các chiến lược kinh doanh cũng như chiến
lược phát triển của doanh nghiệp
- Ban kiểm soát: Ban kiểm soát có những quyền hạn và nghĩa vụ sau đây:
Kiểm tra các sổ sách chứng từ và tài sản của công ty
Báo cáo trước đại hội cổ đông về các sự kiện tài chính bất thường sảy ra,
những ưu, khuyết điểm trong quá trình quản lý tài chính của Hội đồng quản trị.
- Ban điều hành: Phụ trách quản lý chung, quản lý toàn bộ hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty, chịu trách nhiệm toàn bộ trước cấp trên về hoạt
động của công ty.
- Phòng kỹ thuật: Quản lý về quy trình công nghệ, nghiên cứu sản phẩm
mới, thiết kế hay cải tiến mẫu mã bao bì.Đồng thời quản lý toàn bộ máy móc
thiết bị trong công ty, quản lý hồ sơ, lí lịch máy móc thiết bị, liên hệ với phòng
KHVT để có những phụ tùng, vật tư dùng cho hoạt động sửa chữa, trình ban
giám đốc và phòng KHVT chuẩn bị những phụ tùng cần thay thế, theo dõi việc
sử dụng máy móc thiết bị cũng như việc cung cấp điện cho toàn công ty trong
quá trình sản xuất.
- Phòng tổ chức: Phụ trách về công tác nhân sự, kế hoạch tiền lương, giúp
Tổng giám đốc xây dựng các phương án tổ chức bộ máy cán bộ quản lý, đề ra
các giải pháp an toàn lao động, vệ sinh lao động trong quá trình sản xuất, tổ
chức các khoá học và các hình thức đào tạo khác nhằm nâng cao tay nghề cho
công nhân cũng như cán bộ quản lý.
- Phòng kế toán tài chính: Quản lý công tác kế toán thống kê tài chính,
tham mưu cho Tổng giám đốc các công tác kế toán, thống kê, tài chính, tổ chức
thực hiện các nghiệp vụ tài chính, tính toán chi phí sản xuất và giá thành, lập các
chứng từ sổ sách thu – chi với khách hàng, nội bộ, theo dõi dòng lưu chuyển tiền
tệ của công ty, báo cáo giám đốc về tình hình kết quả hoạt động kinh doanh lỗ
lãi của công ty, tổng hợp đề xuất giá bán cho phòng kế hoạch vật tư.
9
- Phòng kế hoạch vật tư: Xây dựng các kế hoạch tiêu thụ sản xuất tác
nghiệp, kế hoạch giá thành và tiêu thụ sản phẩm, tham gia xây dựng các định
mức kinh tế kỹ thuật, quản lý và chịu trách nhiệm cung cấp các loại vật tư, máy
móc cũng như phụ tùng thay thế cho quá trình sửa chữa máy móc thiết bị và
quản lý các chi nhánh tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh
- Phòng hành chính bảo vệ: Quản lý công tác hành chính quản trị, tham
mưu cho Tổng giám đốc về công tác hành chính đời sống quản trị, tổ chức nhà
ăn, nhà trẻ, mẫu giáo, y tế, quản lý sức khoẻ, quản lý văn thư, lưu giữ tài liệu. Tổ
chức công tác bảo vệ công ty, tham mưu cho Tổng giám đốc về: công tác nội bộ,
tài sản, tuần tra canh gác ra vào công ty, phòng ngừa tội phạm, xử lý vi phạm tài
sản, tổ chức huấn luyện, bảo vệ, tự vệ, quân sự và thực hiện nghĩa vụ quân sự.
- Phòng đầu tư xây dựng cơ bản: Thực hiện công tác thiết kế xây dựng
cơ sở hạ tầng để tiếp nhận máy móc thiết bị mới hoặc để nâng cao hiệu quả sử
dụng của máy móc thiết bị cũ, kế hoạch xây dựng dài hạn và ngắn hạn, kế hoạch
sửa chữa nhỏ.
-Phòng kinh doanh thị trường: Tham mưu và giúp giám đốc trong việc
nghiên cứu và tìm kiếm mở rộng thị trường, nghiên cứu nhu cầu và sự biến đổi
nhu cầu của người tiêu dùng nhằm giúp công ty đưa ra được những sản phẩm có
tính cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường, từ đó xây dựng và củng cố thương hiệu
của công ty ngày càng vững mạnh.
- Các Xí nghiệp: Giám đốc xí nghiệp là người chịu trách nhiệm trước
giám đốc công ty về mọi hoạt động sản xuất của đơn vị. Các phó giám đốc XN,
các nhân viên kinh tế giúp xí nghiệp hoàn thành nhiệm vụ.
III.Những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật chủ yếu của công ty
1. Đặc điểm về sản phẩm của công ty
Sản phẩm của công ty bao gốm:
- Bánh các loại: Bánh Hương Thảo, bánh Hướng Dương, bánh Hải Châu,
lương khô, bánh quy kem, bánh quy bơ và bánh kem xốp các loại, bánh kem xốp
phủ Sôcôla các loại
10
- Kẹo các loại: Kẹo hoa quả, kẹo cam, kẹo cốm, kẹo sữa dừa, kẹo sữa
cứng sôcôla, kẹo tango, kẹo mềm sôcôla
- Bột canh các loại: Bột canh thường, bột canh Iốt, bột canh cao cấp.
- Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm nước uống có cồn và không có
cồn (hiện nay nước uống có cồn không còn kinh doanh nữa như rượu, bia, ).
- Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm mỳ ăn liền (trước đây).
- Kinh doanh vật tư nguyên liệu bao bì ngành công nghiệp thực phẩm.
- Xuất khẩu trực tiếp các mặt hàng Công ty được phép kinh doanh như vật
tư nguyên liệu của ngành bột mỳ, sữa, mỳ chính không qua uỷ thác xuất khẩu và
liên doanh liên kết với các thành phần kinh tế khác.
2. Đặc điểm về lao động
2.1 Cơ cấu lao động của CTCP bánh kẹo Hải Châu
Đặc điểm nổi bật của ngành sản xuất bánh kẹo kinh doanh là có tính mùa
vụ. Xuất phát từ đặc điểm trên nên nguồn nhân lực của Công ty bánh kẹo Hải
Châu luôn có sự biến động. Ngoài số công nhân viên chức hợp đồng chính thức
vào mùa vụ (cuối năm, dịp lễ, dịp tết, mùa cưới, ) Công ty thường phải ký hợp
đồng tuyển thêm công nhân, số lượng công nhân tuyển phụ thuộc vào nhu cầu
sản xuất và nhu cầu của thị trường.
11
Bảng 1: Tình hình sử dụng lao động
Phân loại
Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Số
lượng
(người)
Tỷ
trọng
(%)
Số
lượng
(người)
Tỷ
trọng
(%)
Số
lượng
(người)
Tỷ
trọng
(%)
Số
lượng
(người)
Tỷ
trọng
(%)
Tổng số lao động 1072 100 1069 100 852 100 804 100
-Theo Giới tính
Nam 316 29,5 359 33,6 283 33,2 267 33,2
Nữ 756 70,5 710 66,4 569 66,8 537 66,8
-Theo hình
thức làm việc
Lao động gián
tiếp
172 16,0 142 13,3 111 13,0 97 12,1
Lao động trực
tiếp
900 84,0 927 86,7 741 87,0 707 87,9
-Theo trình độ
Đại học 178 16,6 184 17,2 154 18,1 123 15,3
Cao đẳng, trung
cấp
64 6,0 59 5,5 51 6,0 74 9,2
Công nhân
kỹ thuật, PTTH
830 77,4 826 77,3 647 75,9 607 75,5
(Nguồn: Phòng tổ chức)
Nhìn vào bảng trên ta thấy:
-Do cuối năm 2004, công ty chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty
cổ phần, nên số lượng lao động của công ty có giảm so với trước.
- Lực lượng lao động gián tiếp chiếm khoảng 12,1-16% so với lực lượng
lao động Công ty có xu hướng giảm qua các năm, trong đó số lượng nhân viên
quản lý ở các phòng ban chức năng đã có xu hướng giảm xuống.
- Lực lượng lao động trực tiếp tăng chiếm khoảng 84-87,9%, trình độ lao
động của công nhân ngày càng được nâng lên (bậc thợ bình quân của công nhân
hiện nay là 4/7)
- Trình độ công nhân càng cao, chứng tỏ chính sách phát triển con người
hoàn toàn hợp lý. Số lượng lao động này cũng phản ánh được hiệu quả sản xuất
kinh doanh của Công ty.
12
- Nhìn về mặt giới tính, ta thấy lao động nữ lớn gấp khoảng 2- 2,4 lần so
với lao động nam. Điều này giải thích tính đặc thù của ngành sản xuất bánh kẹo,
đó là sự khéo léo, kiên trì, tỉ mỉ, không nặng nhọc.
- Xét về mặt trình độ học vấn của người lao động trong những năm trở lại
đây thì số lượng cán bộ công nhân có trình độ đại học, cao đẳng đang tăng lên,
đội ngũ nhân viên này tập trung ở các phòng ban của Công ty.
2.2. Tình hình trả lương, định mức và sử dụng thời gian lao động ở CTCP bánh
kẹo Hải Châu
a. Về mặt tiền lương: Công ty đã dùng nhiều hình thức trả lương hợp lý, phản
ánh đúng giá trị sức lao động của cán bộ công nhân viên. Từ đó tạo được tâm lý
phấn khởi nhiệt tình, hiệu quả và năng suất lao động được tăng lên rõ rệt. Hiện
nay Công ty áp dụng các hình thức trả lương sau:
+ Trả lương theo bậc và theo sản phẩm cho người lao động
+ Trả lương theo thời gian cho cán bộ quản lý
Ngoài ra Công ty còn áp dụng chế độ khen thưởng khác nhằm tăng thu
nhập cho cán bộ công nhân viên.
Bảng 2: Thu nhập của lao động trong những năm gần đây
Chỉ tiêu
ĐVT Năm Tốc độ tăng (%)
1.000 đ
200
3
2004
200
5
2006
04
so03
05 so
04
06 so
05
Thu nhập
bình quân
110
4
1150
140
0
1550
4.17 21.74 10.71
(Nguồn: Phòng tổ chức)
Nhìn vào bảng trên ta thấy thu nhập bình quân của người lao động có xu
hướng tăng lên qua các năm: Năm 2004 tăng 46.000đ so với năm 2003, tương
ứng tăng 4,17%, năm 2005 tăng 250.000đ so với năm 2004, tương ứng tăng
21,74%, năm 2006 tăng 150.000đ so với năm 2005, tương ứng tăng 10,71%.
13
b. Định mức: khoán một ngày (công) là 100 kg nhưng nếu người công nhân
đóng gói được 110 kg thì 10 kg đóng gói tăng thêm sẽ được tính tăng lên 2% so
với số tiền trả theo định mức của 1 kg bột canh. Ngoài ra cuối tháng còn được
thưởng vì tăng năng suất.
Lương phép được tính bằng lương chính, lương ngừng sản xuất do ngừng
việc được tính 70% lương cấp bậc, lương ngừng sản xuất do chờ việc được
hưởng theo mức lương cơ bản (350.000 đ/tháng) chế độ lao động 45h/tuần,
lương phép được tính trước theo kế hoạch. Thanh toán lương được chia làm 2 kỳ
trong tháng (ngày 02 và ngày 15 của tháng).
c. Thời gian lao động: Chế độ lao động là 45h/tuần đối với công nhân dài hạn
biên chế được hưởng 12 ngày phép, ốm và 7, 5 ngày nghỉ lễ trong một năm.
2.3. Về chế độ tuyển dụng và đào tạo của công ty
Hiện nay ngoài việc tuyển dụng nhân viên theo quy trình tuyển dụng kiểu
Âu -Mỹ công ty còn thực hiện chế độ tuyển dung là lao động đã qua đào dụng
và có thể đáp ứng được ngay yêu cầu của công, những sinh viên đã thực tập tại
công ty nếu đáp ứng được yêu cầu của công ty thì sau quá trình thực tập nếu họ
có nhu cầu vào làm ở công ty thì sẽ được tuyển dụng. Hàng năm công ty có thực
hiện chính sách đào tạo nghiệp vụ chuyên môn cho nhân viên quản lý và thi lên
tay nghề cho công nhân
Nhận xét: Tình hình lao động của công ty là tương đối hợp lý về cơ cấu,
về mặt nhân viên quản lý thì hầu hết đã có bằng đại học, về công nhân kỹ thuật
với tay nghề trung bình là 4/7 nên có thể đáp ứng được công nghệ của công ty.
Về mặt tiền lương của công ty và đào tạo luôn luôn khuyến khích được tinh thần
làm việc của công nhân. Việc sử dụng theo gian lao động của công ty luôn theo
đúng quy định của nhà nước và công tác tuyển dụng của công ty là khoa học
đồng thời cũng mang những nét riêng của mình.
3. Đặc điểm về công nghệ và thiết bị
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét