Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Hoàn thiện kế hoạch sản xuất tại Công ty 20 – Tổng cục Hậu cần.DOC

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
 Theo góc độ thời gian
Đây là thể hiện việc phân đoạn kế hoạch theo thời gian cần thiết để
thực hiện chỉ tiêu đặt ra. Theo góc độ này, kế hoạch doanh nghiệp bao gồm 3
bộ phận cấu thành:
Kế hoạch dài hạn bao trùm lên khoảng thời gian dài khoảng 10 năm.
Quá trình soạn lập kế hoạch được đặc trưng bởi :
• Môi trường liên quan được hạn chế bởi thị trường mà doanh nghiệp
đã có mặt.
• Dự báo trên cơ sở ngoại suy từ quá khứ, bao gồm xu hướng dự tính
của nhu cầu, giá cả và hành vi cạnh tranh.
• Chủ yếu nhấn mạnh các ràng buộc về tài chính.
• Sử dụng rộng rãi các phương pháp kinh tế lượng để dự báo.
Kế hoạch dài hạn không đồng nghĩa với kế hoạch chiến lược vì kế
hoạch chiến lược bao gồm nội dung khác không phải chỉ đứng trên góc độ
thời gian.
Kế hoạch trung hạn cụ thể hóa những định hướng của kế hoạch dài hạn
ra các khoảng thời gian ngắn hơn, thường là 3 hoặc 5 năm.
Kế hoạch ngắn hạn thường là các kế hoạch hàng năm và các kế hoạch
tiến độ, hành động có thời hạn dưới một năm như: kế hoạch quý, tháng…Kế
hoạch ngắn hạn bao gồm các phương pháp cụ thể sử dụng nguồn lực của các
doanh nghiệp cần thiết để đạt được mục tiêu trong kế hoạch trung và dài hạn.
Tuy nhiên, việc phân chia kế hoạch chỉ mang tính tương đối, nhất là
với những điều kiện thị trường hiện nay thay đổi với tốc độ nhanh hơn nhiều
so với cách đây vài thập kỷ.
Ba loại kế hoạch ngắn, trung và dài hạn cần phải được liên kết chặt chẽ với
nhau và không được phủ nhận lẫn nhau. Cần thiết phải nhần mạnh đến tầm
quan trọng của việc giải quyết mối quan hệ giữa các loại kế hoạch theo thời
Nguyễn Trà Minh – Lớp Kế hoạch 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
gian vì trên thực tế, đã nảy sinh nhiều lãng phí từ các quyết định theo những
tình huống trước mắt mà không đánh giá được ảnh hưởng của các quyết định
này đối với các mục tiêu dài hạn hơn mà còn gây cản trở, hay có những đòi
hỏi nhiều với những kế hoạch dài hạn. Giải quyết mối quan hệ giữa các loại
kế hoạch rất quan trọng để giảm những lãng phí từ các quyết định theo những
tình huống trước mắt mà không đánh giá được ảnh hưởng của các quyết định
này với những mục tiêu dài hạn hơn. Do vậy, các nhà lãnh đạo chủ chốt của
doanh nghiệp nên thường xuyên xem xét và sửa đổi các quyết định trước
mắt , các nhà quản lý cấp dưới nên được thông báo một cách thường xuyên về
kế hoạch dài hạn của doanh nghiệp sao cho các quyết định của họ phù hợp
với các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp.
 Theo góc độ bản chất
• Kế hoạch chiến lược: Là định hướng lớn cho phép doanh nghiệp thay
đổi, cải thiện, củng cố vị thế cạnh tranh của mình và những phương pháp cơ
bản để đạt mục tiêu đó. Kế hoạch chiến lược thường được soạn thảo cho thời
gian dài nhưng nó không đồng nghĩa với kế hoạch dài hạn, kế hoạch chiến
lược không nói tới góc độ thời gian như kế hoạch dài hạn mà nói đến tính chất
định hướng của kế hoạch và bao gồm toàn bộ mục tiêu tổng thể phát triển
doanh nghiệp.
Thường thì kế hoạch chiến lược được soạn thảo cho một thời gian dài,
tuy vậy nó không đồng nghĩa với kế hoạch dài hạn. Nhiều doanh nghiệp đã
dựa vào những kế hoạch chiến lược ngắn hạn. Nói đến kế hoạch chiến lược
không phải là nói đến góc độ thời gian của chiến lược mà nói đến tính chất
định hướng của kế hoạch và bao gồm toàn bộ mục tiêu tổng thể của doanh
nghiệp, vì kế hoạch chiến lược đòi hỏi trách nhiệm rất cao,quy mô hoạt động
rộng lớn của các nhà quản lý.
Nguyễn Trà Minh – Lớp Kế hoạch 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
• Kế hoạch chiến thuật ( tác nghiệp): Là công cụ cho phép chuyển các
định hướng chiến lược thành các chương trình áp dụng cho các bộ phận của
các doanh nghiệp trong khuôn khổ các hoạt động của doanh nghiệp, nhằm
thực hiện các mục tiêu của kế hoạch chiến lược. Kế hoạch chiến thuật thường
được xây dựng cho thời gian ngắn hơn. Kế hoạch chiến thuật liên quan trực
tiếp đến các lĩnh vực, bộ phận của doanh nghiệp trong khi đó kế hoạch chiến
lược tập trung vào các lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến tương lai của doanh
nghiệp, hay nói cách khác mục tiêu của kế hoạch chiến thuật cụ thể hơn và
hướng tới mục tiêu chiến lược.
1.2 Vai trò của kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, hệ thống chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh là
cơ sở điều tiết mọi hoạt động tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp. Các chỉ tiêu kế hoạch là của doanh nghiệp chính là các chỉ tiêu
pháp lệnh mang tính toàn diện, chi tiết mà các cơ quan quản lý cấp trên giao
xuống cho các cơ quan cấp dưới trên cơ sở cân đối chung toàn ngành và tổng
thể nền kinh tế quốc dân.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt
với các quy luật của thị trường, vì vậy những dấu hiệu thị trường là cơ sở để
các doanh nghiệp thực hiện hành vi sản xuất, kinh doanh của mình. Tuy vậy,
kế hoạch hoá vẫn là cơ chế quản lý cần thiết, hữu hiệu của các doanh nghiệp.
Lập luận về sự tồn tại và phát triển của kế hoạch hoá doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường xuất phát từ chính vai trò của nó trong quản lý doanh
nghiệp.
1.2.1 Cho phép doanh nghiệp phác thảo các ý tưởng, định hướng phát
triển của doanh nghiệp:
Kế hoạch sản xuất kinh doanh xác định các mục tiêu cần phấn đấu của các
doanh nghiệp. Việc xác định được các mục tiêu này là vô cùng quan trọng bởi
Nguyễn Trà Minh – Lớp Kế hoạch 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
vì nó chính là cơ sở để phân phối các nguồn lực, là công cụ để kiểm soát sự
tiến triển theo hướng đạt được các mục tiêu dài hạn và đồng thời đưa ra các
ưu tiên cho các bộ phận, các phòng ban trong doanh nghiệp.
1.2.2 Huy động các nguồn lực ( bên trong và bên ngoài) doanh nghiệp
để thực hiện các mục tiêu đặt ra:
Việc đạt được các mục tiêu được xây dựng ở kế hoạch sản xuất kinh doanh
đối với doanh nghiệp là rất quan trọng, mà muốn thực hiện được các mục tiêu
đó thì một trong những giải pháp quan trọng đó là huy động các nguồn lực
(bên trong và bên ngoài ) doanh nghiệp, phát huy những lợi thế của doanh
nghiệp và tận dụng những cơ hội có được từ thị trường.
Thông thường doanh nghiệp có 4 nguồn lực chính, đó là : nguồn lực tài
chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực con người và nguồn lực kỹ thuật công
nghệ. Việc phân bổ và huy động nguồn lực có hiệu quả hay không thể hiện ở
kết quả đạt được của các mục tiêu của doanh nghiệp. Tuy nhiên, có một số
yếu tố ngăn cản việc huy động, phân bổ nguồn lực có hiệu quả nhất, đó là: sự
bảo vệ quá đáng các nguồn lực; nhấn mạnh đến các tiêu chuẩn tài chính ngắn
hạn, quan điểm chính trị của tổ chức; các mục tiêu chiến lược của doanh
nghiệp không rõ ràng; sự ngần ngại mạo hiểm và thiếu kiến thức. Vì vậy,
trong quá trình thực hiện huy động và phân bổ nguồn lực, các nhà quản lý cần
phải có quyết định chính xác, hợp lý, tránh mức tối đa các sai sót đã nêu ở
trên.
1.2.3 Cho phép doanh nghiệp giành nhiều thời gian và công sức cho việc
phản ứng với những rủi ro trên thị trường:
Lập kế hoạch tức là dự kiến những vấn đề có thể xảy ra với doanh nghiệp
trong tương lai. Do những dự kiến đó là cho tương lai nên thường có sai số,
thời gian càng dài thì mức độ sai số càng cao. Thêm vào đó, thị trường lại
thay đổi liên tục và ẩn chứa trong nó rất nhiều rủi ro. Do đó, việc lập kế hoạch
Nguyễn Trà Minh – Lớp Kế hoạch 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đã giúp cho doanh nghiệp giành nhiều thời gian và nguồn để có thể phản ứng
tốt hơn với những rủi ro của thị trường cho tương lai. Lập kế hoạch và quản lý
bằng kế hoạch cho phép doanh nghiệp dự kiến được những cơ hội, thách thức
có thể xảy ra từ đó có những quyết định quản lý hợp lý và hiệu quả.
1.2.4 Kế hoạch kinh doanh là cơ sở để đưa ra các quyết định quản lý của
doanh nghiệp:
Công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp tạo cơ sở cho việc nhìn nhận logic các
nội dung hoạt động có liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình tiến tới
mục tiêu sản xuất sản phẩm và dịch vụ cuối cùng. Trên nền tảng đó, các nhà
quản lý thực hành các phân công, tiến độ, tổ chức các hoạt động cụ thể, chi
tiết theo đúng quy trình, đảm bảo cho sản xuất sẽ không bị rối loạn và ít tốn
kém. Do đó, việc lập kế hoạch kinh doanh trên thực tế là một công cụ không
thể thiếu của nhà quản lý. Đồng thời, nhà quản lý muốn sử dụng thành thạo
công cụ này thì đòi hỏi phải có trình độ nhất định về mặt quản lý, dự báo, các
kỹ năng kế hoạch cũng như các khả năng hoạch định và phải có tư duy, tầm
nhìn chiến lược. Như vậy, kế hoạch sản xuất kinh doanh có vai trò rất quan
trọng trong doanh nghiệp.
3. Nội dung quy trình soạn lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong
doanh nghiệp
1.3.1 Vị trí của việc soạn lập kế hoạch.
Lập kế hoạch là khâu đầu tiên và giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong
công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp. Nó xác định các nhiệm vụ, mục tiêu
chiến lược, các chương trình và các chỉ tiêu kế hoạch tác nghiệp, soạn lập kế
hoạch ngân quỹ cũng như các chính sách, biện pháp áp dụng trong thời kỳ kế
hoạch của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu đặt ra.
Trước kia, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung thì việc lập kế hoạch của
doanh nghiệp dựa hoàn toàn vào các chỉ tiêu pháp lệnh do cơ quan cấp trên
Nguyễn Trà Minh – Lớp Kế hoạch 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
giao xuống, trên cơ sở cân đối chung toàn ngành và toàn nền kinh tế quốc
dân. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, việc lập kế hoạch thường phải là
quá trình xây dựng nhiều phương án khác nhau, trên cơ sở đó có sự lựa chọn
tối ưu nhất. Như thế, doanh nghiệp sẽ lựa chọn được cho mình con đường đi
đúng nhất, phù hợp nhất và giảm thiểu tói đa các rủi ro có thể xảy ra trong
tương lai.
1.3.2 Nguyên tắc của việc lập kế hoạch
1.3.2.1 Nguyên tắc thống nhất
Tính thống nhất là một yêu cầu của công tác quản lý. Doanh nghiệp
được cấu thành bởi hệ thống khá phức tạp, bao gồm các mối quan hệ dọc và
mối quan hệ ngang. Hệ thống dọc bao gồm mối quan hệ giữa các cấp với
nhau trong hệ thống tuyến quản lý như : giám đốc - quản đốc phân xưởng - tổ
trưởng sản xuất – công nhân. Mối quan hệ ngang là sự tác động mang tính
chức năng giữa các phòng ban với nhau trong một cấp quản lý.
Nguyên tắc thống nhất yêu cầu đảm bảo sự phân chia và phối hợp chặt
chẽ trong quá trình xây dựng, triển khai tổ chức thực hiện kế hoạch giữa các
cấp, các phòng ban chức năng trong một doanh nghiệp thống nhất. Nội dung
của nguyên tắc này thể hiện:
- Trong doanh nghiệp, tồn tại nhiều quá trình kế hoạch hoá riêng biệt, có
nghĩa là có các tiểu hệ thống kế hoạch hoá. Các kế hoạch bộ phận đi vào giải
quyết những mảng công việc mang tính chức năng, đặc thù riêng, với các mục
tiêu và tổ chức thực hiện khác biệt. Vì vậy, cần phải có sự phân định chức
năng rõ ràng giữa các bộ phận, các phòng ban trong công tác kế hoạch hoá.
- Tuy vậy, mỗi tiểu hệ thống kế hoạch đều đi từ chiến lược chung của toàn
doanh nghiệp và thực hiện một mục tiêu chung. Các kế hoạch được hình
thành trong doanh nghiệp không chỉ đơn giản là phép cộng hay sự lắp ghép
thuần tuý các kế hoạch bộ phận mà còn là hệ thống các kế hoạch có liên quan
Nguyễn Trà Minh – Lớp Kế hoạch 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
chặt chẽ với nhau. Hoạt động của một phần doanh nghiệp không thể hiệu quả
nếu kế hoạch hoá của phần này không liên quan đến công việc kế hoạch hoá
của phần khác. Một phần thay đổi bất kỳ nào trong kế hoạch của một bộ phận
phòng ban chức năng cũng cần phải thực hiện ở trong kế hoạch của các bộ
phận chức năng khác.
Tính thống nhất trong công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp nhằm mục tiêu
hướng tới mục đích chung của doanh nghiệp cũng như vì sự phát triển của
từng bộ phận cấu thành.
1.3.2.2 Nguyên tắc tham gia
Nguyên tắc tham gia có liên quan mật thiết với nguyên tắc thống nhất.
Nguyên tắc này có nghĩa là mỗi thành viên của doanh nghiệp đều tham gia
những hoạt động cụ thể trong công tác kế hoạch hoá, không phụ thuộc vào
nhiệm vụ và chức năng của họ.
Nội dung của nguyên tắc tham gia được thể hiện trong việc hình thành
những thể chế, những mô hình nhằm thu hút được đông đảo quần chúng và
các tổ chức quần chúng trong doanh nghiệp trong việc tham gia trong việc
xây dựng và thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp, như: phương thức ký kết
hợp đồng tập thể trong đơn vị kinh tế; những phương án sản xuất, phân phối
thu nhập từ phía công đoàn, các đề xuất, các chương trình, công trình từ phía
thanh niên…
Như vậy trong điều kiện hiện nay, nguyên tắc tham gia là một nguyên tắc
bắt buộc với công tác kế hoạch hóa nói chung cũng như trong quá trình soạn
lập kế hoạch nói riêng nếu muốn kế hoạch hoá doanh nghiệp đạt hiệu quả tốt
nhất.
1.3.2.3 Nguyên tắc linh hoạt
Nguyễn Trà Minh – Lớp Kế hoạch 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Do những bất định trong tương lai và sai lầm có thể có ngay cả trong các
dự báo thông thái nhất nên kế hoạch hóa phải mang tính linh hoạt. Nếu có thể
xây dựng các kế hoạch càng linh hoạt, thì sự thiệt hại gây ra cho các sự kiện
chưa lường trước được ngày càng ít.
Yêu cần của nguyên tắc linh hoạt đòi hỏi quá trình soạn thảo kế hoạch cần
phải đưa thêm phần dự phòng hay tốt nhất là con số kế hoạch nên là một
khoảng thời chứ không nên là một điểm. Bên cạnh đó cũng cần phải xem xét
lại các kế hoạch một cách thường xuyên để có những điều chỉnh kịp thời. Để
đảm bảo cho nguyên tắc linh hoạt cần phải có chi phí phụ và mức chi phí này
cần phải tương đương với khả năng xuất hiện rủi ro.
1.3.3 Các bước soạn lập kế hoạch
Soạn lập kế hoạch là bước đầu tiên và quan trọng nhất trong quy trình kế
hoạch hoá. Lập kế hoạch là một quá trình đòi hỏi có tri thức. Nó đòi hỏi
chúng ta phải xác định các mục tiêu một cách có ý thức có căn cứ và đưa ra
các quyết định trên cơ sở mục tiêu, sự hiểu biết và những đánh giá thận trọng.
Lập kế hoạch phải tuân thủ theo một quy trình với các bước cụ thể.

Hình 1.1 Các bước soạn lập kế hoạch
Nguyễn Trà Minh – Lớp Kế hoạch 46B
Phân
tích môi
trường
Nhiệm
vụ và
mục
tiêu
Kế
hoạch
chiến
lược
Chương
trình,
dự án
Kế
hoạch
tác
nghiệp
và ngân
sách
Đánh
giá và
hiệu
chỉnh
các pha
của kế
hoạch
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Sơ đồ tổng quát trên mô tả những bước đi cụ thể của quá trình lập kế hoạch
như sau:
Bước 1: Nhận thức cơ hội trên cơ sở xem xét đánh giá môi trường bên trong
và bên ngoài doanh nghiệp, xác định thành phần cơ bản của môi trường tổ
chức, đưa ra các thành phần có ý nghĩa thực tế đối với doanh nghiệp, thu thập
và phân tích thông tin về thành phần này; Tìm hiểu các cơ hội có thể có trong
tương lai và xem xét một cách toàn diện, rõ ràng, biết được ta đang đứng ở
đâu trên cơ sở điểm mạnh và điểm yếu của mình. Hiểu rõ tại sao chúng ta giải
quyết những điều không chắc chắn và biết chúng ta hy vọng thu được gì. Việc
đưa ra các mục tiêu thực hiện của doanh nghiệp trong thời kỳ kế hoạch phụ
thuộc vào những phân tích này.
Bước 2: Thiết lập nhiệm vụ, mục tiêu cho toàn doanh nghiệp và cho các đơn
vị cấp dưới. Các mục tiêu sẽ xác định kết quả cần thu được và chỉ ra điểm kết
thúc trong các việc cần làm, nơi nào cần phải được chú trọng ưu tiên và cái gì
cần hoàn thành bằng một hệ thống các chiến lược, các chính sách, các thủ tục,
các ngân quỹ, các chương trình.
Bước 3: Lập kế hoạch chiến lược. Doanh nghiệp so sánh các nhiệm vụ, mục
tiêu ( các yếu tố mong muốn) với kết quả nghiên cứu về môi trường bên trong
và bên ngoài ( yếu tố giới hạn mục tiêu mong muốn). Bước này gồm các khâu
cụ thể như sau:
• Xác định các phương án kế hoạch chiến lược, xác định các phương án
hợp lý, tìm ra các phương án có nhiều triển vọng nhất.
• Đánh giá, lựa chọn các phương án khác nhau, tức là xem xét, đánh giá
điểm mạnh, yếu của từng phương án.
Lựa chọn phương án cho kế hoạch chiến lược, đây là khâu mang tính quyết
định đến việc cho ra đời bản kế hoạch chiến lược. Việc lựa chọn này tuỳ
thuộc vào các mục tiêu ưu tiên của doanh nghiệp trong thời kỳ kế hoạch.
Nguyễn Trà Minh – Lớp Kế hoạch 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Bước 4: Xác định các chương trình dự án. Đây là các phân hệ của kế hoạch
chiến lược. Các chương trình thường xác định sự phát triển của một trong các
hoạt động quan trọng của đơn vị kinh tế còn các dự án thường định hướng đến
một mặt hoạt động cụ thể hơn. Nội dung của các chương trình bao gồm: xác
định các mục tiêu nhiệm vụ, các bước tiến hành, các nguồn lực cần sử dụng
và các yếu tố khác để tiến hành chương trình hành động cho trước. Các dự án
thường được xác định một cách chi tiết hơn chương trình.
Bước 5: Soạn lập hệ thống các kế hoạch chức năng và ngân sách. Bộ phận kế
hoạch chức năng của doanh nghiệp thường bao gồm : kế hoạch sản xuất và dự
trữ, kế hoạch nhân sự, kế hoạch marketing, kế hoạch tài chính, kế hoạch R &
D. Các kế hoạch này có mối quan hệ mật thiết với nhau trong đó kế hoạch
marketing là trung tâm và cơ sở cho mọi kế hoạch tác nghiệp khác.
Hình 1.2 Mối quan hệ giữa các kế hoạch chức năng trong doanh nghiệp
Nguyễn Trà Minh – Lớp Kế hoạch 46B
Kế
hoạch R
& D
Kế hoạch
marketing
Kế
hoạch tài
chính
Kế
hoạch
nhân sự
Kế
hoạch
sản xuất
và dự
trữ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét