Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Thực trạng các nghành nghề trên địa bàn xã Liêm Chính - TX Phủ Lý - tỉnh Hà Namư

Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh tế 45C
Chơng i
một số lý luận và thực tiễn
về phát triển ngành nghề của hộ nông dân
1.1.Vai trò của ngành nghề
Các ngành nghề phi nông nghiệp có vai trò rất to lớn đến sự phát triển của hộ nông
dân. Dới hình thức là các hoạt động dịch vụ, ngành nghề tiểu thủ công truyền thống,
Các hoạt động này đã giải quyết những vấn đề rất cơ bản của hộ.Các nhề truyền thống
(làm thêu, mây tre đan, làm đậu, làm bánh ) đã thu hút rất nhiều lực l ợng lao động ở địa
phơng, nhất là những lúc nông nhàn, đặc biệt đặc điểm địa phơng đất chật ngời đông, diện
tích sản xuất cây lơng thực thực phẩm ngày càng thu hẹp, cộng thêm các dự án về quy
hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, quy hoạch đô thị, chơng trình dãn dân là các yếu tố trực
tiếp đẩy hộ nông dân vốn sản xuất nông nghiệp là chính phải xem xét lại phơng thức sản
xuất của mình cho phù hợp. Từ đó các ngành nghề phi nông nghiệp đợc coi là giải pháp
hữu hiệu giải quyết vấn đề d lao động- thiếu việc làm ở địa phơng. Các nghề truyền thống
là các nghề mà một số hộ giữ đợc lợi thế tuyệt đối của mình trớc ảnh hởng của d luận và
thời gian mà mấu chốt đó là các bí quyết sự lành nghề dẫn đến sản phẩm sản xuất ra đạt
yêu cầu thị hiếu của cầu tiêu thụ về phẩm chất, hình thức, kiểu dáng, chi phí, hàm lợng
chất xám, độ tinh xảo. Sự lành nghề có kĩ xảo, có năng lực đợc mang lại kết quả là các sản
phẩm làm ra sẽ có chi phí thấp lại đợc a chuộng tất yếu hộ sản xuất sẽ có thu nhập tốt, có
sức ổn định. Các vấn đề xã hội (nh ma tuý, mại dâm, cờ bạc) đặt ra cho địa phơng nơi mà
cách xa trung tâm tỉnh lỵ không xa đòi hỏi phải có phơng án giải quyết xuất phát từ căn
nguyên của vấn đề: việc làm là vấn đề bức bách mà muốn có nhiều việc làm có thu nhập,
giải quyết sự nhàn nhã thì phát triển các nghành nghề phi nông nghiệp là giải pháp hữu
hiệu để giúp các thành viên của hộ không xa phải con đờng tội lỗi xấu xa. Việc làm ngoài
ngoài nông nghiệp giúp hộ chủ động hơn dới ảnh hởng bất trắc (rủi ro) của thời tiết, thiên
nhiên, sâu bệnh.
Quá trình phát triển này sẽ giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế của hộ của địa phơng theo h-
ớng giảm tỷ lệ nông nghiệp xuống và tăng giá trị ngành nghề phi nông nghiệp lên.
1.2.Một số khái niệm cơ bản
5
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh tế 45C
Ngành nghề trong các hộ nông dân bao gồm công nghiệp tiểu thủ công nghiệp và
các hoạt động dịch vụ cho sản xuất và đời sống. Các tổ chức hộ với mức độ khác nhau đều
có thể sử dụng các nguồn lực sẵn có ở địa phơng nh đất đai lao động, các sản phẩm từ
nông nghiệp và các nguồn lực khác cộng thêm các kinh nghiệm sản xuất kinh doanh đợc
tích luỹ kế thừa để làm ra các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Các ngành nghề trong hộ đ-
ợc biểu trng bởi số lợng các ngành nghề với quy mô các yếu tố sản xuất, trình độ công
nghệ đợc sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm có chất lợng đợc a chuộng và phù hợp với
nhu cầu và thị hiếu của ngời tiêu dùng nh thế nào. Sự phát triển các ngành nghề trong các
hộ nông dân là sự tăng số hộ có ngành nghề và sự chuyển biến tích cực trong nội tại các
ngành nghề mà hộ đảm nhận nh công nghệ trình độ tay nghề, sự lành nghề, sự đa dạng
hoá sản phẩm cùng một đầu vào, chất lọng sản phẩm tăng lên Các ngành nghề mà hộ
nông dân tổ chức có hiệu quả sẽ thúc đẩy kinh tế hộ phát triển từ đó phát triển kinh tế xã
hội của địa phơng.
1.3. Đặc điểm ngành nghề nông thôn
Ngành nghề trong các hộ nông dân rất đa dạng: có ngành nghề lấy các sản phẩm từ
nông nghệp thuần tuý qua chế biến phục vụ nhu cầu sống của con ngời nh nghề làm bún,
làm đậu phụ, nấu rợu ; có ngành nghề tận dụng vị trí gần trung tâm kinh tế văn hoá để
phát triển nh làm thuê, may, đan, thêu, mộc, cơ khí ; với những hộ nằm ngay đờng trục
chính thì có cơ hội tốt để phát triển nghề buôn bán thông thơng và làm dịch vụ đầu vào
cho sản xuất nông nghệp hay dịch vụ cho đời sống con ngời. Các ngành nghề này có một
số đặc điểm sau:
- Không hay ít chịu tác động của thời tiết khí hậu hơn nghề nông nghệp truyền thống.
- Đất đai không phải là t liệu sản xuất chủ yếu nhng lại là cơ sở để sản xuất ngành
nghề tồn tại và phát triển.
- Các ngành nghề có sử dụng các sản phẩm đầu vào từ nông nghệp ít nhiều chịu ảnh
hởng của tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp.
- Công nghệ dùng cho sản xuất kinh doanh có xen kẽ thủ công thô sơ và cơ khí.
- Quy mô ngành nghề hầu hết đều nhỏ.
- Phụ thuộc rất nhiều vào thị trờng đặc biệt là các sản phẩm chế biến từ nông sản.
- Chất lợng các sản phẩm làm ra phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm tích luỹ của hộ.
6
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh tế 45C
1.4. Các nhân tố ảnh hởng đến sự phát triển các ngành nghề trong hộ nông dân
a. Nhân tố nội tại của hộ nông dân: Nh tiềm lực về vốn, kinh tế sẵn có, trình độ năng
lực chuyên môn của chủ hộ.Hộ là đơn vị kinh tế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mình về
kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình: Các quyết định đầu t sản xuất kinh
doanh không phải ai khác mà chính do chủ hộ quyết định do đó trình độ của chủ hộ, của
các thành viên có sức ảnh hởng rất lớn đến quá trình tồn tại và phát triển cuỉa hộ. Chủ hộ
mà có kiến thức, có kinh nghiệm trên thị trờng, trong xã hội, biết nắm bắt thời cơ, biết vận
động năng động trớc rủi ro từ bên ngoài sẽ tạo cho hộ khả năng đứng vững, phát triển bền
vững trớc thời cuộc.
b. Nhân tố thị trờng: Những hộ chuyên ngành nghề nhất là chế biến các sản phẩm từ đầu
vào nông sản tạo ra sản phẩm có thời gian sử dụng thấp bảo quản khó khăn có yêu cầu gay
gắt về thị trờng.
c. Nhân tố địa lý: Hộ nằm trên các trục đờng chính, gần khu đông đúc dân c càng có
điều kiện kinh doanh dịch vụ tốt hơn.
d. Nhân tố kĩ thuật: Các nghề truyền thống nh mộc, nề, thiêu, đan, may, sửa chữa máy
móc thiết bị đòi hỏi sự lành nghề đặc biệt các hoạt động chế biến nông sản nh làm đậu,
nấu rợu, làm bánh kẹo phải cần có sự tích luỹ kinh nghiệm. Các hoạt động sản xuất công
cụ cho đầu vào của hoạt động khác, các hoạt động sản xuất các vật phẩm tiêu dùng nh sản
xuất ra dao, kéo, cày, bừa, máy tuốt lúa đạp chân, cổng sắt cũng đòi hỏi yêu cầu phải
đáp ứng thị hiếu khách hàng tiêu dùng phải phù hợp với hoàn cảnh ứng dụng các sản
phẩm đó. Những hộ buôn bán nhỏ nh hộ buôn bán các sản phẩm nông sản bán ra thị tr-
ờng, bán các hàng hoá tiêu dùng ở chợ hay tại gia đình nơi thuận tiện lu thông hàng hoá
và dễ kiếm lời buộc hộ phải năng động trong việc phải nắm bắt thị trờng để có phản ứng
linh hoạt.
đ. Nhân tố chính sách: Các chính sách của chính phủ đa ra nh chính sách đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế trong hộ nông dân, chính sách đất đai, xoá đói giảm nghèo, cơ sở hạ tầng
nông thôn tuỳ vào mức độ tác động mà hộ có ảnh h ởng khác nhau. Phần lớn các chính
sách này có độ nhạy cảm với vấn đề phát triển kinh tế của nông thôn mà hộ nông dân là
một chủ thể, vấn đề xoá đói giảm nghèo, phát triển cải thiện cơ sở hạ tầng, cải thiện các
7
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh tế 45C
điều kiện sống cho nông dân Các chính sách mà chính phủ đ a ra luôn luôn xuất phát từ
nhu cầu thực tai khách quan để tháo gỡ những vấn đề nan giải của xã hội.
e. Nhân tố cộng đồng xã hội: Đó là các phong tục tập quán, thuần phong mỹ tục, truyền
thống của cộng đồng gây ảnh hởng trực tiếp hay gián tiếp tới sự phát triển ngành nghề
trong các hộ nông dân. Nghề làm đậu phụ, nấu rợu, làm bánh đa sở dĩ tồn tại và phát
triển đợc do phong tục nuôi lợn để lấy phân bón ruộng cũng do tục lệ uống rợu trong các
ngày lễ. Tâm lý bảo thủ chậm tiến mang nặng tính phong kiến cổ hủ của xã hội trớc cũng
ảnh hởng không nhỏ tới tâm lý mở rộng sản xuất kinh doanh trong hộ ngành nghề do lo sợ
bị thua lỗ phá sản.
1.5. Các chính sách của Đảng và Nhà nớc về phát triển ngành nghề nông thôn
Các chính sách của Đảng và Nhà nớc về phát triển kinh tế nông thôn mà hộ nông
dân là một chủ thể chủ yếu của nông thôn đã tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế xã
hội nông hộ của đất nớc.Đất nớc ta là một đất nớc xuất phát điểm từ nông nghiệp trớc
cách mạng tháng 8 năm 1945 khi mà đất nớc ta nửa thuộc địa nửa phong kiến bị áp bức
bóc lột mất quyền độc lập tự do, xét trên cả nớc giai cấp địa chủ chỉ có 3% dân số đã
chiếm 41.4% ruộng đất, nông dân lao động lại chiếm tới 97%dân số nhng chỉ có 36% diện
tích đất, số còn lại thuộc đồn điền của pháp và đất công. Các nghành kinh tế quan trọng
nh thơng mại, khai thác mỏ đều do pháp quản lý. Các th ơng gia, các nhà doanh nghiệp
Việt Nam bị chèn ép cô lập không phát triển đợc. Sau khi nớc nhà độc lập, công cuộc cải
cách ruộng đất ở miền Bắc năm 1956 đa số hộ nông dân ít nhiều đều có đất trực tiếp sản
xuất nông nghiệp, các nghành sản xuất khác đợc khôi phục và khuyến khích phát triển,
nét đặc trng ở giai đoạn này là hộ nông dân sản xuất hoàn toàn cá thể.
Giai đoạn 1960- 1980 đợc định hình bởi kinh tế tập thể. Từ năm 1958 tiến hành hợp
tác hoá, đến cuối năm 1960 có 84% nông hộ đã tham gia vào hợp tác xã sản xuất nông
nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, từ đó làm cho môi trờng sản xuất kinh doanh của nông hộ
thay đổi căn bản. Hiến pháp năm 1959 đã xác định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, mọi
quan hệ mua bán trao đổi đất bị cấm nghiêm ngặt. Giai đoạn này hộ nông dân sản xuất
nông nghiệp là chính các nghành khác nhất là buôn bán lu thông hàng hoá kiếm lời bị tê
liệt hoàn toàn, mọi hoạt động phi nông nghiệp đều thuộc sự quản lý của nhà nớc dới hình
thức hợp tác xã. Trong hợp tác xã sản xuất nông nghiệp nông hộ đợc tập thể giành cho 5%
8
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh tế 45C
đất canh tác để làm kinh tế phụ gia đình hay kinh tế phụ xã viên. Với 5% đất canh tác
nhng đã sản xuất ra 48%giá trị sản lợng nông nghiệp, 50% - 60% thu nhập của hộ. Tuy
không công khai nhng kinh tế nông hộ đã thực sự là cơ sở đảm bảo cho kinh tế tập thể tồn
tại. Nông hộ đợc chia thành 2 loại:
Loại 1: gồm các hộ nông dân cá thể ngày càng giảm có phân biệt đối xử sản xuất
luôn bị kìm hãm bó buộc.
Loại 2: gồm các hộ gia đình xã viên trong hợp tác xã và hộ công nhân viên trong
các lâm trờng loai này có nguồn thu nhập từ kinh tế tập thể thông qua ngày công đóng góp
hoặc tiền lơng và thu từ đất 5% với số vật t và lao động còn lại mà hợp tác xã huy động
đến kinh tế nông hộ với sản xuất nông nghiệp là chính chỉ giới hạn 5% phần đất, kinh tế
hợp tác xã đình đốn, kinh tế quốc doanh thua lỗ nên thu nhập từ kinh tế tập thể trong tổng
thu của hộ có sự biến đổi lớn: kinh tế tập thể chiếm 70% - 75% còn kinh tế nông hộ chỉ
chiếm 25% -30%. Do thu nhập từ kinh tế tập thể thấp đã làm cho nông đân xã viên chán
nản, muốn xa nền kinh tế tập thể.
Giai đoạn 1981-1987 trớc thực trạng kinh tế tập thể đình đốn, khủng hoảng lơng
thực thờng xuyên xảy ra nghiêm trọng, nền kinh tế đất nớc đình đốn, kinh tế nông hộ bị
hạn chế không phát triển đợc thì nghị quyết TW6 tháng 9 năm 1979 xác định những vấn
đề kinh tế - xã hội cấp bách nhằm tìm giải pháp đa đất nớc thoát khỏi khủng hoảng. Xuất
phát từ thực trạng đó Bộ chính trị đã ban hành Chỉ thị 100 ngày 13/01/1981 về cải tiến
công tác khoán mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và ngời lao động trong hợp tác xã. Xã
viên đợc đầu t vốn, sức lao động đợc khoán và hởng trọn phần vợt khoán, nền kinh tế hộ
gia đình đợc khôi phục và phát triển nhanh chóng. Năm 1986 -1987 giá cả các mặt hàng
tăng vọt, chế độ thu mua hàng hoá theo nghĩa vụ của nhà nớc nặng nề, trong nông nghiệp
mà ruộng đất khoán tập thể đảm nhận 5 khâu; 3 khâu còn lại ngời lao động chịu trách
nhiệm không đợc ổn định, sản lợng khoán nâng cao dần từ đó hiệu quả đầu t giảm, thu
nhập của nông hộ cũng giảm dần.
Giai đoạn từ năm 1988 đến nay. Trớc tình trạng trên Nghị quyết 10 Q/ TW ngày 05/
04/ 1988 của bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nhằm giải phóng mạnh mẽ sức sản
xuất trong nông thôn trong từng hộ nông dân, đậc biệt nghị quyết khẳng định hộ gia đình
xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát
9
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh tế 45C
triển của kinh tế nông hộ. Nghị quyết còn chủ trơng giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định
lâu dài cho hộ nông dân, xoá bỏ chính sách thu mua theo nghĩa vụ để tạo điều kiện cho hộ
nông dân phát triển sản xuất. Thực hiện khoán theo nghị quyết 10 đã làm cho ngời lao
động quan tâm đến sản phẩm cuối cùng. Các thành phần kinh tế và kinh tế hộ nông dân
phát triển dẫn đến hiệu quả cao trong sản xuất và không ngừng nâng cao sức sống nông
dân, nền kinh tế đợc khôi phục và phát triển. Nghị quyết Đại hội đảng lần thứ VI, VII,
VIII, IX đã đa ra tiếp những chủ trơng về phát triển 5 thành phần kinh tế, 3 chơng trình
kinh tế lớn của nhà nớc, chiến lợc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc.Từ đó hộ nông
dân là chủ thể sản xuất với việc ban hành những chính sách lớn nh giao đất lâu dài, mở
rộng cho vay tới hộ, thực hiện xoá đói giảm nghèo, khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, khuyến khích khôi phục và phát triển các nghành nghề truyền thống, khuyến khích
kinh tế thị trờng phát triển kinh tế nông hộ đã có niềm tin mở rộng quyền tự chủ sản
xuất kinh doanh cho nông dân, kinh tế hộ đã có nhiều thay đổi lớn mà điển hình cơ cấu
sản xuất đã có chuyển biến tích cực từ thuần nông sang các nghành nghề khác nhất là
vùng nông thôn giáp danh thành thị.
1.6.Thực trạng tình hình phát triển ngành nghề nông thôn ở một số nớc trên thế giới
Việc phát triển ngành nghề nông thôn đợc xem là một trong những giải pháp quan
trọng để tháo gỡ những khó khăn, những phát sinh trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh
tế- xã hội trên địa bàn nông thôn ở một số nớc trên thế giới. Một số nớc đã trải qua quá
trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn rất thành công, đó là những
bài học kinh nghiệm cho đất nớc ta học tập đúc rút và áp dụng linh hoạt mô hình phát
triển nông thôn một cách hiệu quả nhất.
ở một ngay cạnh nớc ta, Trung Quốc thực hiện rất tốt quá trình công nghiệp hoá
hiện đại hoá nông thôn trong giai đoạn cải cách (1978- 1992) với phơng châm đề ra ly
nông bất ly hơng, nhập xớng bất nhập thành chủ trơng phát triển ngành nghề nông thôn
theo mô hình xí nghiệp Hơng Trấn lấy nông thôn làm cơ sở. Bớc đi của Trung Quốc là
thận trọng từ thấp lên cao, không chạy theo phong trào không chạy theo hình thức, không
chạy theo thành tích nh thời kì công xã nhân dân ; lấy mô hình phát triển xí nghiệp H-
ơng Trấn vừa là tích luỹ ban đầu vừa là bắt đầu đi vào phát triển chiều sâu bằng áp dụng
công nghệ mới hiện đại và sử dụng nhiều vốn. Nhiều xí nghiệp nh Hơng Trấn đã mở rộng
10
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh tế 45C
về quy mô và phạm vi lĩnh vực kinh doanh. Hiện nay các xí nghiệp nh Hơng Trấn đã hoạt
động ở ba cấp: huyện, xã, thôn và tạo ra giá trị sản lợng ngày càng tăng. Nhờ sự phát triển
công nghiệp nông thôn mà Trung Quốc đã giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp từ
70% (1978) xuống dới 50% (1992) giảm áp lực di dân ra thành thị, kinh tế nông thôn phát
triển đã cải thiện đời sống nhân dân vùng nông thôn.
Nằm trong nhóm nớc Niss, Đài Loan bắt đầu tiến trình công nghiệp hoá nông thôn
từ những năm 50 bao gồm các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề cổ truyền,
các xí nghiệp gia đình sản xuất chế biến lơng thực thực phẩm và các mặt hàng thủ công
mỹ nghệ phục vụ ngành du lịch. Riêng công nghiệp chế biến nông sản rất phát triển: năm
1991 đã có 5779 xí nghiệp với 100 nghìn lao động đã tạo ra giá trị sản lợng tới 17.5 tỷ
USD . Công nghiệp thực phẩm với 22 chuyên ngành chủ yếu trong đó công nghiệp chế
biến thịt chiếm 15.41% giá trị sản lợng, với chăn nuôi là12.36%, gạo 9.25%, đồ uống có
cồn 7.16%. Riêng xay xát gạo có 2500 nhà máy quy mô nhỏ. Công nghiệp nông thôn Đài
Loan đã thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tỷ trọng gia đình thuần nông
đã giảm từ 39.9% (1955) xuống còn 8.98% (1985), tỷ trọng các hộ kiêm tăng từ 60.13%
(1955) lên 91.2% (1985). Thu nhập các hộ nông dân ngoài nông nghiệp tăng từ 43%
(1952) lên gần 70% (1992), cơ cấu lao động xã hội cũng thay đổi năm 1952 lao động
nông nghiệp chiếm 51% công nghiệp 16.9% dịch vụ 27% thì đến năm 1992 lao động
nông nghiệp giảm xuống còn 12.9% công nghiệp tăng 40.25% dịch vụ 49.9%. Nhìn chung
Đài Loan thực hiện công nghiệp hoá nông thôn với hình thức đa dạng đã đem lại hiệu quả
kinh tế xã hội rõ rệt góp phần không nhỏ vào sự thành công quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nớc.
Nằm trong khối ASEAN, là một nớc đang phát triển, Thái Lan công nghiệp hoá
nông thôn trên cơ sở dựa vào nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phơng với mục tiêu trớc tiên
là cải tạo cơ cấu kinh tế ở các vùng nông thôn qua việc cung cấp nguyên liệu và nguồn lực
cho công nghiệp. Do đó Thái Lan đã xây dựng một chiến lợc phát triển nông thôn trên cơ
sở khu vực lấy trọng tâm công nghiệp chế biến nông sản thành hàng hoá. Bởi Thái Lan là
một trong số ít nớc có lợi thế sản xuất gạo, hải sản, thuỷ sản Đầu năm 1990 cả n ớc có
khoảng 32 nghìn xí nghiệp nông phẩm chiếm 62% các ngành công nghiệp ở Thái Lan thu
hút khoảng 60% lao động, hầu hết nguyên liệu đều do nông nghiệp cung cấp. Các ngành
nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống nh chế tác vàng bạc đá quý, ngọc trai, đồ trang sức
11
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh tế 45C
đợc duy trì và phát triển tạo ra nhiều mặt hàng nổi tiếng thế giới. Kim ngạch xuất khẩu
sản phẩm mỹ nghệ năm 1990 đạt gần 2 tỷ USD. Nghề gốm sứ cổ truyền trớc đây ở Thái
Lan chỉ sản xuất đáp ứng nhu cầu trong nớc, gần đây đã phát triển trở thành mặt hàng xuất
khẩu lớn đứng thứ hai sau gạo, 95% hàng gốm sứ xuất khẩu là đồ trang trí nội thất và đồ l-
u niệm còn lại là những thứ khác. Về cơ khí nông thôn có 94 vạn cơ sở nhỏ( nhỏ hơn 10
công nhân một cơ sở) chiếm 46%, 72 vạn cơ sở vừa chiếm 34%; hoạt động của các xí
nghiệp này là chế tạo và xửa chữa máy công cụ nông nghiệp.
Một số con rồng châu á (Hàn Quốc, Hồng Công, Shingapo) thực hiện sách lợc dồn
hết sức lực cho công nghiệp nặng có trọng điểm kết hợp với dịch vụ coi nhẹ phát triển
nông nghiệp nông thôn để tạo ra sức mạnh kinh tế sau đó mới tiến hành cải tạo đầu t cho
nông nghiệp nông thôn.
Thông qua thực tế phát triển ngành nghề nông thôn ở một số nớc trên thế giới
chúng ta rút ra một số bài học sau:
- Công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc phải kết hợp chặt chẽ với công nghiệp hoá
hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn mà bớc đi quan trọng là phải phát triển ngành nghề
nông thôn bao gồm nghề tiểu thủ công nghiệp, nghề truyền thống, nghề chế biến nông
sản, kinh doanh dịch vụ tạo ra sự chuyển biến tích cực cơ cấu kinh tế nông thôn.
- Phát huy lợi thế tuyệt đối của địa phơng,của vùng, của đất nớc về mọi mặt để sản
xuất ra các sản phẩm có u thế cạnh tranh cao.
- Phát triển ngành nghề trong các hộ nông dân sẽ thúc đẩy kinh tế hộ phát triển,
kinh tế địa phơng phát triển, xoá đói giảm nghèo, từng bớc cải thiện đời sống nhân dân
vùng nông thôn tạo tiền đề cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc thành
công.
1.7. Thực trạng tình hình phát triển ngành nghề nông thôn ở việt nam
Kinh tế nông thôn bao gồm hai lĩnh vực: kinh tế nông nghiệp và kinh tế phi nông
nghiệp. Trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp bao gồm tiểu thủ công nghiệp, công
nghiệp và dịch vụ cho sản xuất cho đời sống ở nông thôn. Công nghiệp nông thôn ở Việt
Nam đã trải qua những bớc thăng trầm cùng với tiến trình cải cách và phát triển kinh tế
đất nớc. Thực hiện đờng lối của Đảng và chủ trơng chính sách của Nhà nớc, công nghiệp
nói chung, công nghiệp nông thôn nói riêng đã chứng kiến biến chuyển mạnh mẽ trong
12
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh tế 45C
hơn mời năm qua. Theo t liệu của hội khoa học kinh tế Việt Nam, trong thời kì đổi mới
công nghiệp nông thôn Việt Nam đạt tỷ lệ tăng trởng giá trị bình quân 7.8%/ năm. Đặc
biệt công nghiệp nông thôn có sức tăng trởng cao vào các năm 1993-1999 nhờ tác động
mạnh mẽ của các chích sách khuyến khích đợc ban hành và thực thi vào đầu thập kỉ 90.
Thực trạng phát triển ngành nghề nông thôn thể hiện một số điểm sau:
-Về số lợng hiện nớc ta có trên 1350000 đơn vị sản xuất phi nông nghiệp trong đó
có 97.1% là các hộ, số còn lại là dạng tổ hợp và doanh nghiệp.
-Về quy mô hầu hết các cơ sở sản xuất ngành nghề ở nông thôn có quy mô nhỏ do
đó các cơ sở luôn có nhu cầu lớn hỗ trợ sản xuất kinh doanh nh đầu vào thông tin công
nghệ, đào tạo và tín dụng.
- Về nguồn nhân lực và chủ sở hữu của các cơ sở. Chủ sở hữu các cơ sở đóng vai trò
quan trọng ra quyết định và điều hành sản xuất kinh doanh ảnh hởng tới sự tồn tại phát
triển toàn bộ hộ. Thực tế hiện nay trình độ chuyên môn của các chủ cơ sở và lao động
trong hộ còn thấp cụ thể có 1.3% -1.6% số hộ không biết chữ, 68%- 76% chủ hộ không có
trình độ chuyên môn kĩ thuật cha qua trờng lớp đào tạo nào, chỉ có 1.9%- 2,8% có trình độ
đại học, cao đẳng. Chủ cơ sở là nam chiếm tỷ lệ đa số, nữ chỉ chiếm 3,8%- 5.9%.Quy mô
lao động bình quân của hộ ngành nghề từ 3 đến 5 ngời chiếm đa số, lao động thuê ngoài
ít.
- Về cơ sở vật chất kĩ thuật và vốn, nhìn chung các hộ ngành nghề còn thiếu,yếu,
kém; phần lớn sử dụng ngay nhà mình cho sản xuất kinh doanh. Số cơ sở sử dụng điện cho
sản xuất chiếm 81.6% hộ cơ sở ngành nghề nguyên nhân do giá điện ảnh hởng tới giá
thành sản phẩm sản xuất ra. Phần lớn công nghệ các hộ sử dụng là thô sơ giản đơn, trình
độ cơ khí hoá còn thấp, vì vậy mà sản phẩm làm ra giá trị thấp mẫu mã không đa dạng
khả năng vơn xa thị trờng kém.
- Hiện nay, vốn của các hộ các cơ sở ngành nghề nông thôn còn nhỏ, phần lớn các
cơ sở sản xuất thiếu vốn để nâng cao chất lợng sản phẩm và mở rộng sản xuất kinh doanh.
Theo kết quả điều tra ngành nghề nông thôn năm 1997 của Cục chế biến lâm sản và ngành
nghề nông thôn cho thấy: ổ hộ chuyên ngành nghề có vốn sản xuất bình quân là 25.73
triệu đồng( bằng 3.67%) trong đó vốn cố định chiếm tỷ lệ 57.2%; về quy mô vốn có tới
86.81% số hộ có vốn dới 50 triệu đồng, trong đó lại có 37.66% số hộ có vốn dới 10 triệu;
bình quân vốn đầu t cho một lao động thờng xuyên ở hộ chuyên là 7.75 triệu đồng. Còn
13
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh tế 45C
đối với hộ kiêm, vốn sản xuất bình quân là16.10 triệu đồng, trong đó 11.3 triệu đồng đợc
dùng cho sản xuất phi nông nghiệp, bình quân vốn đầu t cho một lao động là 5.07 triệu
đồng.
- Về lĩnh vực hoạt động: tiểu thủ công nghiệp công nghiệp nông thôn tồn tại ở
nhiều dạng ngành nghề khác nhau nh: công nghiệp chế biến, dệt, may mặc, gốm sứ mỹ
nghệ, mộc, cơ khí nông thôn
Đối với công nghiệp chế biến có mặt ở hầu khắp các vùng, hoạt động dới nhiều
hình thức và nội dung khác nhau. Trong đó có nhiều hoạt động mang tính truyền thống
nh làm bún, bánh đa nấu rợu và nhiều hoạt động mang tính hiện đại nh chế biến phục vụ
xuất khẩu
Trong ngành dệt, may mặc và thêu ren là những ngành thu hút t ơng đối nhiều lao
động nữ; có nhiều hoạt động mang tính truyền thống, tính lịch sử lâu đời nh dệt lụa ở Hà
Đông, dệt vải ở Thái Bình, Nam Định, Bắc Ninh,Bắc Giang riêng may mặc là một ngành
khá phát triển cùng với nhu cầu ngày càng cao của xã hội có ở khắp các vùng quê nông
thôn.
Trong nghề gốm sứ, trạm trổ, mỹ nghệ đây là các ngành chủ yếu phục vụ xuất
khẩu và có yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm tơng đối cao vì thế mà nó phát triển chủ yếu
ở những làng nghề truyền thống nh ở Bình Dơng, Bát Tràng, Đồng Nai
Ngành cơ khí nông thôn, ngành này đã phát triển khá mạnh ở nhiều thời điểm khác
nhau và phát triển mạnh mẽ nhất ở Nam Định, Bắc Ninh,Thanh Hoá, Hà Tây,
Với thực trạng phát triển tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nông thôn hiện nay còn
thấp kém cả về số lợng và chất lợng các ngành nghề. Do vậy Đảng và Nhà nớc cần có
những chính sách khuyến khích phát triển sản xuất đối với từng vùng cụ thể; để mở rộng
quy mô lĩnh vực sản xuất, tận dụng lợi thế của mỗi vùng góp phần cải thiện và nâng cao
đời sống nhân dân vùng nông thôn trong thời gian tới.
1.8.Hệ chỉ tiêu đợc sử dụng trong nghiên cứu thực trạng phát triển ngành nghề trong
các hộ nông dân trên địa bàn xã Liêm Chính- thị xã Phủ Lý- tỉnh Hà Nam
a. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích đặc điểm địa bàn xã Liêm Chính- thị xã Phủ Lý-
tỉnh Hà Nam: Mật độ dân số, nhân khẩu/ hộ, lao động/ hộ ngành nghề, lao động/ hộ, đất
canh tác/ hộ phi nông nghiệp, lao động phi nông nghiệp/ hộ
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét