tìm ra những giải pháp, bước đi trong những năm tới đạt hiệu quả cao nhất. Em
đã chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài:
" Những giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Quản
Bạ- tỉnh Hà Giang".
Đây là một vấn đề có ý nghĩa trong việc nghiên cứu khoa học và giải quyết
những vấn đề thực tiễn cấp bách đang được đặt ra trong phát triển kinh tế nông
nghiệp ở nước ta nói chung và ở huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang nói riêng.
Mục đích nghiên cứu đề tài là:
Trên cơ sở nêu rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, phân tích đánh giá về thực trạng cơ cấu và chuyển dịch cơ
cấu nông nghiệp, rút ra những mặt đã đạt được, những hạn chế và những vấn đề
đặt ra cần giải quyết. Từ đó đưa ra những quan điểm, phương hướng mục tiêu và
các giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế nông nghiệp của
huyện Quản Bạ trong những năm tới. Nội dung chuyển dịch cơ cấu KTNN nông
thôn rất đa dạng, nhưng xuất phát từ tình hình cụ thể của huyện Quan Bạ và
nguồn tài liệu để nghiên cứu tham khảo. Vì vậy nhiệm vụ, phạm vi đề tài, từ
những căn cứ lý luận thực tiễn, tập trung nghiên cứu các nội dung cơ cấu kinh tế
nông nghiệp và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong 5 năm (2000-
2005) để có phương hướng và những giải pháp chuyển dịch cơ cấu và phát triển
KTNN của huyện Quản Bạ trong giai đoạn (2006-2010). Phương pháp nghiên
cứu: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phân tích hệ thống;
thống kê kinh tế; tổng hợp, kế thừa những kết quả đã nghiên cứu những vấn đề có
liên quan đến chuyên đề ở các cơ quan Trung ương và địa phương.
Với những kiến thức được trang bị, được sự giúp đỡ của PGS.Tiến sĩ: Phan
Kim Chiến giảng viên trực tiếp hướng dẫn viết đề tài, các thầy cô trong Khoa
Khoa học quản lý Trường Đại học Kinh tế quốc dân, các đồng chí lãnh đạo Uỷ
ban nhân dân huyện Quản Bạ, cơ quan Văn phòng UBND huyện Quản Bạ nơi
thực tập và một số Phòng ban, cơ quan chuyên môn khác trên địa bàn huyện đã
tạo điều kiện và cung cấp tài liệu giúp đỡ để hoàn thành đề tài.
(1). Kinh tế nông nghiệp lý thuyết và thực tiễn. Tác giả TS. Đinh Phi Hổ, Nhà XB Thống kê - 2003, tr 3
(2). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, tr 149
Chương I : Những lý luận chủ yếu về chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp
“Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn
trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển.
ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay
cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông
nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và
không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản
phẩm tối cần thiết đó là: lương thực, thực phẩm. Những sản phẩm này cho dù
trình độ khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay vẫn chưa có ngành nào có
thể thay thế được. Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết
định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước”
(1)
. Qua các vấn đề nêu trên đã chứng minh vai trò quan trọng của nông
nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó là một ngành không thể thiếu trong cơ cấu
kinh tế của mỗi quốc gia và nhất là đối với các nước đang phát triển.
Đúng như vậy : Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam từ trước đến nay vẫn
giữ vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế của đất
nước, là một nước đi lên công nghiệp hoá từ nông nghiệp. Nông nghiệp là một
lĩnh vực rộng lớn của đời sống KTXH bao gồm nhiều ngành, nhiều hoạt động
kinh tế của nhiều thành phần kinh tế nông nghiệp, nông thôn là nơi làm việc và
sinh sống của 4/3 dân số và 3/4 lao động của cả nước. Do đó một trong những nội
dung cốt lõi của việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn là phải xác định
hoàn thiện cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Những năm gần đây, nhờ chính sách đổi
mới, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã có những thay đổi đáng kể theo
chiều hướng tích cực, đáp ứng bước đầu những yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên đứng trên quan điểm
toàn diện cả nước thì cơ
cấu kinh tế nông nghiệp thay đổi chưa nhiều, tốc độ chuyển dịch chậm, tỷ lệ đạt
chưa thực hợp lý để tạo ra sự thay đổi đặc biệt trong cơ cấu kinh tế quốc dân và
phân công lao động xã hội.
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực
tiễn của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, trên cơ sở đó để tìm ra những
phương hướng và giải pháp phù hợp nhằm góp phần làm cho cơ cấu kinh tế nông
nghiệp chuyển dịch đúng hướng nhanh hơn và hiệu quả hơn, đối với cả nước nói
chung và từng địa phương vùng lãnh thổ nói riêng là rất quan trọng.
I. Khái niệm, đặc trưng vai trò, vị trí của cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.Cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế :
1.1. Cơ cấu kinh tế :
6
“Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu về chất lượng và số
lượng tương đối ổn định của các yếu tố về kinh tế hoặc các bộ phận cấu thành
của nền sản xuất xã hội trong những điều kiện và thời gian nhất định.”
(1) Giáo trình chính sách kinh tế xã hội-Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Nhà XB KHKT-Hà Nội (tr273)
“Cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân là hình thức cấu tạo bên trong của
nền KTQD, đó là tổng thể các quan hệ chủ yếu về số lượng và chất lượng tương
đối ổn định của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một hệ thống tái sản
xuất xã hội với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Nền KTQD dưới giác
độ cấu trúc là sự đan xen của nhiều loại cơ cấu khác nhau, có mối quan hệ chi
phối lẫn nhau trong quá trình phát triển của nền kinh tế. Những loại cơ cấu kinh
tế cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của nền KTQD bao gồm: Cơ cấu
ngành và nội bộ ngành sản xuất. Loại cơ cấu này phản ánh số lượng và chất
lượng cũng như tỷ lệ giữa các ngành và sản phẩm trong nội bộ ngành của nền
KTQD. Nền KTQD là một hệ thống sản xuất bao gồm những ngành lớn như :
Công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ. Trong mỗi ngành lớn lại
hình thành ngành nhỏ hơn thường gọi là các ngành kinh tế – kỹ thuật. Ví dụ trong
nông nghiệp thì có lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp ”
(1)
.
1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế :
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi thành phần và quan hệ tỷ lệ giữa
các mặt, các yếu tố, các bộ phận cấu thành của một hệ thống kinh tế từ trạng thái
này sang trạng thái khác phù hợp với những yêu cầu của nền kinh tế xã hội. Thực
chất của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự biến đổi lao động xã hội theo những
hướng nhất định”.
Cơ cấu kinh tế không thể cố định lâu dài, mà phải có những chuyển dịch cần
thiết thích hợp với sự biến động của điều kiện TN- KT- XH. Sự duy trì quá lâu
hoặc sự thay đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế mà không dựa vào những biến đổi
của điều kiện TN- KT- XH đều gây nên những thiệt hại về kinh tế. Việc duy trì
hay thay đổi cơ cấu kinh tế không chỉ là mục tiêu mà chỉ là phương tiện của việc
tăng trưởng và phát triển kinh tế. Vì vậy có nên chuyển dịch cơ cấu kinh tế hay
không, chuyển dịch nhanh hay chậm, không phải là sự mong muốn chủ quan mà
phải dựa vào mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế xã hội như thế nào. Điều này cần thiết
cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi nước và riêng cho cả các vùng, các
doanh nghiệp trong đó có cơ cấu KTNN.
2. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp :
2.1.Cơ cấu kinh tế nông nghiệp :
Cơ cấu KTNN là bộ phận cấu thành rất quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế
quốc dân, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở
nước ta. Cơ cấu KTNN là một tổng thể các quan hệ kinh tế đó là các mối quan hệ
tỷ lệ về số lượng, chất lượng và các quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các bộ phận
cấu thành nền nông nghiệp bao gồm các ngành sản xuất nông lâm nghiệp, các
vùng sản xuất nông nghiệp và các thành phần kinh tế trong nông nghiệp.
(1). Giáo trình Chính sách KT - Xã hội. Trường ĐH Kinh tế quốc dân. NXB KH kỹ thuật HN- 2000 tr 273
2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp :
“Là sự thay đổi quan hệ tỷ lệ về mặt lượng các thành phần, các yếu tố và các
bộ phận hợp thành kinh tế nông nghiệp theo một xu hướng nhất định”.
Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu KTNN nói riêng không phải là bất biến
mà sẽ vận động phát triển và chuyển hóa từ cơ cấu kinh tế cũ sang cơ cấu kinh tế
mới. Sự chuyển dịch đó đòi hỏi phải có thời gian và phải trải qua những bậc
thang nhất định của sự phát triển. Đầu tiên là sự thay đổi về lượng, khi lượng đã
tích luỹ đến độ nhất định tất yếu dẫn đến sự thay đổi về chất. Đó là quá trình
chuyển hóa dần từ cơ cấu kinh tế cũ thành cơ cấu kinh tế mới phù hợp và có hiệu
quả hơn. Tất nhiên quá trình chuyển dịch cơ cấu KTNN nhanh hay chậm còn tuỳ
thuộc vào nhiều yếu tố trong đó sự tác động của con người có ý nghĩa quan trọng.
Do vậy chuyển dịch cơ cấu KTNN là qúa trình làm thay đổi cấu trúc và các mối
quan hệ của hệ thống KTNN theo một chủ định và định hướng nhất định, nghĩa là
đưa hệ thống KTNN đến trạng thái phát triển tối ưu đạt được hiệu quả, thông qua
các tác động điều khiển có ý thức, định hướng của con người, trên cơ sở nhận
thức và vận dụng đúng đắn các qui luật khách quan.
Vai trò, vị trí của chuyển dịch cơ cấu KTNN nhằm đáp ứng sự phát triển của
nền kinh tế thị trường, đáp ứng nhu cầu về nông sản phẩm của xã hội, nhu cầu
tiêu dùng của dân cư. Là điều kiện và nhu cầu để mở rộng thị trường, tạo cơ sở
cho việc thay đổi bộ mặt nông thôn nói chung và bộ mặt nông nghiệp nói riêng,
đồng thời tạo ra một nền sản xuất chuyên môn hóa cao, thâm canh tiên tiến và
các ngành liên kết chặt chẽ với nhau hơn.
3.Nội dung cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Nội dung của cơ cấu KTNN bao gồm : cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ,
cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu kỹ thuật. Sự phân công lao động theo ngành là
cơ sở hình thành cơ cấu ngành, sự phân công lao động phát triển ở trình độ cao,
càng tỷ mỷ thì sự phân công chia ngành càng đa dạng và sâu sắc. Trong lịch sử
phát triển xã hội loài người trong thời gian dài kinh tế nông nghiệp chủ yếu là
trồng trọt, chăn nuôi chưa phát triển, những nước kém phát triển tỷ trọng trong
trồng trọt trong nông nghiệp chiếm rất cao, đại bộ phận nông dân chủ yếu tham
gia lao động trồng trọt chỉ có số ít là kết hợp và chăn nuôi. Cùng với sự phát triển
của lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học- kỹ thuật đặc biệt sự phát triển của
nông nghiệp hiện đại, cơ cấu KTNN được cải biến nhanh chóng theo hướng sản
xuất hàng hoá, CNH, HĐH.
3.1.Cơ cấu ngành
Trong nông nghiệp không chỉ bao gồm ngành trồng trọt và chăn nuôi nó còn
gồm cả ngành lâm nghiệp và dịch vụ nông nghiệp. Do vậy trong cơ cấu ngành
8
còn phải xét tới sự chuyển dịch của ngành lâm nghiệp và ngành dịch vụ. Cơ cấu
nghành của KTNN bao gồm các nhóm ngành trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông
nghiệp và lâm nghiệp. Trong mỗi nhóm ngành lại được chia thành những ngành
hẹp hơn. Trong trồng trọt lại chia thành cây lương thực, cây công nghiệp, cây
thực phẩm, cây ăn quả, cây dược liệu Trong lĩnh vực chăn nuôi được phân chia
thành: đại gia súc, tiểu gia súc, gia cầm Kinh nghiệm trong nước và thế giới
cho thấy chuyển dịch cơ cấu KTNN mang tính qui luật: từ trồng trọt mở ra lâm
nghiệp, ngư nghiệp, chăn nuôi, sản xuất hàng hoá. Trong một thời gian khu vực
kinh tế nước ta chậm chuyển biến, nông nghiệp chiếm vị trí chủ yếu, cơ cấu chậm
chuyển dịch nguyên nhân chủ yếu là lực lượng sản xuất kém phát triển, năng suất
lao động thấp, phân công lao động chưa cụ thể sâu sắc nên tình trạng thiếu lương
thực kéo dài. Từ thập kỷ 90 trở lại đây sản xuất lương thực đạt được thành tựu to
lớn, dư thừa lương thực để xuất khẩu, do vậy làm cho cơ cấu KTNN chuyển dịch
nhanh chóng theo hướng có hiệu quả. Những nước có trình độ kém phát triển
kém nông nghiệp chiếm đại bộ phận trong nền kinh tế thì sự phát triển của lực
lượng sản xuất đặc biệt là tiến bộ khoa học kỹ thuật ứng dụng vào làm cho cơ cấu
kinh tế chuyển dịch nhanh chóng theo hướng CNH, HĐH.
3.2.Cơ cấu vùng lãnh thổ :
Sự phân công lao động theo ngành bao giờ cũng diễn ra trên những vùng
lãnh thổ nhất định, nghĩa là cơ cấu vùng lãnh thổ chính là việc bố trí các ngành
trong sản xuất nông nghiệp theo không gian cụ thể nhằm khai thác mọi ưu thế
tiềm năng to lớn. ở đây, xu thế chuyển dịch cơ cấu vùng lãnh thổ đi vào chuyên
môn hoá và tập trung hoá hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn tập trung
có hiệu quả cao mở với các vùng chuyên môn hoá khác, gắn cơ cấu của từng khu
vực với cơ cấu kinh tế của cả nước. Trong từng vùng lãnh thổ coi trọng chuyên
môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp đa dạng. Để hình thành cơ cấu vùng lãnh
thổ hợp lý thì cần bố trí các ngành trên vùng lãnh thổ hợp lý, để khai thác đầy đủ
tiềm năng của từng vùng. Đặc biệt cần bố trí các ngành chuyên môn hoá dựa trên
những lợi thế so sánh từng vùng đó là những vùng có đất đai tốt, khí hậu thuận
lợi, đường giao thông lớn và các khu công nghiệp.
3.3. Cơ cấu thành phần kinh tế
Ở nước ta trong thời kỳ bao cấp, cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp chuyển
biến chậm, chỉ tồn tại hai loại hình kinh tế: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể.
Đến đại hội VI của Đảng với nội dung chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh
tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì nền kinh tế phát triển đa dạng và
nhiều thành phần. Đáng chú ý trong qua trình chuyển dịch cơ cấu thành phần
kinh tế nổi lên các xu thế sau: đó sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế trong
đó: kinh tế hộ nổi lên thành kinh tế hộ độc lập, tự chủ, đây là thành phần kinh tế
năng động nhất, tạo ra sản phẩm hàng hoá phong phú đa dạng cho xã hội. Trong
quá trình phát triển kinh tế hộ chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất
hàng hoá nhỏ tiến tới hình thành các trang trại, nông trại (sản xuất hàng hóa lớn).
Thành phần kinh tế quốc doanh có xu hướng giảm mạnh. Nhà nước đang có biện
pháp sắp xếp, rà soát lại, hoặc chuyển sang các chức năng khác cho phù hợp với
điều kiện hiện nay. Thành phần kinh tế tập thể ( kinh tế HTX ) cũng chuyển đổi
chức năng của mình sang các HTX kiểu mới làm chức năng hướng dẫn sản xuất
và công tác dịch vụ phục cho nguyện vọng của các hộ nông dân mà trước đây
chức năng của HTX là trực tiếp điều hành sản xuất. Như vậy sự phát triển đa
dạng của các thành phần kinh tế cùng với việc chuyển đổi chức năng cuả nó làm
cơ cấu thành phần kinh tế trong nông nghiệp có những chuyển biến mạnh mẽ
theo hướng phát huy hiệu quả của các thành phần kinh tế.
3.4. Cơ cấu kỹ thuật :
Trong thời gian dài cũng giống như cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu kỹ
thuật trong nông nghiệp nước ta mang nặng tính chất cổ truyền, nông nghiệp
truyền thống lạc hậu, phân tán, manh mún và có tính bảo thủ, kỹ thuật mang tính
cha truyền con nối, tự đào tạo và truyền khẩu những kinh nghiệm trong phạm vi
từng gia đình. Vì vậy sản xuất nông nghiệp lệ thuộc vào tự nhiên, cơ cấu kỹ thuật
chậm chuyển biến. Đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật, sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp tiểu thủ công nghiệp, dịch
vụ đã tác động vào nông nghiệp làm phá vỡ tính cổ truyền, lạc hậu và trì trệ, làm
cho tính truyền thống giảm mạnh, công nghiệp hoà nhập vào nông nghiệp.
KTNN có sự kết hợp của kỹ thuật truyền thống đan xem với kỹ thuật tiên tiến
hiện đại. Từ đó làm cho cơ cấu kỹ thuật trong nông nghiệp nước ta trong những
năm qua chuyển biến mạnh mẽ.
4. Đặc trưng của cơ cấu kinh tế nông nghiệp
4.1.Mang tính khách quan :
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp tồn tại và phát triển phụ thuộc vào trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội.
Vì vậy trong mỗi ngành, mỗi vùng đều có cơ cấu riêng của mình tuỳ theo
điều kiện TN-KT-XH cụ thể. Trong phạm vi cả nước cơ cấu kinh tế hợp lý phải
phản ánh sự tác động của các quy luật phát triển khách quan, bởi nó hình thành
do sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động chi phối ở trong
một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất sẽ có một cơ cấu kinh tế
cụ thể tương ứng.
4.2.Mang tính lịch sử và xã hội nhất định
Nó phản ánh quy luật chung của quá trình phát triển kinh tế xã hội, cơ cấu
này ở mỗi nơi lại khác nhau. Trong một nước thì ở mỗi vùng, địa phương lại có
một cơ cấu khác nhau, do đó ta thấy cơ cấu kinh tế mang tính “ vùng” rõ rệt.
Xuất phát từ việc tôn trọng tính này để xây dựng cơ cấu kinh tế, nhất thiết không
thể theo một khuôn mẫu chung mà phải có tính linh hoạt, mềm dẻo thì mới đảm
bảo được hiệu quả kinh tế, phát huy tính vùng.
4.3.Luôn luôn vận động và là cả một quá trình
10
Trong triết học Các Mác đã nêu : “Sự vật và hiện tượng luôn luôn vận
động và biến đổi không ngừng”. Thực tiễn lịch sử của sự vận động và tồn tại của
xã hội, cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu KTNN nói riêng không thể cố định mà
phải có sự biến đổi, điều chỉnh thích hợp với sự thay đổi của các điều kiện kinh
tế xã hội và tiến bộ khoa học công nghệ, để đảm bảo quy mô và nhịp độ phát
triển kinh tế, cơ cấu kinh tế. Làm thay đổi cấu trúc và mối liên hệ của một nền
kinh tế theo một mục đích và phương hướng nhất định, cũng có nghĩa là sự vận
động biến đổi của cơ cấu kinh tế từ giản đơn đến phức tạp. Sự chuyển dịch phải
là một quá trình, nhưng không phải là tự phát mà con người có thể và nhất thiết
phải tác động, thúc đẩy, thậm chí can thiệp nhằm thúc đẩy sự phát triển của quá
trình này. Tất nhiên phải trên cơ sở nhận thức được quy luật khách quan của
chúng để tác động đúng mục tiêu đã hoạch định. Quan trọng ở chỗ phải bắt đầu
từ đâu, với những biện pháp nào, khâu nào để có thể gây phản ứng dây chuyền
tạo ra bước phát triển mới tổng thể nền kinh tế quốc dân.
II. Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một tất yếu khách quan
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một yếu tố khách quan do bởi nông
nghiệp có một vị trí quan trọng, là ngành sản xuất ra những sản phẩm thiết yếu cho nhu
cầu tồn tại và phát triển xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp sẽ có tác động
rất mạnh đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội nó gắn
liền và chi phối sự hình thành và biến đổi của cơ cấu kinh tế trong nền kinh tế tự
cung tự cấp lực lượng sản xuất phân công lao động xã hội kém phát triển trì trệ
nên cơ cấu KTNN chậm chuyển biến, chỉ từ khi chuyển từ nền kinh tế thuần
nông sang sản xuất hàng hoá thì lực lượng sản xuất và phân công lao động mới
phát
triển ở trình độ cao làm cho cơ cấu chuyển dịch mạnh mẽ, mặt khác sự phát triển
của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội là một xu thế tất yếu khách
quan của sự phát triển xã hội, do đó chuyển dịch cơ cấu KTNN cũng là một tất
yếu khách quan. Ngoài ra sự chuyển dịch cơ cấu KTNN còn bắt nguồn từ thực
trạng kém hiệu quả nhưng còn rất nhiều tiềm năng, vẫn mang nặng tính trồng
trọt, lĩnh vực chăn nuôi chưa được chú trọng, tỷ suất hàng hoá còn thấp, cơ cấu
còn kém hiệu quả. Trong điều kiện hiện nay nước ta với nguồn lao động dồi dào,
điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi nhưng tất cả vẫn ở dạng tiềm ẩn chưa được
khai thác một cách đầy đủ và hợp lý. Bởi vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chính là
nhằm giải quyết vấn đề này. Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu là phải trên cơ sở
tiềm năng sẵn có hình thành cơ cấu mới nhằm khai thác hiệu quả các tiềm năng
đó tạo ra một tỷ suất hàng hoá hơn, hiệu quả kinh tế ngày càng cao góp phần đắc
lực vào quá trình tăng trưởng kinh tế của cả nước. Bên cạnh đó quá trình chuyển
dịch cơ cấu KTNN tất yếu lại chi phối bởi sự phát triển của thị trường. Thực hiện
đường lối đổi mới kinh tế đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nền kinh
tế thị trường đang ngày một phát triển và tác động mạnh mẽ vào mọi lĩnh vực,
mọi ngành kinh tế. Trên địa bàn cả nước theo cơ chế đó thì mọi khu vực sản xuất,
mọi thành phần kinh tế khi tiến hành sản xuất phải nắm vững và bám sát thị
trường. Trong nền kinh tế hàng hoá phát triển tất yếu các quan hệ kinh tế đều
được tiền tệ hoá, các yếu tố sản xuất như: tài nguyên, sức lao động, công nghệ
các sản phẩm dịch vụ tạo ra ngay cả chất xám đều được coi là đối tượng mua bán
là hàng hoá. Cơ cấu KTNN trong cơ chế thị trường cũng phải đảm bảo và tuân
thủ các mối quan hệ đó. Trong nền kinh tế thị trường giá cả điều tiết hành vi của
người sản xuất từ đó tạo ra một thiết chế làm nảy sinh mối quan hệ tỷ lệ nhất định
trong cơ cấu kinh tế.
Vấn đề đặt ra bằng nhận thức và hành động của các nhà quản lý, các cơ quan
hoạch định chính sách phải có giải pháp điều chỉnh thông qua hệ thống các chính
sách kinh tế, định hướng cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiệu quả cao nhất.
Chúng ta không thể phó mặc để cơ chế thị trường tự phát điều chỉnh cơ cấu kinh
tế. Những vấn đề có một cơ cấu kinh tế có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường
thì cơ cấu đó phải thoả mãn được những yêu cầu của thị trường đặt ra. Như vậy
chuyển dịch cơ cấu KTNN phải xuất phát từ những căn cứ mà thị trường đòi hỏi
và phải thoả mãn tốt mọi nhu cầu của thị trường.
2. Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp
Với mục đích cao nhất mà Đảng và Nhà nước là phải hướng tới, đó là
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta vì :
-“ Nông nghiệp, nông thôn, nông dân là vấn đề có vị trí chiến lược, có vai
trò to lớn trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
- Phát triển KTNN nông thôn là giải pháp cơ bản để khắc phục tình trạng tự
cung tự cấp, đẩy mạnh được phân công lao động, giải quyết việc làm, nâng cao thu
nhập cho người lao động.
- KTNN nông thôn vẫn còn nhiều mặt yếu kém, gây khó khăn, trở ngại lớn
cho CNH, HĐH đất nước, đòi hỏi phải được khắc phục, giải quyết.
- Phát triển nông nghiệp, nông thôn để xoá dần khoảng cách giữa thành thị
và nông thôn, đưa nông thôn tiến lên con đường văn minh hạnh phúc”
(1)
.
Đảng và Nhà nước ta có chủ trương đẩy mạnh việc đưa công nghệ sinh học
vào sản xuất và đặc biệt là việc sử dụng các giống cây trồng vật nuôi có năng suất
và chất lượng cao nhằm tạo ra khối lượng sản phẩm lớn và giá trị sản lượng hàng
hoá cao, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Trong những năm qua để tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu
nông nghiệp được thuận lợi và nâng cao đời sống của các hộ nông dân, Đảng và
Nhà nước đã ban hành chính sách đầu tư vốn phát triển kinh tế nông nghiệp phát
triển sản xuất và các chính sách hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, thực hiện
chuyển giao công nghệ tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao dân trí và điều kiện
sống trong nông thôn. Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất đời sống ở
nông thôn, đồng thời để tạo điều kiện cho việc thực hiện chuyên môn hoá, thâm
canh cao trong sản xuất nông nghiệp Nhà nước cũng đã có chính sách ruộng đất
12
đảm bảo cho nông dân yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, chính sách đầu tư hỗ trợ
phát triển và đảm bảo tiêu thụ sản phẩm, chính sách đào tạo bồi dưỡng nâng cao
trình độ cho người lao động và chính sách hỗ trợ đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.
Cùng với việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi trong quá trình thực hiện
chuyển dịch cơ cấu KTNN.
(1). Tìm hiểu môn học KT chính trị Mác- LêNin của PGS.TS. Vũ Văn Phúc, TS. Mai Thế Hởn. Nhà XB Lý luận
chính trị - 2004 tr128
“ trong giai đoạn từ năm 1987 đến nay các Nghị quyết Đại hội VI, VII, VIII,
IX Đảng ta luôn nhấn mạnh thực hiện nhất quán, lâu dài chủ trương phát triển
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chủ trương đó trong nông nghiệp được cụ thể
và hoàn thiện trong các văn bản quan trọng mang tính lịch sử như: Nghị quyết 10
của Bộ Chính trị khoá VI (5/4/1988), Nghị quyết 6 Trung ương khoá VI
(03/1989), Luật Đất đai (1993), Nghị quyết 5 Trung ương khoá VII (6/1993),
Luật Hợp tác xã (4/1996) ”
(1)
.
Từ các vấn đề nêu trên cho thấy Đảng và Nhà nước ta quan tâm đến nông
nghiệp coi đó là một nhiệm vụ mục tiêu phát triển hàng đầu, kinh tế nông thôn
vẫn giữ vị trí, vai trò quan trọng.
3. Yêu cầu xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá CNH và HĐH
Đại hội Đảng lần thứ VIII đã khẳng định nước ta muốn phát triển nhất
thiết phải thực hiện công cuộc hiện đại hoá. Đại hội nhấn mạnh nội dung cơ
bản của CNH, HĐH giai đoạn hiện nay là; đặc biệt coi trọng CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn. Vì nó tạo tiền đề và cơ sở vững chắc thúc đẩy toàn
bộ quá trình CNH, HĐH nền kinh tế đất nước, là mũi đột phá quan trọng
nhằm giải phóng sức lao động trong nông nghiệp hiện chiếm trên 70% lao
động cả nước, tạo điều kiện khai thác tốt tiềm năng dồi dào về lao động đất
đai. CNH, HĐH nông nghiệp tạo điều kiện giải quyết vấn đề xoá đói giảm
nghèo ở nhiều vùng ở nông thôn. Tạo điều kiện để phát triển năng lực sản
xuất khuyến khích mọi lực lượng lao động trong các thành phần kinh tế
hướng vào việc sản xuất nông sản hàng hoá. Giải quyết tốt quan hệ giữa sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm. Quan hệ giữa việc hoạch định phương hướng,
mục tiêu sản xuất trong từng thời kỳ.Chính việc tạo điều kiện giải quyết các
mối quan hệ trên là việc tác động vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Vì chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm thực hiện giải quyết các mối quan hệ
trên. Do đó CNH- HĐH nông nghiệp là cơ sở để thực hiện quá trình chuyển
dịch cơ cấu. Chính vì vậy tại Văn kiện Đại hội IX của Đảng trong mục tiêu
chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001-2010 đã lại tiếp tục khẳng
định:
“Một là: đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông
thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn phù hợp với nhu
cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng….
Hai là: Xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp…
Ba là: tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ trong nông nghiệp….
Bốn là: tiếp tục phát triển và hoàn thiện về cơ bản hệ thống thuỷ lợi
ngăn mặn giữ ngọt, kiểm soát lũ…
Năm là: phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn….”
(2)
Qua những vấn đề trên có thể thấy Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi
trọng về lĩnh vực ngành nông nghiệp của nước nhà.
(1). Giáo trình Kinh tế nông nghiệp. Trường ĐH Kinh tế quốc dân, NXB Thống kê HN- 2004, tr 52
(2). Văn kiện Đại hội IX của Đảng. Nhà XB Chính trị quốc gia – 2001
III. Những nhân tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp
Cơ cấu KTNN là một khái niệm mang tính khách quan, tính lịch sử xã
hội, nó không những vận động, mà luôn biến đổi và phát triển. Sự chuyển
dịch cơ cấu KTNN là một quá trình do vậy sự hình thành, vận động, biến đổi
và phát triển của nó là kết quả của sự tác động thường xuyên và tổng hợp
các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu KTNN. Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng
đến sự chuyển dịch của cơ cấu KTNN nhưng tựu chung lại thì có 3 nhân tố
ảnh hưởng chủ yếu sau:
1. Nhân tố điều kiện tự nhiên
Nhân tố điều kiện tự nhiên bao gồm : vị trí địa lý của các vùng lãnh
thổ điều kiện đất đai của các vùng: điều kiện khí hậu, thời tiết, các nguồn tài
nguyên khác cuả vùng lãnh thổ như nguồn nước, rừng, biển Nắm bắt được
các nhân tố này nó cho phép chúng ta tránh được hai khuynh hướng trong
thực tiễn đó là : Quá đề cao sự lệ thuộc của cơ cấu kinh tế vào các nhân tố tự
nhiên, hoặc là quá coi nhẹ sự ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên với sự
hình thành và phát triển của cơ cấu kinh tế. Các nhân tố tự nhiên trên tác
động một cách trực tiếp tới sự hình thành, vận động và biến đổi cơ cấu
KTNN. Tuy nhiên sự tác động và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên tới mỗi
nội dung của cơ cấu KTNN là không giống nhau. Trong các nội dung của cơ
cấu KTNN thì cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng của điều
kiện tự nhiên nhiều nhất, còn cơ cấu các thành phần kinh tế và cơ cấu kỹ
thuật chịu ảnh hưởng ít hơn. Trong các điều kiện tự nhiên nêu trên các điều
kiện tự nhiên về đất đai khí hậu vị trí địa lý có ảnh hưởng rất rõ nét tới sự
phát triển của nông nghiệp ( nghĩa rộng gồm: nông, lâm ngư, nghiệp) qua
nông nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới các ngành khác. Trong mỗi quốc gia các
vùng lãnh thổ có vị trí địa lý khác nhau có điều kiện khí hậu (lượng mưa, độ
ẩm, nhiệt độ ) điều kiện đất đai (nông hoá, thổ nhưỡng, địa chất ) các
nguồn tài nguyên tự nhiên khác (nước, rừng biển, các loại tài nguyên mỏ )
và hệ sinh thái khác nhau về số lượng và quy mô các phân ngành chuyên
ngành sâu của nông lâm ngư nghiệp, giữa các vùng có sự khác nhau, dẫn tới
sự khác nhau của cơ cấu ngành. Điều này được thể hiện rõ rệt từng sự phân
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét