Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính cúa khách hàng.doc

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

trực tiếp dới hình thức tín dụng thơng mại hoặc doanh nghiệp trực tiếp phát
hành trái phiếu có những hạn chế vì các chủ thể khó có thể biết rõ đợc khả
năng và nhu cầu vốn của nhau. Hơn nữa, để có thể chuyển nhợng vốn cho
nhau cần có sự tin tởng. Hạn chế này đòi hỏi phải có ngân hàng đứng ra làm
trung gian để giúp chuyển vốn từ nơi thừa vốn sang nơi tạm thời thiếu vốn.
Với chức năng này NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên
trong quan hệ là ngời gửi tiền, ngân hàng và ngời đi vay và đảm bảo lợi ích
của nền kinh tế.
Chức năng tạo phơng tiện thanh toán
Trớc đây, các ngân hàng thợ vàng tạo phơng tiện thanh toán khi phát
hành giấy nhận nợ với khách hàng. Với nhiều u thế, dần dần giấy nhận nợ
của ngân hàng đã thay thế tiền kim loại làm phơng tiện lu thông và phơng
tiện cất trữ; nó trở thành tiền giấy.
Với nhu cầu có đồng tiền quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc nhà nớc
tập trung quyền lực phát hành tiền giấy vào một tổ chức hoặc là Bộ tài chính
hoặc là Ngân hàng trung ơng. Từ đó chấm dứt các ngân hàng thơng mại tạo
ra các giấy bạc của riêng mình.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng
nhận thấy nếu họ có đợc số d trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể
chi trả để có đợc hàng hoá và các dịch vụ theo yêu cầu. Theo quan điểm
hiện đại, đại lợng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong
lu thông(Mo), thứ hai là số d trên tài khoản tiền gửi giao dịch của khách
hàng tại ngân hàng, thứ ba là tiền gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết kiệm và
tiền gửi có kì hạn Khi ngân hàng cho vay, số d trên tài khoản tiền gửi
thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng
và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay các ngân hàng đã tạo ra phơng tiện
thanh toán.

5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phơng tiện thanh toán khi các
khoản tiền gửi đợc mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ
sở cho vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để
chi trả thì sẽ tạo nên khoản thu( tức làm tăng số d tiền gửi) của một khách
hàng khác tại một ngân hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới.
Trong khi không một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ
d thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lợng tiền gửi( tạo ph-
ơng tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay(tạo tín dụng).
Chức năng trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết
các quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị
hàng hoá và dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng thuận tiện và tiết
kiệm chi phí, ngân hàng đa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán
nh thanh toán bằng sec, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ cung cấp
mạng lới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách
hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông
qua ngân hàng trung ơng hoặc thông qua các trung tâm thanh toán. Công
nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi qui mô sử dụng
công nghệ đó càng đợc mở rộng. Vì vậy, công nghệ thanh toán hiện đại qua
ngân hàng thờng đợc các nhà quản lý tìm cách áp dụng rộng rãi.
1.1.1.3.Các hoạt động chính của ngân hàng thơng mại.
Theo luật các Tổ chức tín dụng(12/12/1997), NHTM đợc tiến hành
tất cả các hoạt động kinh doanh theo luật định bao gồm 3 lĩnh vực hoạt
động sau:
Hoạt động huy dộng vốn
Theo luật, NHTM đợc thực hiện các hình thức huy động vốn sau:
Nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn giữa các tổ chức tín
dụng, vay vốn của ngân hàng nhà nớc.

6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

Tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại ngân hàng dới hình thức
tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.
Giấy tờ có giá bao gồm chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có
giá khác đợc phát hành trên thị trờng tiền tệ, thị trờng vốn để huy động vốn
của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nớc.
Các NHTM có thể vay vốn của các Tổ chức tín dụng trong và ngoài
nớc dới nhiều hình thức khác nhau: vay theo hợp đồng mua lại, vay theo
hình thức bảo lãnh,
Theo quy định tại Điều 30 của luật NHNN Việt Nam, NHTM đợc
vay vốn của NHNN dới hình thức tái cấp vốn, theo các loại sau: Cho vay
theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu và tái chiết khấu các thơng phiếu, cho vay
có đảm bảo bằng cầm cố thơng phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác,
trong trờng hợp đặc biệt khi đợc thủ tớng chính phủ chấp thuận, NHNN cho
vay đối với các NHTM, Tổ chức tín dụng tạm thời mất khả năng chi trả, có
nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống các Tổ chức tín dụng hoặc trong tr-
ờng hợp có sự chỉ định của thủ tớng chính phủ, NHNH thực hiện bảo lãnh
cho tổ chức tín dụng vay vốn nớc ngoài.
Hoạt động sử dụng vốn.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trong nền kinh tế đều muốn
tìm kiếm lợi nhuận. Ngân hàng không ngoại lệ, hoạt động huy động vốn của
ngân hàng đã đem lại cho ngân hàng một khoản vốn với tính chất là vốn đi
vay. Điều đó có nghĩa là ngân hàng phải trả lãi suất cho các khoản đó đến
từng giờ. Vậy ngân hàng sẽ phải sử dụng nguồn vốn đó nh thế nào để có đ-
ợc lợi nhuận. Các ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận thông qua các hoạt động
cho vay, đầu t vào các dịch vụ sinh lãi. Hiện nay, các NHTM đợc thực hiện
các hoạt động sử dụng vốn sau: Cho vay; chiết khấu thơng phiếu và cầm cố
các chứng từ có giá; bảo lãnh ngân hàng; cho thuê tài chính và các hình
thức khác theo quy định của NHNN.

7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

Cho vay là hoạt động chính của ngân hàng để thu lợi nhuận. Nó
quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NHTM. Hình thức pháp lý của
hoạt động cho vay là hợp đồng tín dụng, có hai loại hợp đồng thông dụng:
Hợp đồng cho vay có đảm bảo( bằng tài sản, bằng tín chấp) và hợp đồng
cho vay không có đảm bảo.
Chiết khấu chứng tờ có giá ngắn hạn là nhiệm vụ mà ngân hàng sẽ
giao cho khách hàng một lợng tiền bằng mệnh giá chứng từ chiết khấu trừ
đi lệ phí chiết khấu trong thời hạn của hiệu lực chứng từ chiết khấu.
Bảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng dới hình thức th
bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân
hàng khi không thực hiện đúng nghĩa vụ nh cam kết.
Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua
việc cho thuê máy móc, thiết bị, phơng tiện vận chuyển và các động sản
khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là Tổ chức tín
dụng, NHTM với khách hàng thuê là các tổ chức, cá nhân. Khi kết thúc
thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều
kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê. Trong thời hạn thuê, các bên không
đợc đơn phơng huỷ bỏ hợp đồng.
Hoạt động trung gian.
Hoạt động này còn gọi là dịch vụ thanh toán và ngân quỹ ( có thu
phí). Ngân hàng cung cấp phơng tiện thanh toán và làm trung gian trong các
quan hệ thanh toán. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân
hàng là: Séc, uỷ nhiệm thu, chuyển tiền, uỷ nhiệm thu, th tín dụng, th thanh
toán, ngân phiếu thanh toán.
Các hoạt động khác.
Hoạt động quan trọng nhất là kinh doanh ngoại hối. Ngoài ra còn có
các hoạt động nh: góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các Tổ
chức tín dụng khác, tham gia thị trờng tiền tệ, uỷ thác, nhận uỷ thác, làm

8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

đại lý, kinh doanh bất động sản, dịch vụ t vấn, bảo quản vật có giá, cầm đồ,

Trên đây là những nghiên cứu sơ lợc về sự hình thành và phát triển
của các NHTM, chức năng và các hoạt động kinh doanh của NHTM. Để
làm rõ nội dung phân tích tài chính của khách hàng tại NHTM trong quá
trình phân tích tín dụng, chúng ta sẽ nghiên cứu các nội dung sau:
1.1.2.Sự cần thiết phân tích tài chính của khách hàng tại NHTM.
Vô số các rủi ro khác nhau khi cho vay: rủi ro tín dụng, rủi ro hối
đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản bắt nguồn từ nhiều yếu tố khác
nhau và có thể dẫn đến việc không hoàn trả nợ khi đến hạn. Các thiệt hại
đôi khi nảy sinh từ nguyên nhân thiên tai nh bão lụt, hạn hán, hoả hoạn,
động đất. Những thay đổi về nhu cầu ngời tiêu dùng hoặc về kỹ thuật của
một ngành công nghiệp có thể làm sụp đổ cả sơ đồ của một hãng kinh
doanh và đặt ngời đi vay cụ thể nào đó đã có thời làm ăn có lãi lâm vào
cảnh thua lỗ. Một cuộc đình công kéo dài, việc giảm giá để cạnh tranh,
hoặc việc mất một ngời quản trị giỏi có thể làm giảm thiệt hại nghiêm trọng
đến khả năng hoàn trả tiền vay của ngời vay. Sự hng thịnh hay suy thoái của
chu kỳ kinh doanh ảnh hởng đến lợi nhuận của ngời vay và gây nên niềm
vui hay nỗi buồn của ngời kinh doanh, cũng nh ngời tiêu dùng. Một số rủi
ro nảy sinh từ các yếu tố riêng rẽ khó giải thích. Để quyết định có chấp
nhận cho vay hay không, nhà quản trị ngân hàng phải cố gắng ớc lợng rủi ro
không hoàn trả. Rủi ro này có thể dự đoán trong một quá trình kéo dài, bằng
những phân tích tỉ mỉ về các mặt tài chính, phi tài chính của khách hàng.
Trên thực tế, việc xác định các thông số phi tài chính nh uy tín, năng lực,
đạo đức, mục đích sử dụng vốn vay, là rất khó, mang tính chất định tính.
Vì vậy, những thông tin tài chính định lợng là rất quan trọng đối với ngân
hàng trong đánh giá, lựa chọn khách hàng. Phân tích tài chính của khách
hàng cho ngân hàng xác định đợc các yếu tố về lợng của nhu cầu vay vốn
tín dụng, xác định đợc thời hạn hợp lý của khoản vay, xác định kỳ hạn trả

9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

nợ đối với từng khách hàng. Nh vậy, phân tích tài chính của khách hàng
không chỉ là nhu cầu thiết thực mà còn là đòi hỏi bắt buộc đối với mỗi
NHTM.
Có thể hiểu phân tích tài chính của khách hàng tại NHTM là một
tập hợp các khái niệm, phơng pháp và công cụ cho phép thu thập, xử lý các
thông tin kế toán và các thông tin khác nhằm đánh giá tình hình tài chính,
khẳ năng và tiềm lực của khách hàng giúp ngân hàng đa ra các quyết định
tài trợ.
Phân tích tài chính của khách hàng tại các NHTM nhằm đạt đợc
những mục tiêu sau:
Xác định đợc tình hình tài chính của khách hàng: giá trị tài
sản, tình hình nợ, nhu cầu tài trợ, khả năng thanh toán
Dự báo về tài chính trong tơng lai của khách hàng: khả năng hoạt
động kinh doanh, khả năng sinh lời, khả năng hoàn trả nợ vay
Đảm bảo cho ngân hàng thu đợc cả lãi lẫn gốc đúng hạn, giảm rủi
ro tín dụng, tránh gây thất thoát vốn cho ngân hàng.
Phân tích tài chính của khách hàng về cơ bản, giống nhau trong tất cả
các NHTM, nhng ở một số ngân hàng, ngời ta nhấn mạnh đến một số
chỉ tiêu này trong khi đó, các ngân hàng khác lại nhấn mạnh đến một số
chỉ tiêu khác.
1.2.Nội dung phân tích tài chính của khách hàng tại
Ngân hàng thơng mại.
1.2.1.Thu thập thông tin sử dụng trong phân tích tài chính của khách
hàng tại NHTM.
Thông tin là nguồn quan trọng có ảnh hởng lớn nhất đến quá trình
phân tích tài chính của khách hàng. Bởi muốn đa ra một quyết định tài trợ
thì ngân hàng phải biết rõ ràng về năng lực tài chính của khách hàng. Các

10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

nguồn thông tin mà ngân hàng thu thập đợc bao gồm các thông tin nội bộ,
thông tin bên ngoài, thông tin do khách hàng cung cấp và do cán bộ tín
dụng tự điều tra, bao gồm:
- Phỏng vấn trực tiếp: Phỏng vấn trực tiếp là rất quan trọng bao gồm
việc gặp gỡ trực tiếp giữa ngân hàng và ngời vay vốn: thăm quan nhà xởng,
văn phòng, nói chuyện với giám đốc, qua đó giúp cho cán bộ tín dụng có
một ý niệm nào đó về tính thật thà và khả năng của ngời vay.
- Mua hoặc tìm kiếm các thông tin qua các trung gian: nh các cơ
quan quản lý, các bạn hàng của khách hàng, các cơ quan kiểm toán, cơ
quan thuế, hải quan, trung tâm tín dụng của NHNN CIC, Qua các
trung gian, ngân hàng phân tích đợc ngời vay qua các mối liên hệ của họ,
cho thấy uy tín, trình trạng rủi ro, phát triển hay suy thoái.
- Thông qua hồ sơ vay vốn của khách hàng: Đó là điều kiện bắt buộc
đối với mọi khách hàng khi muốn vay vốn của ngân hàng. Với khách hàng
là những doanh nghiệp, hồ sơ sẽ bao gồm các báo cáo tài chính nh : Bảng
cân đối kế toán ( mẫu số B01-DN ), báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh
( mẫu số B02- DN), báo cáo lu chuyển tiền tệ (mẫu số B03-DN), thuyết
minh báo cáo tài chính ( mẫu số B09-DN), và bảng kế hoạch tài chính trong
tơng lai. Các báo cáo này cho thấy số liệu trong nhiều năm đã qua, vì vậy
giúp ngân hàng có cơ sở để dự đoán về tình hình của khách hàng trong tơng
lai gần. Ngân hàng sử dụng các báo cáo này để ớc tính nhu cầu vốn, trong
đó có nhu cầu tài trợ, đánh giá khẳ năng sinh lời và khẳ năng trả nợ của
khách hàng, các thiệt hại có thể xảy ra nếu khách hanhg không trả, hoặc
không trả đầy đủ,
Với các khách hàng là hộ sản xuất kinh doanh, căn cứ trên các mẫu
biểu sổ sách theo qui định, ngân hàng hớng dẫn hộ lập báo cáo kết quả sản
xuất kinh doanh và bảng cân đối kế toán của hộ. Với khách hàng là cá nhân,
hồ sơ sẽ gồm những tài liệu chứng minh tài sản cá nhân, lơng và các thu
nhập khác.

11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

1.2.2.Các phơng pháp phân tích tài chính của khách hàng.
Phơng pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ
và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tợng, các mối liên
hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các
chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tài chính doanh nghiệp
Hiện nay các NHTM thờng sử dụng hai phơng pháp phân tích tài
chính đó là phơng pháp so sánh và phơng pháp phân tích tỷ lệ.
Phơng pháp so sánh: Một chỉ tiêu tài chính đơn thuần cha thể hiện
đầy đủ mức độ đạt đợc của doanh nghiệp nh thế nào, chỉ thông qua so sánh
ta mới thấy sự tăng trởng phát triển hay suy thoái của chỉ tiêu đó.
Để thực hiện đợc phơng pháp so sánh, cần phải thống nhất các điều
kiện so sánh về không gian, thời gian, nội dung, đơn vị tính và tuỳ theo
mục đích so sánh để xác định gốc so sánh là kỳ báo cáo hay kỳ kế hoạch, số
tuyệt đối, số tơng đối hay số bình quân. Nội dung so sánh gồm:
- So sánh số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trớc để thấy đợc
xu hớng thay đổi về tài chính của khách hàng, qua đó đánh giá sự tăng tr-
ởng hay đi xuống trong hoạt động kinh doanh của khách hàng.
- So sánh số liệu của khách hàng với số liệu trung bình của ngành,
và với số liệu của khách hàng khác để đánh giá tình hình tài chính của
khách hàng là tốt hay xấu.
- So sánh theo chiều dọc để thấy đợc tỷ trọng của từng chỉ tiêu
trong tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy đợc sự biến
đổi cả về số tuyệt đối và số tơng đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên
độ kế toán liên tiếp.
Phơng pháp phân tích tỷ lệ: Phơng pháp này dựa trên các chuẩn
mực
của các tỷ lệ đại lợng tài chính. Sự biến đổi của các tỷ lệ phản ánh sự biến
đổi của các đại lợng tài chính. Vì vậy thông qua phân tích tỷ lệ để xác định

12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

và so sánh các đinh mức hoặc các ngỡng làm cơ sở đánh giá tình hình, so
sánh các tỷ lệ của khách hàng đã tính toán với các tỷ số tham chiếu. Nh vậy
phơng pháp so sánh luôn đợc phối hợp với phơng pháp tỷ lệ.
Các nhóm tỷ lệ chủ yếu đợc dùng trong phân tích tài chính của
khách hàng gồm 4 nhóm:
- Nhóm các tỷ số về khả năng thanh toán
- Nhóm tỷ số về khả năng cân đối vốn hoặc cơ cấu vốn
- Nhóm tỷ số về khả năng hoạt động
- Nhóm tỷ số về khả năng sinh lãi
1.2.3.Quy trình phân tích tài chính của khách hàng tại NHTM.
1.2.3.1. Phân tích trớc khi cho vay.
Phân tích trớc khi cho vay là bớc quan trọng nhất, quyết định đến
chất lợng của phân tích tín dụng. Nội dung chủ yếu là thu thập thông tin và
xử lý thông tin liên quan đến khách hàng. Việc phân tích trong giai đoạn
này tập trung vào phân tích khả năng sinh lợi, phân tích rủi ro từ đó xác
định khả năng trả nợ của khách hàng.
Khả năng sinh lợi của khách hàng cao thì khă năng trả nợ là cao và
ngợc lại vì khả năng sinh lợi của doanh nghiệp cho biết quy mô và tính chất
lợi nhuận tạo ra. Để phân tích khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, Ngân
hàng dựa vào các chỉ tiêu thể hiện trên báo cáo kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh và các tỷ lệ, chỉ tiêu thể hiện khả năng sinh lợi của của doanh
nghiệp nh: hệ số sinh lợi doanh thu, hệ số sinh lợi tài sản,
Rủi ro là khả năng mà một sự kiện không thuận lợi nào đó sẽ xuất
hiện, rủi ro xảy ra cho doanh nghiệp cũng chính là rủi ro cho ngân hàng. Vì
vậy trớc khi đa ra quyết định tài trợ nhất thiết ngân hàng phải phân tích rủi
ro cho khoản vay đó. Để phân tích rủi ro, ngân hàng dựa vào các chỉ tiêu thể
hiện trên bảng cân đối kế toán và các tỷ lệ thể hiện mức độ rủi ro trong hoạt

13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

động sản xuất kinh doanh nh: tỷ lệ về khả năng thanh toán, tỷ lệ về năng lực
hoạt động,
1.2.3.2.Phân tích trong khi cho vay.
Trong khi cho vay, quyền sử dụng vốn của ngân hàng đã đợc chuyển
sang cho doanh nghiệp nhng vẫn có quyền và nghĩa vụ kiểm tra, theo dõi
món vay.Dới góc độ của phân tích tài chính khách hàng, ngân hàng cần
quan tâm đến các nội dung nh: xác định nguồn trả nợ của doanh nghiệp,
phân tích lại các chỉ tiêu thể hiện khả năng sinh lời, độ rủi ro trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mục đích của việc phân tích
trong khi cho vay là nhằm xác định xem khoản vay có vấn đề hay không, có
quyết định tiếp tục hay chấm dứt mối quan hệ tín dụng đó.

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét