Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Chính sách kinh tế mới của Lênin và sự vận dụng nó vào Việt Nam

LờI NóI ĐầU
Kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI ( tháng 12/1986), Đảng ta đã
thực hiện một cuộc đổi mới mang tính toàn diện và sâu sắc trên tất cả các lĩnh
vực, trong đó có đổi mới kinh tế. Chính từ sự đổi mới đó, Đảng ta đã có đợc một
bớc đệm vững chắc trên con đờng phát triển kinh tế sau này.
Có đợc những đổi mới quyết định nh vậy là nhờ có Đảng ta đã khởi xớng và
lãnh đạo. Tuy nhiên, cũng không thể bỏ qua những bài học kinh nghiệm quý báu
từ Chính sách kinh tế mới của Lênin đợc tiến hành ở Liên Xô trong những năm
1921. Chính sách kinh tế mới của Lênin là kim chỉ nam, định hớng cho Đảng ta
trong mọi bớc đi, ngay kể từ khi nớc ta mới tiến hành đổi mới cho đến những
năm gần đây, khi chúng ta đã đi đợc một đoạn đờng khá dài trên con đờng đổi
mới.
Chính vì vậy, em chọn đề tài Chính sách kinh tế mới của Lênin và sự vận
dụng nó vào Việt Nam trong bài tiểu luận này. Để từ đó có thể tìm hiểu một
cách cụ thể hơn về Chính sách kinh tế mới của Lênin cũng nh có thể xem xét,
đánh giá sự vận dụng chính sách này của Đảng ta.
Em xin chân thành cảm ơn Thầy Nguyễn Tiến Long, ngời đã giúp đỡ em để
em có thể hoàn thành bài tiểu luận này.
Đề tài: Chính sách kinh tế mới của Lênin và sự vận dụng vào Việt Nam .
Chủ nghĩa Mác-Lênin luôn luôn là nền tảng t tởng của Đảng ta, chỉ đạo toàn
bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, trong toàn bộ thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Đảng ta đã vận dụng nhiều lý luận trong các học thuyết của Mác-
Lênin làm cơ sở để định hớng đờng lối và phát triển chủ nghĩa xã hội ở nớc ta.
Thời kỳ từ 1986 đến nay, Đảng ta đã thực hiện đổi mới toàn diện mô hình kinh tế
thông qua những nghị quyết của các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII
và VII. Ngoài ra, Đảng ta đã vận dụng một cách có phát triển sách tạo những
quan điểm cơ bản của Lênin về Chính sách kinh tế mới vào những điều kiện
lịch sử ở nớc ta đặt trong hoàn cảnh đất nớc trong thời kỳ đổi mới.
I. Hoàn cảnh ra đời và nội dung của Chính sách kinh tế mới
1.Hoàn cảnh ra đời của NEP
1.1. Tình hình chung của thế giới
Chính sách kinh tế mới của Lênin ra đời trong một bối cảnh lịch sử hết sức
phức tạp. Trớc hết,về tình hình chung của thế giới, cả chủ nghĩa t bản và chủ
nghĩa xã hội đều có những bớc phát triển, biến đổi đáng kể. Đối với chủ nghĩa t
bản, vào những năm 90 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa t bản tự do cạnh tranh đã
chuyển sang chủ nghĩa t bản độc quyền cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các
tổ chức độc quyền. Các tổ chức độc quyền còn liên minh xuyên quốc gia với
nhau tạo thành các liên minh độc quyền quốc tế với thế lực chính trị và sức mạnh
kinh tế hùng hậu. Còn đối với chủ nghĩa xã hội, Lênin đã vận dụng và phát triển
học thuyết của C.Mác và Ph.ăngghen để từ đó đi đến những lý luận mới về chủ
nghĩa cộng sản và về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. Đây là một bớc
ngoặt đánh dấu sự phát triển về mặt lý luận của chủ nghĩa xã hội. Chính từ đó,
Lênin đã lãnh đạo giai cấp vô sản Nga giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng xã
hội chủ nghĩa năm 1917.
1.2. Tình hình cụ thể của nớc Nga
Về tình hình cụ thể của nớc Nga, ngay sau Cách mạng tháng Mời năm 1917
đó, nớc Nga đã đi vào thực hiện kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là tổng
thể các nguyên lý, biện pháp kinh tế - chính trị - văn hoá - xã hội nhằm xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Trớc hết, Lênin cho rằng nền kinh tế phải đợc
2
Đề tài: Chính sách kinh tế mới của Lênin và sự vận dụng vào Việt Nam .
xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu về t liệu sản xuất dới hai hình thức sở hữu
toàn dân và tập thể. Thứ hai, ông còn thực hiện quốc hữu hoá xã hội chủ nghĩa,
chuyển sở hữu t nhân của giai cấp bóc lột về t liệu sản xuất thành sở hữu toàn
dân. Thứ ba, là hợp tác hóa, chuyển ngời lao động cá thể thành ngời lao động tập
thể nhằm hình thành và phát triển sở hữu tập thể về t liệu sản xuất. Thứ t, là vấn
đề công nghiệp hóa để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, phát triển lực lợng sản
xuất. Cuối cùng, Lênin tiến hành cách mạng văn hoá t tởng, xây dựng một nền
văn hoá mới và con ngời xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, kế hoạch xây dựng chủ
nghĩa xã hội của Lênin bị gián đoạn bởi cuộc nội chiến 1918-1920. Trong thời
kỳ này, Lênin đã áp dụng Chính sách cộng sản thời chiến. Nội dung cơ bản của
Chính sách cộng sản thời chiến gồm ba vấn đề, đó là, trng thu lơng thực thừa của
nông dân sau khi dành lại cho họ mức ăn tối thiểu, xoá bỏ quan hệ hàng hoá-
tiền tệ, xoá bỏ việc tự do mua bán lơng thực trên thị trờng và thực hiện chế độ
cung cấp hiện vật cho quân đội và bộ máy nhà nớc. Chính sách cộng sản thời
chiến đã đóng vai trò quan trọng trong thắng lợi của Nhà nớc Xô viết. Nhờ đó
mà quân đội đủ sức để chiến thắng kẻ thù, bảo vệ đợc Nhà nớc Xô Viết non trẻ
của mình. Tuy nhiên, vào cuối năm 1920, sau khi chiến tranh kết thúc, Chính
sách cộng sản thời chiến không còn thích hợp. Nó trở thành nhân tố kìm hãm sự
phát triển của lực lợng sản xuất. Hậu quả chiến tranh đối với nền kinh tế rất nặng
nề, thêm vào đó, chính sách trng thu lơng thực thừa đã làm mất động lực đối với
nông dân. Việc xoá bỏ quan hệ hàng hoá- tiền tệ làm mất tính năng dộng của
nền kinh tế vốn dĩ mới bớc vào giai đoạn phát triển. Vì vậy, khủng hoảng kinh tế
chính trị diễn ra rất sâu sắc. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách kinh tế thích ứng
thay thế. Vì vậy, đến đầu năm 1921, V.I.Lênin đã đề xớng thay thế Chính sách
cộng sản thời chiến bằng Chính sách kinh tế mới, nhằm tiếp tục kế hoạch xây
dựng chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn mới.
2. Nội dung của NEP
2.1. Thay chính sách trng thu lơng thực thừa bằng chính sách thuế lơng
thực
3
Đề tài: Chính sách kinh tế mới của Lênin và sự vận dụng vào Việt Nam .
Chính sách kinh tế mới của Lênin bao gồm bốn nội dung chủ yếu. Một là,
thay thế Chính sách trng thu lơng thực thừa bằng Chính sách thuế lơng thực.
Theo chính sách này, ngời nông dân chỉ nộp thuế lơng thực với một mức cố định
trong nhiều năm. Thuế lơng thực thấp hơn việc trng thu gần hai lần, chẳng hạn
nh lúa mì, ngời nông dân chỉ phải nộp 240 triệu pút chứ không phải 423 triệu.
Mức thuế căn cứ vào điều kiện tự nhiên của đất canh tác. Số lơng thực còn lại sau
khi nộp thuế, ngời nông dân đợc tự do trao đổi, mua bán trên thị trờng. Để có thể
thực hiện tốt chính sách thuế lơng thực này, Ban chấp hành các Xô-viết toàn Nga
đã ban hành một sắc lệnh về vấn đề này. Để thi hành sắc lệnh ấy, Hội đồng bộ
trởng dân uỷ đã công bố đạo luật về thuế lơng thực. Tất cả các cơ quan Xô-viết
có nhiệm vụ phổ biến hết sức rộng rãi cho nông dân biết đạo luật về thuế lơng
thực và giải thích ý nghĩa của đạo luật ấy. Đây là một chuyển biến quan trọng
với mục tiêu chính là hớng vào nông dân, một lực lợng đông đảo nắm giữ vai trò
quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội. Ngời nông
dân nào cũng biết rõ trớc số thuế phải nộp. Do đó, sẽ ít có tình trạng lộng quyền
khi thu thuế, nông dân cũng sẽ càng có lợi trong việc tăng diện tích gieo trồng,
trong việc cải thiện kinh doanh của mình, trong việc chăm lo tăng thu hoạch.
Thuế lơng thực đã góp phần cải thiện đời sống của nông dân, khôi phục phần nào
nền kinh tế, là một bớc quá độ từ chế độ cộng sản thời chiến đến chế độ trao đổi
xã hội chủ nghĩa bình quân.
2.2. Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
Hai là, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Đối với nền kinh tế nớc Nga
bấy giờ, Lênin rút ra có năm thành phần kinh tế là : thành phần kinh tế nông dân
gia trởng, thành phần kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ của nông dân, thợ thủ công,
cá thể và tiểu thơng, thành phần kinh tế t bản t nhân, thành phần kinh tế t bản
nhà nớc và thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa. ở đây, Lênin không đặc biệt chú
trọng thành phần kinh tế nào mà chỉ ra trong đó ba thành phần kinh tế cơ bản là:
kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ, kinh tế t bản t nhân và kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Theo lý luận của Mac-Lênin, để phát triển nền kinh tế theo hớng xã hội chủ
nghĩa, phải bắt đầu từ một chế độ t bản phát triển với thành tựu khoa học, công
4
Đề tài: Chính sách kinh tế mới của Lênin và sự vận dụng vào Việt Nam .
nghệ đã lên tới đỉnh cao. Tuy nhiên, hoàn cảnh lịch sử nớc Nga trớc Cách mạng
thang Mời là một nớc t bản phát triển yếu.Vì vậy, để xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội, việc đầu tiên phải làm là thiết lập một nền kinh tế phát triển mạnh.
Chính vì lẽ đó, chính quyền Xô Viết mà đứng đầu là Lênin đã chủ trơng phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần, kích thích mọi hoạt động của nền kinh tế trở
nên mạnh mẽ với các hình thức nh : khuyến khích phát triển sản xuất hàng hoá
nhỏ của nông dân, thợ thủ công, khuyến khích kinh tế t bản t nhân,sử dụng chủ
nghĩa t bản nhà nớc, củng cố lại các doanh nghiệp nhà nớc chuyển sang chế độ
hạch toán kinh tế, đồng thời, Lênin chủ trơng phát triển mạnh mẽ quan hệ hợp
tác kinh tế với các nớc t bản phơng Tây để tranh thủ kỹ thuật, vốn và khuyến
khích kinh tế phát triển. Điều này đã giúp nớc Nga tận dụng đợc các u điểm của
các thành phần khác nhau trong nền kinh tế, tạo nên đa dạng và phong phú các
nguồn lực để thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
2.3. Mở rộng thị trờng, phát triển thơng nghiệp
Ba là, mở rộng thị trờng, phát triển thơng nghiệp. Nhà nớc Nga đã tăng cờng
và khuyến khích trao đổi hàng hoá giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa thành
thị với nông thôn, giữa các vùng, các miền trong nớc. Sự trao đổi hàng hoá giữa
các thành phần kinh tế diễn ra vô cùng mạnh mẽ. Không chỉ vậy, Nhà nớc Nga
còn cho thành lập lại các ngân hàng Nhà nớc, các quỹ tín dụng, cho phát hành
tiền và củng cố các quan hệ tài chính tiền tệ trong nớc. Nhà nớc vẫn nắm độc
quyền trong thơng nghiệp, tuy nhiên, Nhà nớc cũng thực hiện những chính sách
mới nhằm khuyến khích các hoạt động trao đổi, buôn bán hàng hoá trở nên tự
do, sôi nổi hơn, đặc biệt là cho phép thơng nhân đợc tự do hoạt động, vì vậy th-
ơng nhân đã có thể dễ dàng hoạt động đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu hàng hoá
trong xã hội.
2.4. Sử dụng các hình thức chủ nghĩa t bản nhà nớc
Bốn là, sử dụng các hình thức chủ nghĩa t bản Nhà nớc. Theo Lênin, chủ
nghĩa t bản Nhà nớc là sản phẩm của sự can thiệp của Nhà nớc vào các doanh
nghiệp t bản. Đây là chủ nghĩa t bản đặc biệt, do Nhà nớc vô sản
5
Đề tài: Chính sách kinh tế mới của Lênin và sự vận dụng vào Việt Nam .
sáng tạo ra, đi theo tay lái của Nhà nớc vô sản, Nhà nớc vô sản có thể hạn
chế, có thể quy đinh và giới hạn. Việc sử dụng chủ nghĩa t bản nhà nớc là cần
thiết để phát triển lực lợng sản xuất. Sử dụng chủ nghĩa t bản nhà nớc, Nhà nớc
vô sản huy động đợc vốn, vật t kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của các nhà t
bản, và cuối cùng vẫn thay thế đợc chủ nghĩa t bản bằng chủ nghĩa xã hội. Lênin
đã chỉ ra bốn hình thức cơ bản của chủ nghĩa t bản nhà nớc là: tô nhợng, thuê,
giao và hợp tác xã. ở Liên Xô, Lênin đã áp dụng hai hình thức cơ bản là quốc
hữu hoá và xã hội hoá, chuyển các quá trình sản xuất t nhân thành quá trình sản
xuất xã hội, một mặt quốc hữu hoá các t liệu sản xuất thuộc về chủ nghĩa t bản,
một mặt giao những t liệu sản xuất đó cho các nhà t bản thuê để kinh doanh. Sử
dụng những hình thức này vừa giúp cho chính quyền Xô Viết khai thác nguồn
lực từ các thành phần t bản lại vừa kích thích đợc dân chúng trong nớc phát triển
kinh tế.
Kết quả, chỉ sau một thời gian ngắn thực hiện Chính sách kinh tế mới của
Lênin, nớc Nga đã khắc phục đợc nền kinh tế sau chiến tranh, biến nớc Nga
đói thành một nớc có nguồn lơng thực dồi dào, khắc phục đợc khủng hoảng
chính trị, củng cố lòng tin nhân dân. Không chỉ có ý nghĩa với nớc Nga, Chính
sách kinh tế mới còn đánh dấu một bớc phát triển mới về lý luận kinh tế đối với
chủ nghĩa xã hội, là tấm gơng sáng trong việc xây dựng nền kinh tế định hớng xã
hội chủ nghĩa cho các nớc xã hội chủ nghĩa học tập và rút kinh nghiệm. Đặc biệt,
nó có ảnh hởng rất lớn đối với Việt Nam.
II. Vận dụng NEP ở Việt Nam
1. Đặc điểm nền kinh tế thời kỳ quá độ ở Việt Nam
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Việt Nam phải đối mặt với hàng loạt khó
khăn do đế quốc Pháp và phát xít Đức để lại, đặc biệt là nạn đói. Tuy nạn đói có
phần dịu đi do cách mạng phá kho thóc của Pháp Nhật chia cho dân nhng nạn
đói vẫn rất trầm trọng. Cha hết, khi Đảng ta vừa có những bớc phát triển nhất
định để cứu đói cho dân, khôi phục lại nền kinh tế sau chiến tranh thì Pháp lại
tiếp tục gây chiến, vì vậy, nền kinh tế của ta phải nhanh chóng chuyển dần sang
kinh tế thời chiến. Bớc vào giai đoạn 1946-1954, ở giai đoạn đầu của cuộc kháng
6
Đề tài: Chính sách kinh tế mới của Lênin và sự vận dụng vào Việt Nam .
chiến, do ta thực hiện chính sách bất hợp tác và vuờn không nhà trống nên ở
những vùng có chiến tranh, kinh tế bị ảnh hởng nặng nề. Đến khi cuộc kháng
chiến gần tiến tới thắng lợi thì nhu cầu vật chất cho kháng chiến lại tăng, vì vậy,
Đảng ta phải chủ trơng vừa chấn chỉnh, phát triển kinh tế trong vòng kiểm soát
của địch nhng cũng đồng thời tăng cờng bao vây phá hoại kinh tế địch. Nhờ đó,
nền kinh tế kháng chiến 1946-1954 cũng có những bớc chuyển biến tích cực, đáp
ứng đầy đủ nhu cầu vật chất cho kháng chiến và ổn định đợc đời sống nhân dân
và cũng đồng thời làm suy yếu nền kinh tế địch.
Đến thời kỳ 1955-1964, là lúc nớc ta bị chia cắt làm hai miền, miền Bắc giành
đợc độc lập, còn miền Nam nằm dới sự thống trị của Mĩ. Chính vì vậy, kinh tế
hai miền cũng khác nhau, miền Nam vẫn phải đấu tranh để giành độc lập, còn
miền Bắc bớc vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tiến những bớc dài cha
từng có, miền Bắc trở thành hậu phơng lớn, căn cứ địa vững chắc để nhân dân cả
nớc có thể đánh thắng giặc Mĩ.
Thời kỳ 1965-1974, miền Bắc vẫn chủ trơng xây dựng chủ nghĩa xã hội đồng
thời không ngừng chi viện cho chiến trờng miền Nam. Trong 10 năm chiến tranh
đó, kinh tế miền Bắc ít bị xáo trộn, sản xuất vẫn có nhiều tiến bộ, là hậu phơng
vững chắc cho cả nớc, là động lực không thể thiếu để đi đến thắng lợi ở miền
Nam.
Sau khi chiến tranh kết thúc, đất nớc thống nhất và giành đợc độc lập. Vì vậy,
cả nớc cùng bớc vào một thời kỳ mới, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong
giai đoạn này ( 1975-1986), lẽ ra kinh tế nớc ta phải phát triển nhanh chóng do
đã thoát khỏi chiến tranh, tuy nhiên, đây lại là giai đoạn nền kinh tế nớc ta bị
khủng hoảng trầm trọng: kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế 5 năm (1976-1980)
cha thu hẹp đợc những mặt mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế quốc dân,
sản xuất phát triển chậm trong khi dân số tăng nhanh, thu nhập quốc dân cha bảo
đảm đựoc tiêu dùng xã hội, một phần tiêu dùng xã hội phải dựa vào vay và viện
trợ, nền kinh tế cha tạo đợc tích luỹ, lơng thực, vải mặc và các hàng tiêu dùng
thiết yếu đều thiếu, tình hình cung ứng vật t, tình hình giao thông vận tải rất căng
thẳng, nhiều xí nghiệp sử dụng công suất ở mức thấp, chênh lệch lớn giữa thu và
7
Đề tài: Chính sách kinh tế mới của Lênin và sự vận dụng vào Việt Nam .
chi tài chính, giữa hàng và tiền, giữa xuất khẩu và nhập khẩu, thị trờng vật giá
không ổn định, số ngời lao động cha đợc sử dụng còn đông, đời sống nhân dân
lao động gặp nhiều khó khăn. Có lẽ đó là do nớc ta phải chịu đựng những đảo lộn
kinh tế và xã hội với quy mô lớn sau cuộc chiến tranh ác liệt lâu dài với những
tác động không thuận lợi của tình hình thế giới. Nhng xét về phía chủ quan, đây
là thời kỳ mô hình kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp bộc lộ một cách toàn diện
mặt tiêu cực của nó, nhất là khi mô hình kinh tế đó đã phát triển ở mức cao và đ-
ợc áp dụng trong phạm vi cả nớc nên hậu quả càng nặng nề trên quy mô lớn. Tuy
nhiên, cũng trong thời kỳ này, t duy mới từng bớc hình thành, các quan niệm cốt
lõi của mô hình kinh tế mới về cơ bản đã hình thành. Sự phát triển tiệm tiến này
đã dẫn đến bớc nhảy vọt trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng
12/1986) về mô hình kinh tế mới.
2. Quá trình vận dụng NEP vào Việt Nam
2.1. Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đã quyết định những đổi mới mang
tầm chiến lợc đợc vận dụng từ Chính sách kinh tế mới của Lênin một cách sáng
tạo, linh hoạt cho phù hợp với hoàn cảnh nớc ta bấy giờ. Trong đó, việc làm đầu
tiên và cũng là quan trọng nhất của Đảng ta là xoá bỏ mô hình kinh tế cũ, xây
dựng mô hình kinh tế mới phù hợp với quy luật kinh tế khách quan, với trình độ
phát triển của nền kinh tế. Cụ thể, đó là sự biến đổi từ mô hình nền kinh tế bao
cấp sang mô hình nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Bớc chuyển biến sang
mô hình nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nớc ta là tất yếu khách quan. Ngoài ra, xã hội cũ để lại không ít
các thành phần kinh tế và cha thể cải biến nhanh đợc. Hơn nữa, sau nhiều năm
cải tạo và xây dựng, quan hệ sản xuất mới đã xuất hiện thêm một số thành phần
kinh tế mới nh : thành phần kinh tế nhà nớc, thành phần kinh tế tập thể, thành
phần kinh tế t bản nhà nớc Ngoài ra, theo đúng nh lý luận của Mac-Lênin, để
phát triển nền kinh tế theo hớng xã hội chủ nghĩa, phải bắt đầu từ một chế độ t
bản phát triển với thành tựu khoa học, công nghệ đã lên tới đỉnh cao. Nếu nớc
Nga trớc Cách mạng tháng Mời 1945 là một nớc t bản yếu thì Việt Nam đợc coi
8
Đề tài: Chính sách kinh tế mới của Lênin và sự vận dụng vào Việt Nam .
là một nớc nghèo, lạc hậu, kinh tế kém phát triển. Trong bối cảnh nh vậy, Việt
Nam phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là hoàn toàn đúng đắn.
Năm 1987, quyết định 27 của Hội đồng bộ trởng chính phủ về phát huy vai trò tự
chủ của các doanh nghiệp nhà nớc trong kinh doanh. Nhà nớc không can thiệp
trực tiếp vào mọi hoạt động của nền kinh tế nh trớc. Đồng thời, luật đầu t nớc
ngoài vào Việt Nam đợc ban hành nhằm đảm bảo quyền lợi của thành phần kinh
tế có vốn đầu t nớc ngoài. Ngoài ra, năm 1990, luật doanh nghiệp và công ty t
nhân đợc ban hành, Nhà nớc thừa nhận thành phần kinh tế t bản t nhân. Luật phá
sản, luật khuyến khích đầu t cũng đợc ban hành. Nh vậy, Nhà nớc đã chính thức
cho phép các thành phần nh : kinh tế t bản t nhân, kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài
là các thành phần kinh tế của chủ nghĩa t bản đợc cạnh tranh bình đẳng với các
thành phần kinh tế cơ bản : kinh tế nhà nớc, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế t bản
nhà nớc. Chính sách này sẽ góp phần kích thích mọi thành phần kinh tế tồn tại ở
nớc ta bấy giờ phát triển, cùng vực dậy nền kinh tế vừa trải qua khủng hoảng của
Việt Nam.
2.2. Chính sách thuế nông nghiệp
Chính sách thứ hai đợc Đảng ta đa ra trong công cuộc đổi mới là chính
sách thuế nông nghiệp. Mặc dù hoàn cảnh bây giờ của chúng ta không phải khó
khăn, đói kém nh những năm 1945, nhng đời sống nhân dân vẫn còn nhiều khổ
cực, nhiều nơi vẫn tồn tại nạn đói. Chính vì vậy, cần phải có những biện pháp để
tăng sản lợng lơng thực, thực phẩm, giải quyết nạn đói cho ngời dân. Chính sách
thuế trong nông nghiệp ở nớc ta chủ yếu là chính sách thuế đối với ruộng đất chứ
không phải là thuế lơng thực nh ở Liên Xô. Có sự khác nhau nh vậy là do ở nớc
ta, về nguyên tắc, ngời lao động là chủ của đất đai vì đất đai thuộc sở hữu toàn
dân. Nhng trong các hợp tác xã kiểu cũ, ngời lao động chỉ là ngời chủ trên danh
nghĩa, còn thực tế, ngời lao động thờ ơ, xa lạ với đất đai. Từ khi có khoán hộ,
ngời nông dân đợc giao đất, giao ruộng, vì thế họ gắn bó với đất đai. Điều đó
chứng tỏ chính sách thuế nông nghiệp mà cụ thể là chính sách thuế ruộng đất đã
đáp ứng đợc lợi ích của ngời nông dân, tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp
phát triển và đạt đợc những thành tựu to lớn trong những năm qua.
9
Đề tài: Chính sách kinh tế mới của Lênin và sự vận dụng vào Việt Nam .
2.3. Sử dụng các hình thức t bản nhà nớc
Chính sách thứ ba liên quan đến việc sử dụng các hình thức t bản Nhà nớc.
Khác với Liên Xô trớc đây, ở Việt Nam lại chú trọng đến việc phát triển nền
kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa với sự điều tiết và quản lý của Nhà
nớc. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thời kì lịch sử mới hiện nay
của nớc ta. Nền kinh tế nớc ta khi bớc vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
còn mang nặng tính tự túc tự cấp, vì vậy, sản xuất hàng hoá phát triển sẽ phá vỡ
dần kinh tế tự nhiên và chuyển thành nền kinh tế hàng hoá, thúc đẩy sự xã hội
hoá sản. Nhờ đó, chúng ta đã bớc đầu khai thác đợc tiềm năng trong nớc và thu
hút đợc vốn, kỹ thuật, công nghệ của nớc ngoài, giải phóng đợc năng lực sản
xuất, góp phần quyết định vào việc bảo đảm tăng trởng kinh tế với nhịp độ tơng
đối cao trong thời gian qua. Hiện nay, chúng ta đã cơ bản xoá bỏ đợc chế độ tập
trung quan liêu, bao cấp, thực hiện lu thông hàng hoá theo quan hệ cung cầu,
hình thành giá cả trên cơ sở giá trị, quan hệ hàng tiền và sức mua trên thị tr-
ờng. Từ đó, chúng ta đã khá thành công trong cải cách giá cả, bãi bỏ việc định
giá mang nặng tính bao cấp ở rất nhiều mặt hàng mà không gây rối loạn trong
sản xuất kinh doanh, thực hiện kiềm chế lạm phát ngày càng có hiệu quả cao.
2.4. Chính sách kinh tế đối ngoại
Chính sách cuối cùng đợc Đảng ta đa ra là chính sách kinh tế đối ngoại, đặc
biệt là các hình thức đầu t vốn nớc ngoài, liên doanh, liên kết. Việt Nam thực
hiện chính sách kinh tế đối ngoại mở rộng theo phơng châm: Việt Nam muốn là
bạn với tất cả các nớc, thực hiện đa dạng hoá thị trờng, đa dạng hoá bạn hàng,
khuyến khích và thu hút vốn đầu t nớc ngoài bằng những dự án phù hợp với điều
kiện của Việt Nam. Trên cơ sở phát triển sản xuất trong nớc, chúng ta vừa đáp
ứng nhu cầu trong nớc, vừa mở rộng quan hệ buôn bán với các nớc trong khu vực
và thế giới , từng bớc tham gia tích cực vào các cơ chế hợp tác song phơng, đa
phơng. Số nớc và vùng lãnh thổ có quan hệ buôn bán với Việt Nam năm 1996 lên
đến 105 với 352 văn phòng đại diện.
3. Những giải pháp trong việc vận dụng NEP vào Việt Nam
3.1. Chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
10
Đề tài: Chính sách kinh tế mới của Lênin và sự vận dụng vào Việt Nam .
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các chính sách trên, vẫn còn rất nhiều
hạn chế. Sau đây là một số giải pháp đa ra trong quá trình vận dụng Chính sách
kinh tế mới trong điều kiện lịch sử mới. Thứ nhất, trong việc chuyển sang cơ chế
mới với mô hình nền kinh tế nhiều thành phần, từng thành phần kinh tế tồn tại
với t cách là đơn vị sản xuất hàng hoá đều đóng góp vào sự phát triển chung của
nền kinh tế và cần có sự quản lý củ Nhà nớc, nhằm đảm bảo nền kinh tế phát
triển nhanh, đem lại thắng lợi cho chủ nghĩa xã hội. Các thành phần kinh tế cần
đợc thừa nhận và tạo điều kiện để chúng tồn tại, phát triển. Đồng thời, các thành
phần kinh tế cần đợc bình đẳng trên mọi phơng diện. Ngoài ra, nền kinh tế nhiều
thành phần ở nớc ta là nền kinh tế nhiều thành phần với định hớng xã hội chủ
nghĩa, nếu để tự phát nền kinh tế nhiều thành phần sẽ đi lên chủ nghĩa t bản.
Chính vì vậy, cần phải củng cố hai công cụ quan trọng là kinh tế nhà nớc với vai
trò chủ đạo của nó trong nền kinh tế và chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô của nhà
nớc.
3.2. Chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn
Thứ hai, về chính sách thuế nông nghiệp, cần phải chú ý đến những vấn đề
sau: trình độ phát triển của nông nghiệp kém hơn so với các ngành kinh tế khác,
vì thế nên mức thuế suất, các sắc thuế áp dụng cho nông nghiệp phải khác với
các ngành, các lĩnh vực khác, kinh tế nông nghiệp phụ thuộc nhièu vào điều kiện
tự nhiên, do vậy, khi thời tiết không thuận lợi hoặc thiên tai, cần có sự điều chỉnh
chính sách thuế cho phù hợp, ở nớc ta, nông nghiệp vẫn chiếm một tỉ trọng rất
lớn nên các chính sách thuế phải đặt trong mối quan hệ phù hợp với các chính
sách xã hội.
3.3. Chính sách thu hút vốn đầu t nớc ngoài
Thứ ba, đối với chính sách thu hút vốn đầu t nớc ngoài, để thực hiện ngày
càng có hiệu quả cả về số lợng lẫn chất lợng nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp
phát triển nền kinh tế, đặc biệt là phát triển sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nớc, chúng ta cần phải : hoàn thiện chính sách, luật pháp , cải cách hành
chính để huy động nhiều hơn nữa vốn đầu t nớc ngoài và sử dụng có hiệu quả
kinh tế xã hội nhiều hơn các nguồn vốn ấy, có chiến lợc quan hệ kinh tế đối
11
Đề tài: Chính sách kinh tế mới của Lênin và sự vận dụng vào Việt Nam .
ngoại cùng với quy hoạch và thực hiện nghiêm ngặt quy hoạch gọi vốn đầu t nớc
ngoài, xác định đúng đắn đối tác, khắc phục tình trạng đầu t tràn lan, kiểm soát
vốn đầu t bên ngoài, ngăn chặn sự đối lập giữa đầu t nớc ngoài với lợi ích quốc
phòng an ninh, với việc gìn giữ nền văn hoá dân tộc, ngăn ngừa ý đồ chiếm lĩnh
thị trờng nội địa của t bản nớc ngoài, xác định tốc độ tăng trởng kinh tế hợp lý,
vừa bảo đảm tốc độ phát triển kinh tế tối u, vừa bảo đảm thực hiện công bằng xã
hội, có chính sách huy động nhiều tiềm lực trong nớc để thực hiện chủ trơng
chiến lợc lấy nguồn vốn trong nớc là chính, tạo điều kiện tối đa cho các thành
phần kinh tế trong nớc phát triển, xây dựng các khu vực kinh tế nhà nớc, kinh tế
hợp tác xã hội chủ nghĩa vững mạnh làm điểm tựa cho nền kinh tế quốc dân và
cùng với các khu vực kinh tế t nhân trong nớc với t cách là nội lực làm đối trọng
với khu vực có vốn đầu t nớc ngoài.
3.4. Chính sách kinh tế đối ngoại
Cuối cùng, đối với chính sách kinh tế đối ngoại, Việt Nam vẫn luôn luôn
giữ vững quan niệm Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nớc , tuy nhiên,
hợp tác về kinh tế không có nghĩa là sẽ phụ thuộc về chính trị- xã hội. Vì vậy,
khi kí kết các hợp đồng về kinh tế, mở rộng quan hệ với các nớc cần phải đặc
biệt chú ý, cẩn trọng và đặt lên trên hết là độc lập của dân tộc, chủ quyền của n-
ớc nhà.
Kết luận
Đổi mới là một cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện và triệt để trên mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội. Nhờ có Chính sách kinh tế mới của Lênin mà trong quá
trình tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta đã tránh đợc nhiều sai sót và hạn chế.
Tuy nhiên, cũng phải nói rằng Đảng ta đã biết vận dụng Chính sách kinh tế mới
của Lênin một cách triệt để nhng đầy sáng tạo và linh hoạt. Ngoài ra, ta còn cần
phải chú trọng rằng công cuộc đổi mới ở nớc ta thật sự là một cuộc cách mạng
12
Đề tài: Chính sách kinh tế mới của Lênin và sự vận dụng vào Việt Nam .
không kém phần gay go quyết liệt, đòi hỏi ta không đợc xa rời chủ nghĩa Mác-
Lênin, đặc biệt là Chính sách kinh tế mới của Lênin, t tởng Hồ Chí Minh. Lấy
đổi mới kinh tế làm trọn tâm nhng vẫn phải mang nguyên tắc: Đảng cộng sản
luôn giữ vững vai trò lãnh đạo trong đời sống kinh tế chính trị đất nớc. Khoa
học- kỹ thuật ngày càng phát triển, công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều
sâu, đặt ra cho phát triển kinh tế nớc ta nhiều thời cơ và mang cả những thách
thức, cả thuận lợi và khó khăn. Việt Nam phải kiên trì giữ vững định hớng xã hội
chủ nghĩa, chú trọng xây dựng Nhà nớc vững mạnh, hiện đại và là Nhà nớc của
dân, do dân và vì dân nh lời Chủ tich Hồ Chí Minh đã căn dặn.
13

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét