đợc xem một con nai sừng tấm của vờn quốc gia Yellowstone bị quây vòng
bởi những ngời xem tò mò thờng chùn lại trớc việc bỏ ra 3000 USD dể đánh
vật với 20 xe buýt mini xung quanh một con s tử ở Sesengeti là rất thấp so
với ở Yellowstone bởi khách thăm quan phải trả rất nhiều tiền để có thể
cảm thấy thiên nhiên hoang dã.
Sự đông đúc làm hỏng sự hấp dẫn thẩm mỹ và làm giảm sự sẵn lòng trả
tiền của du khách . Du lịch sinh thái là hiện thân của một loạt các chờ đợi
nóng bỏng .Nếu CostaRica không thể cung cấp cảm giác thiên nhiên hoang
dã, các khách thăm quan sẽ đến Belize Guyana ,hoặc những nơi khác cha đ-
ợc khám phá. Du lịch sinh thái về bản chất làm tăng sự mong đợi và làm
tăng nguy cơ của một loại hình du lịch đến rồi chạy xa vô trách nhiệm: một
sự tràn vào của những dòng ngời yêu thiên nhiên tại những điểm mới nhất
,sau đó là sự bỏ rơi sau khi đã đợc khám phá và làm cho thoái hoá.
Đối với kinh tế.
Việc xác định lợi ích du lịch dựa trên đơn thuần tổng thu nhập giờ đây
không còn phù hợp nữa . Coi khu bảo tồn thiên nhiên là một nền kinh tế
biệt lập là không thể chấp nhận ở các nớc đang ngèo . Phải tính đến sự trao
đổi ngoại tệ ,thiệt hại bỏ ra so vơi lợi ích kinh tế, các yếu tố ngoại lai và chi
phí cơ hội đối với du khach đợc thu hút ,và sự phụ thuộc vào sự mỏng manh
của nền kinh tế do du lịch mang lại. Một số nớc đang sẵn sàng mạo hiểm
lao vào sự phụ thuộc thái quá lên một nền công nghiệp dễ bị tổn hại do
chiến tranh vùng vịnh hay một loạt các vụ bắt cóc máy bay. Nền kinh tế của
du lịch thiên nhiên không còn là trang giấy với những cột cân đối tiền tệ.
Đối với xã hội.
Văn hoá đã từng là một nhân tố bị bỏ rơi trong bảo tồn .Nhng điều này
không đúng nữa .Chiếm đất để lập khu bảo tồn thiên nhiên là một việc đầy
mạo hiểm và bất công trong một thế giới quan tâm đến quyền lợi và trách
nhiệm .Việc gây bất hoà trong nhân dân địa phơng đã trở thành vấn đề hàng
đầu trong bảo tồn. Bảo tồn và du lịch mà từ chối quyền lợi và mối quan tâm
của cộng đồng địa phơng là tự dánh bại mình , nếu không muốn nói là phi
pháp . Vấn đề này là rất phức tạp và sâu sắc . Du lịch có thể phá hoá văn
hoá cổ đại và làm hỏng nền kinh tế bản địa .Và chỉ cần một vài ngời bất
bình cũng có thể làm gián đoạn du lịch.
5
Phần B : Phần nội dung.
i. Tiềm năng du lịch sinh thái của các khu bảo tồn thiên nhiên Việt
nam.
Việt nam nằm trong vùng châu á, nơi mà tổ chức du lịch thế giới và
nhiều nhà chuyên môn du lịch có tên tuổi đã khẳng dịnh và dự báo rằng sẽ
là nơi thu hút nhiều khách du lịch quốc tế nhất cà cũng có nhiều ngời đủ
điều kiện đi du lịch nhất (500 triệu ngời) ở thế kỷ 21.
Từ những, phân tích, đánh giá dự báo đó cho ta một kết luận nguồn
khách du lịch sinh thái quốc tế gắn với thị trờng du lịch Việt nam là khách
quan và là một tiềm năng. Hiện nay nó mới chiếm 10% so với 1,8 triệu
khách nhng tơng lai là rất khả quan .
Hiện nay, số khách du lịch trong nớc đã tăng lên tới 8,5 triệu lợt
khách.Trong đó có bao nhiêu khách thuộc đối tợng du lịch sinh thái? Cha
có số liệu tin cậy bởi khái niệm du lịch sinh thái cha đợc quan tâm dẫn đến
trong thống kê du lịch cha đợc thể hiện. Căn cứ vào số khách đến với các
vùng thiên nhiên với động cơ hởng thụ vào sản phẩm thiên nhiên nh: các v-
6
ờn quốc gia và bảo tồn thiên nhiên , vãn cảnh sông nớc , hành trình xuyên
Việt, thám không vùng vịnh hay đến các khu tự nhiên Hạ Long, TamCốc
Bích Động thì tỷ lệ cũng không nhỏ có thể chiếm tới 30 40% tổng số
khách hàng năm. Tuy nhiên với khái niệm đầy đủ về du lịch sinh thái vế thứ
hai là ý thức , trách nhiêm với việc bảo tồn phát triển du lịch sinh thái thì
cha có những t duy, giáo dục tốt về vấn dề này. Với tốc độ đô thị hoá nh
hiện nay chất lợng cuộc sống ngày càng đợc nâng cao và cải thiện Chắc
chắn nhu cầu đi du lịch sinh thái sẽ tăng lên đáng kể, không còn giới hạn ở
con số 4 5 triệu ngời/năm mà có thể lên đến hàng chục triệu ngời mỗi
năm trong các năm tới đây.
Xét về tiềm năng du lịch sinh thái của nớc ta với vị trí nằm tiếp giáp với
biển Đông với chiều dài trên 3200km bờ biển có nhiều, vịnh đảo và những
quần thể núi đá vôi, sông, hồ, thác nớc, hang động, suối nớc nóng, và 3/4
diện tích núi rừng với độ dốc cao đã tạo cho Việt nam rất phong phú và
đa dạng về khí hậu và địa hình địa mạo nên rất giàu về tiềm năng sinh thái
cũng nh sự đa dạng sinh thái .
Theo đánh giá của quốc tế, nớc ta đứng thứ 16 về sự phong phú, tính đa
dạng sinh học, địa diện cho vùng Đông nam á về sự độc đáo và giàu có về
thành phần loài. Mặc dù bị tổn thất về diện tích do nhiều nguyên nhân trong
hai thập kỷ qua, nhng hệ thực vật vẫn còn khá phong phú về chủng loại.
Tiềm năng và thế mạnh về sự đa dạng sinh thái của Việt nam hấp dẫn
du lịch ở các đạc trng sinh thái dới đây:
_ Các vùng núi đá vôi với nhiều dạng hang động nh là một kho tàng
cảnh quan thiên nhiên huyền bí mà trong đó Vịnh Hạ long di sản thiên
nhiên thế giới , động Phong nha Kẻ bàng làm ví dụ .
_ Nhiều đảo, vịnh và bãi tắm biển đẹp với các sinh thái dộng vật, thực
vật biển phong phú và đa dạng .
_ Hệ thống vờn bảo tồn thiên nhiên đa dạng và phong phú về hệ động
thực vật rừng xen kẽ với nhiều dân tộc có ngời sinh sống có những bản sắc
văn hoá hết sức đa dạng.
_ Các vùng sinh thái nông nghiệp đặc trng nền văn minh lúa nớc nhiều
sông lạch, miệt vờn.
ở Việt nam hệ thống rừng đặc dụng đợc hiểu là hệ thống khu bảo tồn
thiên nhiên có diện tích 2.119.509 ha, bao gồm 11 vờn quốc gia , 64 khu dự
trữ thiên nhiên , 32 khu di tích lịch sử, văn hoá, môi trờng. Sau khi rà soát
lại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã lập một danh mục 101 khu
rừng đặc dụng đề nghị chính phủ phê duyệt và phân thành 4 loại : Vờn quốc
gia (11 vờn), Khu dự trữ thiên nhiên (53 khu), Khu bảo tồn loài và sinh
7
cảnh (16 khu) và Khu bảo vệ cảnh quan (21 khu). Theo danh sách này thì
còn thiếu nhiều khu bảo tồn thiên nhiên vùng biển và vùng đất ngập nớc
.Tuy nhiên cho đến nay chính phủ vẫn cha phê duyệt.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, các khu bảo tồn thiên nhiên
Việt nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng rất thuân
lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái .
Các nhà sinh thái học thờng nhắc đến sự phong phú về các kiểu hệ sinh
thái và thực bì ở Việt nam . Theo thống kê, Việt nam có tới 26 kiểu thực bì
tập trung thành 6 nhóm, trải từ rừng kín thờng xanh, rừng rụng lá và bán
rụng lá, rừng thờng xanh hở, rừng thờng xanh cây bụi đến các thảm cỏ.
Ngoài ra Việt nam còn có 5 nhóm hệ sinh thái thuỷ vực, trải từ nớc ngọt
đứng, nớc ngọt chảy, nớc ngọt ngầm, nớc lợ và nớc mặn. Hệ sinh thái đất
ngập nớc cũng dang đợc các nhà khoa học Việt nam nghiên cứu. Khu bảo
tồn thiên nhiên đât ngập nớc Xuân thuỷ, Vờn Quốc gia Tràm chim ở đồng
bằng sông Cửu long là những địa điểm ngắm chim nớc lí tởng.
Không chỉ phong phú trên phơng diện hệ sinh thái, thiên nhiên còn ban
cho Việt nam sự đa dạng sinh học cao về các loài đặc hữu, có khoảng 1200
loài là loài đặc hữu trong tổng số 12000 loài thực vật ở Việt nam(theo ớc
tính). Trong số 15.575 loài động vật có 172 loài đặc hữu trong số đó có 14
loài là thú. Đặc biệt sự kiện gây chú ý nhất trong giới bảo tồn thế giới là
phát hiện 3 loài thú lớn ở Việt nam: Sao la(1992), Mang lớn(1994), Mang
Trờng Sơn(1997) . Khoảng 58% số loài thực vật và 73% số loài động vật
quý hiếm, đặc hữu của Việt nam tập trung trong các khu bảo tồn thiên
nhiên . Tuy nhiên các loài thú lớn của Việt nam khó tiếp cận hơn các loài
của Châu phi, và đôi khi sự tiếp cận là không thể chấp nhận đợc vì các loài
vật này bản thân chúng đang có nguy cơ tuyệt chủng cần đợc bảo vệ và
chúng sống trong các hệ sinh thái tơng đối mong manh . Tình trạng này có
thể đợc khắc phục nếu có quy hoạch thích hợp . Chẳng hạn nh khoanh vùng
bảo vệ , xây dựng chòi quan sát từ xa có thể xem đợc một số con tê giác còn
sống sót tại vờn quốc gia Cát tiên mà đầu tháng 5/1999 các nhà nghiên cứu
đã chụp đợc những bức ảnh đầu tiên bằng máy ảnh tự động. Khi có các
nguồn tài chính có thể xây dựng các khu nuôi thú bán hoang dã. Hiện tại ở
Vờn quốc gia Cúc phơng đã xây dựng đợc một khu nuôi các loài linh trởng
rộng khoảng 2 ha. Du khách có thể tham quan và ngắm nhìn một số loài khỉ
vợn vào lúc cho ăn. Vờn quốc gia Ba vì cũng đang xây dựng khu nuôi thú
và chim bán hoang dã ở khu vực có độ cao 400 mét so với mực nớc biển.
Sự đặc hữu về động thực vật là một hấp dẫn đối với du lịch sinh thái
mang tính chất nghiên cứu khoa học . Những nhà khoa học có thể đến đây
để tìm hiểu những loài động thực vật chỉ có ở Việt nam.
8
Sự phong phú về hệ sinh thái ở Việt nam sở dĩ có đợc là nhờ sự đa dạng
về địa hình của đất nớc. Sự đa dạng về địa hình kết hợp với sự phong phú về
hệ sinh thái đã cho ra đời những sản phẩm, địa điểm du lịch sinh thái hấp
dẫn. Hấp dẫn nhất phải kể đến rừng ma nhiệt đới Vờn quốc gia Cúc phơng,
Cát bà, Ba bể, Bạch mã và khu bảo tồn thiên nhiên Phong nha Kẻ bàng,
Hoàng liên sơn .
Nhiều vờn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên phân bố dọc theo 3260
km bờ biển với hệ động thực vật còn khá phong phú và nhiều bãi tắm lý t-
ởng nh Trà cổ, Bãi cháy, Đồ sơn, Xuân thuỷ, Sầm sơn, Lăng cô, Bình châu,
Phớc bửu. Các vờn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên vùng đảo và quần
đảo cũng là địa điểm du lịch sinh thái nổi tiếng. Nơi đây ngoài hệ sinh thái
trên cạn còn có hệ sinh thái trên biển với các rạn san hô có thành phần loài
phong phú. Chúng ta có thể tổ chức du lịch lặn, xem hệ động thực vật biển
phong phú trong các rạn san hô ở khu vực đảo Cát bà, Côn đảo, Phú quốc và
các đảo thuộc khu vực Nha trang, Khánh hoà.
Ba phần t diện tích lãnh thổ của Việt nam là đồi núi với nhiều đỉnh núi
cao có khí hậu mát mẻ rất thuận lợi cho du lịch nghỉ dỡng mùa hè. Những
địa điểm nổi tiếng nh Sa pa, Tam đảo, Bavì, Bạch mã, Bà nà - Núi chúa đã
đợc ngời pháp khai thác cách đây nửa thế kỷ và hiện còn lu giữ nhiều tàn
tích của các biệt thự cũ. Từ các trung tâm ngỉ dỡng nay ta có thể thiết kế
các đờng mòn thiên nhiên với cự ly từ 2 3 km để kết hợp du lịch sinh thái
với các loại hình du lịch khác. Sông, suối, thác, ghềnh, hồ tự nhiên và nhân
tạo trong các khu bảo tồn thiên nhiên ở các vùng núi rất thuận lợi cho việc
phát triển loại hình du lịch mạo hiểm và du lịch thể thao dới nớc .
Cũng một nỗ lực nghiên cứu tiềm năng du lịch sinh thái của Việt nam,
Nguyễn Quang Mỹ và nhiều nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rất nhiều hang
động ở các vờn quuốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên vùng núi đá vôi
trên phạm vi cả nớc. Động Phong nha, Chùa hơng,Tam cốc, Bích động, các
hang động trong khu vực di sản thiên nhiên Hạ long là những điểm tham
quan nổi tiếng trong và ngoài nớc.
Theo sự phân tích của Ngô Đức Thịnh, từ đa dạng về tự nhiên dẫn đến
sự đa dạng về văn hoá. Chính vì vậy mà mà ngời Việt nam không thuần
nhất mà gồm 54 dân tộc khác nhau. đáng chú ý hơn là các dân tộc thiểu số
thờng sống kề gần hoặc trong các khu bảo tồn thiên nhiên. Họ hiện vẫn
đang lu giữ đợc phong cách sống, bản sắc văn hoá riêng và tập tục độc đáo.
Điều này khiến Việt nam càng trở nên hấp dẫn trên phơng diện du lịch sinh
thái. Hiện tại đời sống của những ngời dân ở đây có nhiều khó khăn thiếu
thốn. Đây cũng là cơ hội để du lịch sinh thái thể hiện mình, đóng góp vào
phát triển cộng đồng tại các điểm du lịch .
9
II. Thực trạng và nguyên nhân du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn
thiên nhiên Việt nam.
1/ Thực trạng sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên.
Tuy có tiềm năng to lớn, nhng du lịch sinh thái trong phạm vi cả nớc nói
chung và trong các khu bảo tồn nói riêng còn đang trong giai đoạn đầu của
sự phát triển. Các hoạt động đa số mang tính tự phát, cha có sản phẩm và
đối tợng phục vụ rõ ràng, cha có sự đầu t quảng bá, nghiên cứu thị trờng và
công nghệ phuc vụ cho du lịch sinh thái, cha có sự quan tâm, quản lý chặt
chẽ của các cấp các nghành do vậy mà thực tế là sự đa dạng sinh học đang
bị de doạ.
Theo ớc tính ở Việt nam có hơn 12000 loài cây, 275 loài động vật có vú,
800 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài động vật lỡng c, 2470 loài cá và
hơn5500 loài côn trùng, với ớc tính hơn 10% đang mắc các bệnh đặc trng ở
các loài động vật có vú, chim và cá. Điều đáng buồn là hơn 28% thuộc
động vật có vú, 10% loài chim và 21% loài động vật lỡng c và loài bò sát đ-
ợc liệt kê là đang ở tình trạng hết sức nguy hiểm. Một nguyên nhân to lớn là
môi trờng sống bị mất đi do nạn phá rừng.
Các dấu hiệu của việc khai thác các sản phẩm của rừng ngày một nhiều
và không phải là không khó nhận ra ở Việt nam . Một ví dụ cho thấy việc
buôn bán thịt thú rừng phát triển mạnh. Con chim, bán đợc 550.000 đ/kg,
lợn rừng 40.000 đ/kg . ở Đắc lắc, có một quán ăn đặc biệt với món thịt hổ.
Những thú vật nhồi bông cũng có sẵn để bán ở các cửa hàng ở Hà nội và
10
Thành phố Hồ Chí Minh. Một con hổ nhồi bông giá khoảng 15 triệu đồng,
một con gấu trúc khoảng 10 triệu đồng, gấu mặt trời 8 triệu Với những
giá đó những ngời dân nghèo sẵn sàng tham dự cuộc buôn bán mà không
cần biết hậu quả sẽ ra sao.
Trên đây là thực trạng đáng buồn của sinh thái Việt nam, vậy còn về
lĩnh vự c văn hoá thì sao ?
Tất cả mọi ngời ai cũng biết rằng giữa văn hoá và du lịch luôn có mối
quan hệ biện chứng và trực tiếp . Mối quan hệ này càng thể hiện rõ hơn
trong sự liên hệ bảo vệ và phát huy các di sản văn hoá và thiên nhiên
một bộ phận quan yếu của tài sản văn hoá và đồng thời là bộ phận quan yếu
nhất trong tài nguyên du lịch.
Sự phát triển của du lịch tác động trực tiếp và dán tiếp đến việc trấn hng
và bảo tồn các di sản văn hoá. Doanh thu từ hoạt động du lịch đợc sử dụng
cho việc tu bổ di tích, chỉnh lý các bảo tàng, đồng thời khôi phục và phát
huy các di sản văn hoá phi vật thể, đặc biệt là các nghành thủ công mỹ
nghệ, ca múa nhạc truyền thống phục vụ du lịch .
Một trong những ví dụ cụ thể là sự phát triển du lịch tại Huế trong
những năm gần đây đã và đang làm sống lại những nghành nghề đã một
thời bị lãng quên nh may thêu, đúc đồng, chạm khắc và đặc biệt là nghệ
thuật ca Huế truyền thống, ca múa cung đình
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực không thể phủ nhận của du lịch đối
với đời sống kinh tế văn hoá, những hoạt động du lịch cũng đem lại những
tác động tiêu cực đến công cuộc bảo tồn các di sản văn hoá nói riêng và nếp
sống văn hoá nói chung .
Cụ thể nh:
- Đối với các di sản vật thể, đặc biệt là các di sản có giá trị toàn cầu
nổi bật thì sự bùng nổ số lợng khách thăm quan đã và đang trở thành
mối nguy cơ đe doạ việc bảo vệ các di sản này. Sự có mặt quá đông
du khách trong một thời điểm ở một di sản đã tạo nên những tác
động cơ học, hoá học đã cùng với các yếu tố khí hệu nhiệt đới gây
nên những sự huỷ hoại đối với các di sản và các động sản phụ thuộc
nh các vật dụng trang trí, vật dụng thờ tự
- Sự phát triển các dịch vụ du lịch thiếu sự kiểm soát và sự bùng nổ số
lợng du khách còn tác động mạnh mẽ đến cảnh quan văn hoá và môi
trờng sinh thái tại các khu du lịch nh : khắc tên lên các vách đá, các
bộ phận di tích , xả rác bừa bãi
- Du lịch tạo nên sự tiếp xúc giữa các bộ phận dân c xuất thân từ các
nền văn hoá khác nhau, tín ngỡng khác nhau. Do không đợc thông
11
tin đầy đủ và thiếu những quy định chặt chẽ , cụ thể nên nhiều du
khách đã ăn mặc, ứng sử tuỳ tiện ở những nơi dợc coi là trang
nghiêm đặc biệt là những di tích có ý nghĩa tôn giáo, tín ngỡng
của nhân dân sở tại, gây nên sự bất hoà thậm chí là sự xung đột về
mặt tâm lý và tinh thần
Trên đây là thực trạng chung của sinh thái và văn hoá Việt nam trong
thời kì đầu phát triển du lịch sinh thái . Vậy thực trạng du lịch sinh thái
trong các khu bảo tồn ra sao ?
Trong số 11 vờn quốc gia thì Cúc phơng , Bạch mã, Cát tiên đã tổ chức
hoạt động du lịch sinh thái khá hơn. Cụ thể 3 vờn này đã xây dựng đợc một
số tuyến du lịch sinh thái, một số tuyến đờng mòn thiên nhiên, một số hớng
dẫn viên là kiểm lâm đợc đào tạo, bồi dỡng kiến thức về du lịch sinh thái.
Các vờn còn lại cũng tổ chức hoạt động thăm quan du lịch nhng cha có bài
bản và định hớng rõ ràng .
Căn cứ vào các tiêu chí của du lịch sinh thái ta có thể nhận thấy rằng:
- Mặc dù đã có những tuyến du lịch mang tính chất du lịch sinh thái
nhng trên thực tế chỉ là du lịch thiên nhiên hay du lịch liên quan đến
thiên nhiên.
- Hoạt động giáo dục, diễn giải môi trờng một yếu tố rất cơ bản để
phân biệt du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác cha đợc
triển khai nhiều do vờn cha quan tâm đúng mức và thiếu cán bộ am
hiểu về lĩnh vực mới mẻ này. Cụ thể là trên các tuyến thăm quan, đ-
ờng mòn thiên nhiên còn thiếu nhiều biển chỉ dẫn, chỉ báo. Một số v-
ờn đã có một số tờ gấp và biển chỉ dẫn nhng nội dung thông tin,
thông tin quá nghèo nàn, sơ sài. Một số biển chỉ dẫn làm bằng sắt
tây, giấy ép plastic nên dễ bị thiên nhiên phá huỷ. Hầu hết các hớng
dẫn viên mới chỉ làm nhiệm vụ dẫn đờng mà họ cha có đủ kiến thức
để thực hiện nhiệm vụ quan trọng, chủ yếu nhất của mình là giáo dục
và diễn giải môi trờng.
- Lợi ích từ hoạt động du lịch còn ít, cha hỗ trợ đợc nhiều cho công tác
bảo tồn và phát triển cộng đồng địa phơng . Nhân dân địa phơng cha
đợc thu hút nhiều vào hoạt dộng du lịch của vờn.
2/ Nguyên nhân của thực trạng đó .
Nguyên nhân vì sao du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên
Việt nam cha đợc phát triển tơng xứng với tiềm năng của nó thì khá nhiều.
Nhng nhìn chung nó có một vài nguyên nhân chính .
Sự ít hiểu biết về khái niệm du lịch sinh thái là một hạn chế không nhỏ
cho việc phát triển du lịch sinh thái. Du lịch sinh thái là một loại hình du
12
lịch khá mới mẻ cả về khái niệm, tổ chức hoạt động, quy hoạch, chính sách
đầu t khai thác. Vấn đề phổ cập kiến thức du lịch sinh thái cha đợc các
nghành liên quan quan tâm đúng mức. Hầu hết nhân dân Việt nam cha có
khái niệm về du lịch sinh thái.
Một nguyên nhân quan trọng nữa là do lực lợng quản lý tại các khu vờn
quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên thiếu cả về số lợng lẫn kiến thức
chuyên môn về bảo tồn cũng nh du lịch sinh thái. Mặc dù du lịch là một
trong những chức năng, nhiệm vụ của vờn quốc gia. Nhng thực tế các vờn
mới chỉ chú trọng đến bảo vệ rừng mà cha quan tâm tới việc quản lý rừng
bền vững và phát triển du lịch sinh thái. Các khu bảo tồn thiên nhiên còn
thiếu những phơng tiện cung cấp các thông tin giáo dục, diễn giải môi trờng
và cha có đợc những hớng dẫn viên du lịch sinh thái chuyên nghiệp, am
hiểu đầy đủ, tờng tận các tài nguyên du lịch của chính mình.
Các điểm du lịch sinh thái cha đợc quy hoạch là một trở ngại lớn cho
việc phát triển của nghành du lịch này tại Việt nam. Hầu hết các khu bảo
tồn thiên nhiên cha có phân vùng dành cho du lịch sinh thái. Không có các
nguyên tắc chỉ đạo dựa vào đó các đối tợng biết mình đang tiến hành du
lịch sinh thái hay một hình thức du lịch nào khác .
Sự thiếu tiếp thị quảng cáo cho du lịch sinh thái cũng là một nguyên
nhân quan trọng kìm hãm sự phát triển của du lịch sinh thái ở Việt nam.
Thiếu tiếp thị, quảng cáo, tuyên truyền dẫn đến thiếu nhu cầu trong thị tr-
ờng. Điều này lại dẫn đến sự thiếu động lực thúc đẩy các cơ quan chức
trách có thẩm quyền và các nhà đầu t để họ quan tâm hơn đến việc u tiên
đầu t cho bảo tồn và du lịch sinh thái.
Một nguyên nhân không kém phần quan trọng là sự kém phát triển của
cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng . Tuy
du lịch sinh thái và các khách du lịch sinh thái không chú trọng lắm tới sự
hiện đại của cơ sở vật chất, nhng cần có sự phục vụ tối thiểu để du khách
không phải bận lòng mỗi khi cần đến chúng.
Nhìn chung nguyên nhân quan trọng nhất gây trở ngại cho việc phát
triển du lịch sinh thái ở các vờn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên lại
là thiếu sự phối hợp kếi hợp giữa các cơ quan, các nghành, các cấp trong
việc xây dựng các chính sách phát triển và quy hoạch du lịch. Du lịch sinh
thái là một ngành du lịch liên quan đến nhiều lĩnh vực, cần phải có sự kết
hợp của nhiều ngành liên quan mới có thể phát triển đựơc.
13
III. Những nguyên tắc cơ bản để phát triển du lịch sinh thái .
Thị trờng du lịch sinh thái hiện nay đang phát triển mạnh so với các thi
trờng khác. Song sự phát triển nhanh chóng này đe doạ tính bền vững của
du lịch sinh thái và mở rộng ra những cái có thể đóng góp cho sự phát triển
bền vững. Du lịch sinh thái bản thân nó bị giới hạn phạm vi, mức độ phát
triển. Nó không thể tiếp nhận một số lợng lớn du khách mà không phải là
nguyên nhân dần dần làm thay đổi dẫn đến sự phá huỷ lý do mà nó tồn tại.
Vì vậy vấn đề trọng tâm trong việc phát triển du lịch sinh thái bền vững là
sự kiểm soát hạn chế những nguyên tắc sử lý và thực hiện.
Du lịch sinh thái bền vững đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững.
Diều đó không có nghĩa là luôn có sự tăng trởng liên tục về du lịch. Đây là
điểm khác biệt cần nhấn mạnh trong thời điểm mà Việt nam bắt đầu lo
lắng về tốc độ tăng trởng của du lịch .
Du lịch sinh thái đợc phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên
khác về mức độ giáo dục cao về môi trờng và sinh thái thông qua những h-
ớng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề. Du lịch sinh thái chứa đựng mối tác
động qua lậi lớn giữa con ngời và thiên nhiên hoang dã cộng với ý thức đợc
giáo dục nhằm biến chính những khách du lịch thành những ngời đi đầu
trong việc bảo vệ môi trờng. Phát triển du lịch sinh thái làm giảm tối thiểu
tác động của khách du lịch đến văn hoá và môi trờng, đảm bảo cho địa ph-
ơng đợc hởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang lại và cần trú trọng đến
những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét