Khoá luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Đối với một doanh nghiệp, quá trình bán hàng - thu tiền là quá trình tạo
nên doanh thu cho doanh nghiệp. Một doanh nghiệp chỉ được sự quan tâm của
các nhà đầu tư khi kết quả kinh doanh là tốt, trong đó chỉ tiêu doanh thu góp
phần đáng kể trong các quyết định của họ. Ngoài ra khả năng thanh toán (khả
năng chiếm dụng vốn và vốn bị chiếm dụng) của doanh nghiệp cũng được các
nhà đầu tư rất quan tâm. Nếu các chỉ tiêu trên được một công ty kiểm toán có
uy tín thực hiện thì góp phần rất lớn trong việc giúp doanh nghiệp huy động
vốn, đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao vị thế của
doanh nghiệp trên thị trường.
Tuy nhiên việc kiểm toán các nội dung trên không phải đơn giản. Đây là
phần hành kiểm toán phức tạp và mất nhiều thời gian, nhưng nếu kiểm toán
tốt chu trình bán hàng - thu tiền thì sẽ góp phần quan trọng trong việc đánh
giá tính trung thực, hợp lý của BCTC đồng thời đánh giá hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp. Chính vì tính quan trọng của quá trình này nên em đã chọn
đề tài “Hoàn thiện kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền trong kiểm toán
báo cáo tài chính” để hiểu rõ hơn về đề tài cũng như quy trình kiểm toán ở
các công ty Việt Nam khi mà ngành nghề kiểm toán mới chỉ phát triển trong
vài năm gần đây.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: nghiên cứu chương trình kiểm toán tại Công ty TNHH
Kiểm toán và Tư vấn (A&C) để từ đó hiểu được quy trình kiểm toán của
Công ty nói riêng cũng như quy trình kiểm toán tại các Công ty kiểm toán của
Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể: từ việc đánh giá thực trạng kiểm toán chu trình bán
hàng – thu tiền trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm
Sinh viên: Vũ Thị Thanh Tâm_Kiểm toán 46A
5
Khoá luận tốt nghiệp
toán và Tư vấn (A&C) chi nhánh Hà Nội sẽ phát hiện những tồn tại từ đó đề
xuất những giải pháp để hoàn thiện công tác kiểm toán.
Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện không gian, thời gian có hạn và kiến thức còn hạn chế nên
đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi:
Về không gian: nghiên cứu tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn
(A&C) chi nhánh Hà Nội
Về thời gian: các số liệu đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của
Công ty ABC và Công ty XYZ trong năm 2007.
Về nội dung: nghiên cứu chương trình kiểm toán chu trình bán hàng –
thu tiền tại Công ty ABC và Công ty XYZ trong năm 2007.
Kết cấu của khoá luận
Phần I: Lý luận chung về kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền trong
kiểm toán BCTC.
Phần II: Thực trạng tổ chức kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền
trong kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn (A&C) chi
nhánh Hà Nội.
Phần III: Nhận xét và đánh giá về kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền
do Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn (A&C) chi nhánh Hà Nội thực hiện.
Được sự giúp đỡ của các anh chị trong Công ty TNHH Kiểm toán và Tư
vấn (A&C) chi nhánh Hà Nội và các thầy cô trong khoa Kế toán đặc biệt là
Th.S Bùi Thị Minh Hải đã giúp em hoàn thành đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên: Vũ Thị Thanh Tâm_Kiểm toán 46A
6
Khoá luận tốt nghiệp
PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN CHU TRÌNH BÁN HÀNG –
THU TIỀN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 Chu trình bán hàng - thu tiền với vấn đề kiểm toán
1.1.1 Đặc điểm chu trình bán hàng – thu tiền ảnh hưởng đến kiểm toán
Bán hàng - thu tiền là quá trình chuyển quyền sở hữu của hàng hoá qua
quá trình trao đổi hàng - tiền. Quá trình này được bắt đầu bằng từ yêu cầu
mua của khách hàng và kết thúc bằng việc chuyển đổi hàng hoá thành tiền.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, chu trình bán hàng – thu tiền được
coi là chu trình cuối cùng không những đánh giá hiệu quả của những chu trình
trước đó mà còn đánh giá hiệu quả của toàn bộ chu kỳ sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Hàng hoá, dịch vụ sản xuất ra có thể bán trực tiếp hoặc gián tiếp cho
người tiêu dùng. Tiền hàng có thể thu ngay bằng tiền mặt hoặc thu qua Ngân
hàng, hoặc thu tiền sau …Mỗi phương thức bán hàng, thu tiền khác nhau, quá
trình hạch toán kế toán, kiểm soát là khác nhau nên nội dung cách thức kiểm
toán cũng khác nhau.
Cụ thể hoá chu trình bán hàng - thu tiền thành các chức năng với các
bước công việc tương ứng như: xem xét nhu cầu và quyết định tiêu thụ, xem
xét khả năng của khách hàng và quyết định bán chịu, vận chuyển và bốc xếp
hàng hoá, lập hoá đơn bán hàng, ghi sổ hàng bán, ghi sổ khoản phải thu và thu
tiền. Hiểu được các chức năng, các chứng từ cùng quá trình luân chuyển của
chúng mới có thể tiến hành kiểm toán tốt chu trình này.
1.1.2 Chức năng cơ bản của chu trình bán hàng – thu tiền
Bán hàng - thu tiền (tiêu thụ) là quá trình chuyển quyền sở hữu của
hàng hoá qua quá trình trao đổi hàng - tiền (giữa khách thể kiểm toán và
khách hàng của họ). Với mỗi loại hình doanh nghiệp, cơ cấu các chức năng và
chứng từ về bán hàng - thu tiền cũng có những đặc điểm khác nhau đòi hỏi
Sinh viên: Vũ Thị Thanh Tâm_Kiểm toán 46A
7
Khoá luận tốt nghiệp
phải cụ thể hoá trong từng cuộc kiểm toán. Thông thường với một số doanh
nghiệp, những biểu hiện cụ thể của mỗi chức năng và bộ phận đảm nhiệm
chức năng đó có khác nhau song chung nhất, chu trình bán hàng – thu tiền
đều bao gồm các chức năng chính như sau:
Xử lý đơn dặt hàng của người mua: đặt hàng của người mua có thể là
đơn đặt hàng, là phiếu yêu cầu mua hàng, là yêu cầu qua thư, fax, điện thoại
và sau đó là hợp đồng về mua – bán hàng hoá dịch vụ…Về pháp lý, đó là việc
bày tỏ sự sẵn sàng mua hàng hoá theo những điều kiện xác định. Do đó, có
thể xem đây là điểm bắt đầu của toàn bộ chu trình.
Xét duyệt bán chịu: Do bán hàng gắn liền với thu tiền trong cùng một
khái niệm “tiêu thụ” nên ngay từ thoả thuận ban đầu, sau khi quyết định bán
cần xem xét và quyết định bán chịu một phần hoặc toàn bộ lô hàng. Quyết
định này có thể đồng thời thể hiện trên hợp đồng kinh tế như một điều kiện đã
được thoả thuận trong quan hệ mua bán trong hợp đồng.
Trước khi chuyển giao hàng cho khách hàng hoặc dịch vụ cung cấp cho
khách hàng thì những người có trách nhiệm của doanh nghiệp phải xem xét:
khả năng thanh toán của khách hàng; hạn mức tín dụng đối với từng khách
hàng; số dư phải thu của khách hàng tại thời điểm bán hàng để xét duyệt
phương thức bán hàng trả chậm nhằm hạn chế tối đa các khoản nợ khó đòi và
không ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Chuyển giao hàng: chức năng này đánh dấu hàng hoá, thành phẩm của
doanh nghiệp được chuyển giao cho khách hàng về quyền sở hữu. Chuyển
giao hàng là căn cứ ghi nhận doanh thu. Vào lúc giao hàng chứng từ vận
chuyển cũng được lập. Chứng từ vận chuyển thường là hóa đơn vận chuyển
hay vận đơn. Mặt khác các cơ quan thuế quan thường quy định khi vận
chuyển hàng hóa phải có hóa đơn bán hàng. Trong trường hợp này hóa đơn
bán hàng phải được lập đồng thời với vận đơn hoặc kiêm chức năng vận
chuyển.
Sinh viên: Vũ Thị Thanh Tâm_Kiểm toán 46A
8
Khoá luận tốt nghiệp
Gửi hóa đơn tính tiền cho người mua và ghi rõ nghiệp vụ bán hàng:
Hóa đơn bán hàng là chứng từ chỉ rõ mẫu mã, số lượng hàng hóa, giá cả hàng
hóa gồm cả giá gốc hàng hóa, chi phí vận chuyển, bảo hiểm và các yếu tố
khác theo luật thuế giá trị gia tăng. Hóa đơn được lập thành 3 liên, liên đầu
được gửi cho khách hàng, các liên sau được lưu lại ghi sổ và theo dõi thu tiền.
Như vậy hóa đơn vừa là phương thức chỉ rõ cho khách hàng về số tiền và thời
hạn thanh toán của từng thương vụ, vừa là căn cứ ghi sổ Nhật ký bán hàng và
theo dõi các khoản phải thu.
Xử lý và ghi sổ các khoản thu tiền: Trong mọi trường hợp đều cần xử
lý và ghi sổ các khoản thông thường về thu tiền bán hàng. Nếu khách hàng
thanh toán bằng tiền mặt, TGNH kế toán tiến hành theo dõi và ghi vào sổ
Nhật ký thu tiền. Trong trường hợp khách hàng chưa thanh toán thì kế toán
phản ánh trên tài khoản 131 và tiến hành theo dõi chi tiết cho từng khách hàng
đúng số tiền và đúng lúc.
Xử lý và ghi sổ hàng bán bị trả lại và khoản bớt giá: Các khoản giảm
trừ doanh thu xảy ra khi người mua không thỏa mãn về hàng hóa. Khi đó,
người bán có thể nhận lại hàng hoặc bớt giá. Trường hợp này phải lập bảng
ghi nhớ hoặc có thư báo có hoặc hóa đơn chứng minh cho việc ghi giảm các
khoản phải thu. Trên cơ sở đó ghi đầy đủ và kịp thời vào Nhật ký hàng bị trả
lại và các khoản bớt giá đồng thời ghi vào sổ phụ.
Dự phòng nợ khó đòi: được lập với yêu cầu đủ trang trải các khoản đã tiêu
thụ kỳ này, song không có khả năng thu được cả trong tương lai. Việc đánh giá
phải dựa trên chế độ tài chính kế toán hiện hành hoặc dựa vào kinh nghiệm đối
với khách hàng mà doanh nghiệp đã xử lý trong niên độ kế toán trước.
Thẩm định và xoá sổ khoản phải thu không thu được: Có thể có
những trường hợp người mua không chịu thanh toán hoặc không còn khả
năng thanh toán. Việc thẩm định và xoá sổ phải được thực hiện theo chế độ
tài chính kế toán hiện hành.
Sinh viên: Vũ Thị Thanh Tâm_Kiểm toán 46A
9
Khoá luận tốt nghiệp
1.1.3 KSNB đối với chu trình bán hàng – thu tiền.
*Đối với nghiệp vụ bán hàng
Do bán hàng – thu tiền là quá trình chuyển quyền sở hữu hàng hoá - tiền
tệ giữa người mua và người bán, gắn với lợi ích kinh tế và trách nhiệm pháp
lý của mỗi bên nên công việc kiểm soát nội bộ cần được thực hiện chặt chẽ.
Công việc kiểm soát nội bộ thường bao gồm:
Sự đồng bộ của sổ sách kế toán: đòi hỏi hệ thống chứng từ kế toán, sổ
sách kế toán, bảng tổng hợp phải kiểm soát tối đa các nghiệp vụ bán hàng.
Theo nguyên tắc các nghiệp vụ bán hàng đều phải có đầy đủ chứng từ, các
chứng từ đều phải được ghi vào sổ sách.
Việc đánh số thứ tự các chứng từ: Việc sử dụng chứng từ có đánh số
thứ tự trước có tác dụng đề phòng, bỏ sót, dấu diếm đồng thời tránh trùng lặp
các khoản phải thu, các khoản bán hàng ghi sổ.
Lập bảng cân đối thanh toán tiền hàng và gửi cho người mua:
hàng tháng lập bảng cân đối giữa giá trị hàng bán với các khoản đã thu tiền
và các khoản phải thu để kiểm soát công việc bán hàng và thu tiền, gửi cho
người mua để thông báo đồng thời xác nhận qua hệ mua - bán đã phát sinh
trong tháng.
Việc lập và xác nhận các bảng cân đối hàng, tiền và phải thu là công việc
kiểm soát nội bộ hữu hiệu.
Xét duyệt nghiệp vụ bán hàng: tập trung vào ba điểm chủ yếu là việc
bán chịu phải được duyệt cẩn trọng trước khi bán hàng, hàng bán chỉ được
vận chuyển sau khi duyệt với đầy đủ chứng cứ, giá bán phải được duyệt bao
gồm cả chi phí vận chuyển, bớt giá, giảm giá và điều kiện thanh toán.
Phân cách nhiệm vụ đầy đủ trong tổ chức công tác kế toán: đây là
công việc quan trọng nhằm ngăn ngừa sai sót và gian lận trong kế toán và
trong quá trình bán hàng – thu tiền.
Sinh viên: Vũ Thị Thanh Tâm_Kiểm toán 46A
10
Khoá luận tốt nghiệp
Tính độc lập của người kiểm tra, kiểm soát: trong việc thực hiện trình
tự kiểm soát nộ bộ là yếu tố chủ yếu trong việc phát huy hiệu lực của kiểm
soát nội bộ. Thông thường sử dụng kiểm toán viên nội bộ để kiểm soát việc
xử lý và ghi sổ các nghiệp vụ bán hàng và thu tiền sẽ đảm bảo chất lượng
kiểm soát và phục vụ tốt cho việc thực hiện các mục tiêu kiểm toán.
*Đối với nghiệp vụ thu tiền: Công việc kiểm soát nội bộ được thực hiện
tương ứng với mục tiêu kiểm toán nghiệp vụ thu tiền.
Biểu 1: Kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ thu tiền
Mục tiêu kiểm toán
nghiệp vụ thu tiền
Công việc kiểm soát nội bộ
chủ yếu tiền hành
Các khoản thu tiền được
ghi sổ thực tế đã nhận
(tính hiệu lực)
Phân cách nhiệm vụ giữa người giữ tiền và
người ghi sổ; Phải thường xuyên đối chiếu số
dư trên tài khoản TGNH
Các khoản chiết khấu đã
được xét duyệt đúng đắn.
Phiếu thu tiền được đối
chiếu và ký duyệt (tính
được phép)
Có chính sách cụ thể cho việc thanh toán trước
hạn; Duyệt các khoản chiết khấu; Đối chiếu
chứng từ gốc và ký duyệt với phiếu thu tiền.
Tiền mặt thu được đã ghi
đầy đủ vào sổ quỹ và nhật
ký thu tiền (tính trọn vẹn)
Phân cách nhiệm vụ giữa người giữ tiền với
người ghi sổ; Sử dụng giấy báo nhận tiền hoặc
bảng kê tiền mặt có đánh số thứ tự trước kèm
quy định cụ thể về chế độ báo cáo nhận tiền
kịp thời; Trực tiếp xác nhận séc thu tiền.
Các khoản thu tiền được
ghi sổ và đã nộp đều đúng
với giá bán (tính định giá)
Theo dõi chi tiết các khoản thu theo thương vụ
và đối chiếu với chứng từ bán hàng thu tiền;
Đối chiếu đều đặn với ngân hàng về các khoản
tiền bán hàng.
Các khoản thu tiền đều
được phân loại đúng (tính
Sử dụng sơ đồ tài khoản có quy định các quan
hệ đối ứng trong các nghiệp vụ thu tiền; Soát
Sinh viên: Vũ Thị Thanh Tâm_Kiểm toán 46A
11
Khoá luận tốt nghiệp
phân loại)
xét, đối chiếu nội bộ việc phân loại, chú ý các
tài khoản đặc biệt.
Các khoản thu tiền ghi
đúng thời gian (tính kịp
thời)
Quy định rõ việc cập nhật các khoản thu tiền
vào quỹ và vào sổ; Có nhân viên độc lập kiểm
soát ghi thu và nhập quỹ.
Các khoản thu tiền đều ghi
đúng vào sổ quỹ, sổ cái và
tổng hợp đúng (tính chính
xác cơ học).
Phân cách nhiệm vụ ghi sổ quỹ với theo dõi
thanh toán tiền hàng; Lập cân đối thu tiền và
gửi cho người mua đều đặn; Tổ chức đối chiếu
nội bộ về chuyển sổ, cộng sổ.
1.1.4 Vai trò kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền trong kiểm toán BCTC.
Kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền là một phần trong kiểm toán
BCTC. Vì chu trình bán hàng – thu tiền có liên quan đến nhiều khoản mục
khác nhau trong BCTC, các khoản mục này lại có liên quan đến những chu
trình khác nên kiểm toán tốt chu trình bán hàng – thu tiền đồng nghĩa với việc
kiểm toán tốt các chu trình, khoản mục khác trên BCTC. Mặt khác do vai trò
quan trọng của việc kiểm toán chu trình này nên khi thực hiện kiểm toán KTV
phải xem xét kỹ các tài liệu, thực hiện nghiêm túc các bước kiểm toán trong
chương trình, thu thập bằng chứng có giá trị đủ để đưa ra kết luận kiểm toán.
Chính những công việc đó sẽ giúp KTV phát hiện được những yếu điểm trong
chương trình kiểm toán chu trình này từ đó đề xuất những giải pháp, phương
hướng khắc phục như vậy sẽ hoàn thiện quy trình kiểm toán chu trình nói
riêng cũng như quy trình kiểm toán BCTC nói chung.
Vì là một trong những chu trình quan trọng nhất của cuộc kiểm toán nên
việc kiểm toán chu trình này nếu được thực hiện cẩn thận, nghiêm túc thì sẽ
góp phần rất lớn giúp kiểm toán viên đưa ra ý kiến về tính trung thực hợp lý
của các thông tin trình bày trên BCTC.
Kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền giúp kiểm toán viên phát hiện
những yếu điểm trong hệ thống kế toán của đơn vị, tư vấn giúp họ hoàn thiện
Sinh viên: Vũ Thị Thanh Tâm_Kiểm toán 46A
12
Khoá luận tốt nghiệp
thủ tục kế toán để phù hợp với Chuẩn mực và các quy định về kế toán đã ban
hành, nâng cao chất lượng của hệ thống kế toán.
Kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền giúp nhà quản lý của đơn vị
cũng như những người sử dụng BCTC có cái nhìn khái quát về tình hình hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, về lợi nhuận thu được trong kỳ, số lượng
vốn bị chiếm dụng…để đưa ra những quyết định kinh tế phù hợp.
1.2 Kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền trong kiểm toán BCTC.
1.2.1 Mục tiêu kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền
Kiểm toán bán hàng - thu tiền là một phần hành cụ thể của kiểm toán tài
chính. Vì vậy nhiệm vụ chung của kiểm toán bán hàng - thu tiền là triển khai các
chức năng kiểm toán thông qua việc vận dụng các phương pháp kiểm toán thích
ứng với đặc thù của phần hành này qua các bước trong quy trình kiểm toán.
Chức năng của kiểm toán đã được cụ thể hoá thành các mục tiêu kiểm
toán. Do chu trình bán hàng - thu tiền được cấu thành bởi các nghiệp vụ cụ
thể và từ đó hình thành các khoản mục trên các bảng khai tài chính nên các
mục tiêu đặc thù của kiểm toán bán hàng và thu tiền cần cụ thể hoá cả mục
tiêu kiểm toán tài chính và mục tiêu kiểm toán nghiệp vụ phù hợp với các đặc
điểm của phần hành kiểm toán này. Mặt khác, mặc dù các nghiệp vụ bán
hàng, thu tiền có quan hệ chặt chẽ và tạo nên chu trình xác định song mỗi loại
nghiệp vụ này lại có yêu cầu riêng và phản ánh cụ thể vào sổ kế toán riêng
theo trình tự độc lập tương đối. Do đó, mục tiêu đặc thù cho các khoản mục
và nghiệp vụ bán hàng và nghiệp vụ thu tiền cũng cần có định hướng cụ thể
qua các mục tiêu kiểm toán đặc thù riêng biệt.
Biểu 2 : Mục tiêu kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền
Mục tiêu
kiểm toán
chung.
Mục tiêu kiểm toán nghiệp
vụ bán hàng.
Mục tiêu kiểm toán
nghiệp vụ thu tiền.
Sinh viên: Vũ Thị Thanh Tâm_Kiểm toán 46A
13
Khoá luận tốt nghiệp
Mục tiêu hợp
lý chung
Các nghiệp vụ bán hàng đều
có căn cứ hợp lý.
Các nghiệp vụ thu tiền đều
đảm bảo hợp lý chung.
Các mục tiêu
chung khác
Mục tiêu
hiệu lực
Hàng hoá vận chuyển cho
khách hàng hoặc dịch vụ
chuyển giao cho khách hàng là
có thật.
Các khoản phải thu của
khách hàng là có thật
Mục tiêu trọn
vẹn (đầy đủ)
Mọi nghiệp vụ bán hàng đều
được ghi sổ.
Mọi khoản phải thu khách
hàng đều được ghi sổ.
Mục tiêu
quyền và
nghĩa vụ
Hàng hoá bán thuộc quyền sở
hữu của doanh nghiệp.
Các khoản phải thu đều
phải xác định được quyền
sở hữu
Mục tiêu
Định giá
Hàng hoá đã vận chuyển hoặc
dịch vụ đã thực hiện có hoá
đơn bán hàng trong đó ghi giá
bán theo thoả thuận.
Các khoản phải thu được
đánh giá đúng.
Mục tiêu phân
loại
Các nghiệp vụ bán hàng được
phân loại thích hợp.
Các khoản phải thu được
tính toán đúng.
Mục tiêu
chính xác cơ
học
Các nghiệp vụ bán hàng được
ghi vào sổ chi tiết và sổ tổng
hợp thích hợp và phải khớp
đúng về số liệu cũng như chính
xác về số tiền cộng dồn.
Các khoản phải thu được
ghi sổ với sự chính xác cơ
học.
Trên cơ sở mục tiêu kiểm toán đặc thù đã xác định, cần cụ thể hoá các
công việc tương ứng với mỗi mục tiêu kiểm toán nội bộ nói riêng hay của
kiểm soát nội bộ nói chung. Xác định những công việc tương ứng của các trắc
nghiệm đạt yêu cầu và trắc nghiệm độ tin cậy trong kiểm toán tài chính, xác
định những mẫu chọn để thực hiện các thủ tục xác minh cụ thể như đối chiếu
lại hoá đơn với sổ sách, lấy xác nhận của người mua và các khoản phải thu.
1.2.2 Quy trình kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền
1.2.2.1 Lập kế hoạch kiểm toán:
Sinh viên: Vũ Thị Thanh Tâm_Kiểm toán 46A
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét