Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ

CHƯƠNG I
TÍNH TẤT YẾU CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1. Xu thế toàn cầu hoá hiện nay
1.1. Khái niệm chung về toàn cầu hoá.
Ngày nay, cụm từ "toàn cầu hoá" không còn xa lạ đối với chúng ta đặc
biệt là giới tri thức trẻ và những người quan tâm đến các vấn đề của thế giới.
Tuy nhiên có rất nhiều cách nhìn nhận về toàn cầu hoá. Ở nét khái quát nhất, tổ
chức OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) đã coi toàn cầu hoá là quá
trình mở rộng tới "một hoạt vấn đề cũng mang lại sự đổi thay cho nền chính trị
và kinh tế ngày nay trên quy mô toàn cầu". Đó là các vấn đề: Khả năng có thể
tồn tại của hệ thống thương mại thế giới, nhu cầu ngày càng tăng của sự hội
nhập có "chiều sâu" về chính sách quốc tế và sự giám sát rõ ràng tính độc lập tự
chủ trong chính sách kinh tế quốc gia; sự tác động của cuộc cách mạng công
nghệ; tầm quan trọng của sự đổi thay trong các hệ thống quản lý các tập đoàn
Công ty lớn, hay trong hệ thống tổ chức công nghệ hoá là cơ sở cho sức cạnh
tranh của các nước, các Công ty; sự đa dạng hoá ngày càng tăng giữa các nước
phát triển, nạn đói nghèo và nguy cơ một tỷ lệ lớn dân số trên trái đất bị loại trừ;
những vấn đề nghiêm trọng về nạn thất nghiệp và những khác biệt về tiền lương
về mức thu nhập đang ngày càng tăng lên ở những nước phát triển nhất, sự thay
đổi của vai trò Chính phủ
Để có cái nhìn rõ ràng hơn ta có thể hiểu quá trình toàn cầu hoá bao gồm:
Thứ nhất: là sự gia tăng mạnh mẽ, vượt khỏi các đường biên giới quốc gia
tới quy mô quốc tế, của các luồng giao lưu hàng hoá, dịch vụ thương mại, đầu
tư, tài chính, công nghệ, công nghệ nhân lực.
Thứ hai là: sự hình thành và phát triển các thị trường thống nhất trên
phạm vi toàn cầu và khu vực, cũng như sự hình thành và phát triển các định chế
và các cơ chế điều tiết quốc tế để quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế
quốc tế.
5
Thực tế không phải bây giớ toàn cầu hoá mới bắt đầu hình thành và phát
triển, mà nó đã có tiền đề từ rất lâu trong lịch sử. Có người cho rằng những tiền
đề này đã có từ thời kỳ mở đầu của chủ nghĩa tư bản, trên cơ sở quá trình xã hội
hoá của lực lượng sản xuất trên qui mô thế giới. Chính vì thế phải khẳng định lại
rằng toàn cầu hoá là một quá trình. Hơn nữa, đây là một xu thế khách quan là
quy luật tất yếu trong sự phát triển của xã hội loài người. Khẳng định trên dựa
vào những căn cứ, cơ sở thực tế sau:
1.2. Tất yếu của toàn cầu hoá:
Một là, một nền chủ nghĩa toàn cầu đang xuất hiện.
Thế giới đã trải qua 3 cuộc cách mạng công nghiệp : lần thứ I: từ thế kỷ
XVIII, lần thứ II từ cuối thế kỷ XIX và lần thứ III từ nửa cuối thế kỷ XX trở lại
đây. Những tiến bộ về khoa học - kỹ thuật và công nghệ của ba cuộc cách mạng
này đã làm giảm chi phí vận tải quốc tế xuống cả chục lần và giảm chi phí liên
lạc viễn thông xuống vài trăm lần; đã có tác động cực kỳ quá trình đến toàn bộ
quan hệ kinh tế quốc tế, đã biến các công nghiệp mang tính quốc gia thành
công nghiệp toàn cầu. Lấy công nghiệp may mặc làm ví dụ. Trước đây với một
máy may dù có hiện đại đến đâu thì sản phẩm cũng chỉ bán trong một địa
phương, một quốc gia hay một khu vực chi phí vận chuyển liên lạc quá cao đã
làm mất hết lợi thế so sánh nếu đưa sản phẩm này đến thị trường xa xôi. Nhưng
ngày nay, Công ty NIKE chỉ nắm hai khâu: sáng tạo, thiết kế và phân phối toàn
cầu, còn sản xuất do Công ty các nước thực hiện cũng đã làm cho công nghiệp
may mặc có tính toàn cầu. Hàng loạt công nghệ sản xuất xe máy, ô tô, máy tính
điện tử máy bay ngày càng toàn cấu hoá sâu rộng. Tính toàn cầu ở đây thể
hiện ngay từ khâu sản xuất, đó là phân công chuyên môn hoá cho nhiều nước,
đến khâu phân phối; tiêu thụ trên toàn cầu. Từ việc giảm chi phí và cước phí
giao thông liên lạc, vận chuyển nhờ vào việc tạo ra đường sắt, tàu hoả, và tàu
biển chạy bằng hơi nước, ô tô, máy bay cho đến những thập niên gần đây một
cuộc giảm cước phí giao thông liên lạc và viễn thông mới lại diễn ra dựa trên cơ
sở điện toán, số hoá, truyền thông vệ tinh, soi quang học mạng Internet đã
6
khuếch đại mạnh mẽ lân sóng toàn cầu hoá đang diễn ra trong mọi lĩnh vực đời
sống xã hội, đặc biệt là kinh tế.
Như vậy, nhờ có công nghệ toàn cầu phát triển, sự hợp tác giữa các tập
đoàn kinh doanh, các quốc gia có thể mở rộng từ sản xuất đến phân phối trên
phạm vi toàn cầu, những quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau cùng có lợi phát triển. Đây
là cơ sở đầu tiên của nền kinh tế toàn cầy thống nhất.
Hai là: các quan hệ kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển:
Chính nền công nghệ toàn cầu phát triển mạnh mẽ đã trở thành cơ sở cho
các quan hệ kinh tế toàn cầu. Trước hết là quan hệ thương mại, chi phí vận tải
liên lạc giảm đi thì khả năng buôn bán trao đổi giữa địa phương quốc gia, khu
vực tăng lên. Cùng với nó quá trình phân công chuyên môn hoá sản xuất diễn ra
giữa các quốc gia, liên tục càng dễ dàng. Các linh kiện của máy bay Boing, ô tô,
máy tính đã không phải là sản phẩm của một bước mà của rất nhiều nơi trên
thế giới.
Thương mại toàn cầu, sản xuất chuyên môn hoá toàn cầu đã kéo theo
đồng vốn, tiền tệ, dịch vụ vận động trên phạm vi toàn cầu. Ngày nay, lượng
buôn bán tiền tệ toàn cầu đã vượt xa con số 1500 tỷ USD. Trong đó, ta thấy
rằng, thương mại điện tử xuất hiện và phát triển với tốc độ chóng mặt.
Sự phát triển của công nghệ toàn cầu và các quan hệ kinh tế toàn cầy đã
ngày càng xung đột với các thể chế quốc gia, rào cản quốc gia. Các quốc gia các
khu vực, xích lại gần nhau hơn qua các tổ chức liên kết kinh tế. mang bản chất
chính trị nhiều hơn, những thập niên 40, xuất hiện khối liên kết kinh tế giữa Mỹ
- Tây Âu - Nhật và Hội đồng tương trợ kinh tế SEV giữa các quốc gia xã hội chủ
nghĩa. Cho đến nay lại hình thành nên các tổ chức như APEC, AFTA,
NAFTA, Đặc biệt quá trình quốc tế hoá về tài chính đẩy mạnh nhanh chóng:
hình thành nên Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Liên nước
kinh tế và tiền tệ Châu Âu gần 11 nước thành viên với đồng tiền chung là đồng
EURO. Cùng với các tổ chức liên kết kinh tế là sự ra đời các cam kết này đã,
đang và sẽ công kích mạnh mẽ vào các bức tường thành quốc gia, rào cản quốc
gia. Các nước thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng đã cam
7
kết một lộ trịnh giảm bỏ hàng rào. Ngay cả đối với Mỹ, trong xu thế toàn cầu
hoá hiện nay gây sức ép thương mại đối với các nước có vẻ như đã mất hiệu lực,
với dấu hiệu là Mỹ đã ký tối huệ quốc (MFN) đối với Trung Quốc.
Ba là: những vấn đề kinh tế toàn cầu ngày càng xuất hiện nhiều trở nên
bức xúc và ngày càng đòi hỏi phải có sự phối hợp toàn cầu. Không có khó khăn
gì để có thể nhận ra các vấn đề nổi cộm hiện nay của kinh tế toàn cầu. Môi
trường ngày càng bị phá hoại, tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt; dân số
thế giới tăng nhanh đến mức nảy sinh nguy cơ bùng nổ dân số; đồng vốn toàn
cầu vận động tự do không có sự điều tiết là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các
cuộc khủng hoàng liên tiếp Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á trong thời gian vừa qua;
chiến tranh lạnh chấm dứt, đồng nghĩa với nó là kết thúc sự đối đầu giữa các
siêu cường, mở ra thời kỳ hợp tác, hoà bình, phát triển mới
Những vấn đề này đã trở thành tất yếu khách quan đẩy đến toàn cầu hoá
kinh tế với những đặc trưng chủ yếu: Thứ nhất là, các hàng rào quan thuế và phi
thuế quan đang giảm dần và sẽ bị xoá bỏ theo các cam kết quốc tế đa phương và
toàn cầu, tức là các biên giới quốc gia về thương mại đầu tư đang tiên vong. Thứ
hai là, các Công ty của các quốc gia có quyền kinh doanh tự do ở mọi quốc gia,
trên các lĩnh vực cam kết, không phân biệt đối xử; thực chất là sự xoá bỏ các
biên giới về đầu tư, dịch vụ và các lĩnh vực kinh tế khác.
Tuy nhiên, đến đây chúng ta lại phải đối mặt với hàng loạt câu hỏi: làm
thế nào để giải quyết sự trói buộc của hệ thống tiền tệ quốc gia với hàng trăng
đồng tiền khác nhau, trao đổi theo các tỷ giá thả nổi bấp bênh? Làm thế nào để
dung hợp được với hệ thống luật pháp các quốc gia thủ cựu? Có cấn đến "một
bàn tay hữu hình toàn cầu" không? Và như vậy toàn cầu hoá kinh tế không thể
tránh khỏi toàn cầu hoá về chính trị, an ninh, văn hoá, xã hội ?
1.3. Hai mặt của toàn cầu hoá.
Có người đã cho rằng: toàn cầu hoá là con dao hai lưỡi. Thực tế cũng đã
cho thấy khi diễn ra hội nghị, diễn đàn bàn về vấn đề đẩy mạnh toàn cầu hoá thì
bên cạnh sự ủng hộ của một bộ phận quần chung là thái độ kịch liệt phản đối,
biểu tình gay gắt của không ít người lao động khác. Tại sao vậy? Quả thực, toàn
8
cầu hoá không mang lại cơ hội phát triển cho tất cả quốc gia, tất cả người lao
động trên thế giới. Toàn cầu hoá không hẳn là một tương lai rực sáng không
phải là một thiên đường cho các nền kinh tế mà toàn cầu hoá là lò lửa, là một
quá trình thử thách, đấu tranh sinh tồn. Mỗi mặt tích cực mà nó mang lại luôn đi
với mặt hạn chế nảy sinh từ đó.
Toàn cầu hoá đưa ra một thị trường tiêu thụ mở rộng cho hàng hoá dịch
vụ. Thị trường không hạn chế một nước, một khu vực, hay một châu lục nữa mà
đã là thị trường toàn cầu. Lúc này không ai khác chính bản thân sản phẩm quyết
định sự tồn tại của nó. Mỗi hàng hoá và dịch vụ phải đứng trước một môi trường
cạnh tranh gay gắt. Nền kinh tế của các quốc gia riêng lẻ chịu sức ép vô cùng
lớn từ bên ngoài. Không nhìn đâu xa, Việt Nam là một ví dụ phù hợp cho vấn đề
này. Quả thực, hàng hoá Việt Nam ngày nay đã có mặt nhiều nơi trên thế giới và
ban đầu đã gây uy tín không nhỏ thị trường nước ngoài ở Việt Nam không chỉ
là gạo, cà phê, thuỷ hải sản mà còn là sản phẩm may mặc, hàng thủ công mỹ
nghệ không ít các Công ty TNHH tư nhân Việt Nam có nhiều chi nhánh ở
nước ngoài. Đây là dấu hiệu của khả năng cạnh tranh lành mạnh của hàng hoá,
dịch vụ nước ta. Bên cạnh đó, thị trường Việt Nam đã đang và sẽ xuất hiện
ngày càng nhiều hàng hoá mang nhãn hiệu của các nước khu vực và thế giới,
đặc biệt là Trung Quốc. Việt Nam đang phải cạnh tranh với những ưu thế của
người bạn láng giềng "khổng lồ", đó là: giá rẻ, mẫu mã đẹp, phong phú đa dạng
và với cả tâm lý "thích dùng đồ ngoại" của người dân nước ta. Với những khó
khăn đang phải đối mặt liệu các doanh nghiệp Việt Nam có đứng bên bờ "phá
sản" hay không?
Một tác động tích cực của toàn cầu hoá mà không thể không nhắc đến. Có
thể nói đây là lợi ích hiện diện rõ ràng nhất đối với các nước đang phát triển và
chậm phát triển. Đó là dòng chuyển vốn, công nghệ, kỹ thuật, phương pháp quản
lý tiên tiến từ các nước phát triển. Cơ hội này mở ra khả năng cho các nước nhận
rút ngắn khoảng cách về thời gian và tiết kiệm tiền bạc cho giai đoạn từ nghiên
cứu cho đến khi triển khai, ứng dụng. Đây cũng là lợi thế cho các nước đang
phát triển có điều kiện đi tắt, đơn đầu mọi phương tiện. Nhưng cũng chính dòng
9
chảy vốn, công nghệ, kinh tế, phương pháp quản lý tiên tiến này tạo ra một thế
lực cạnh tranh đối với các nền kinh tế quốc gia trì trệ, kém hiệu quả. Trong một
giới hạn nào đó, dòng di chuyển này là nguyên nhân đẩy các doanh nghiệp Nhà
nước vào tình trạng phá sản, đi kèm là tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, nảy sinh hàng
loạt vấn đề cho xã hội Chính phủ cần giải quyết.
Một biểu hiện của toàn cầu hoá hiện nay là hình thành các khối liên kết
kinh tế cùng với cam kết, thoả thuận nhằm dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan. Đây là
điều kiện quá trình thực hiện nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử
trong kinh tế trong các quan hệ mua bán và giao lưu quốc tế. Không những thế
các nước chậm phát triển được hưởng ưu đãi đặc biệt, chế độ tối huệ quốc, được
cung cấp thông tin tự do mậu dịch, liên minh thuế quan, được bảo đảm các
quyền thông qua các tổ chức quám sát, giám định quốc tế. Chính vì vậy, các
nước chậm phát triển có điều kiện cải thiện quốc tế hoá không, liệu các chính
sách tài chính có bắt kịp yêu cầu của xu thế thời đại? Các cuộc khủng hoảng
Đông Nam Á, Brazin, Nga, trong những năm 1997 - 1998 vẫn còn là những bài
học sâu sắc cảnh báo cho các nước có tình hình tương tự.
Điểm cuối cùng như phần tất yếu của xu thế toàn cầu hoá đã trình bày, đó
là các vấn đề mang tính toàn cầu mà không một quốc gia nào có thể tự mình giải
quyết đơn lẻ. Xu thế toàn cầu hoá tạo nền sự liên kết, hợp tác giữa các quốc gia
để cùng có lợi, tạo ra sức mạnh tổng hợp chống lại sự phân biệt đối xử sự đan
xen phụ thộc lẫn nhau có còn có tác động hai mặt, các nền kinh tế sẽ nhạy cảm
hơn với các biến động quốc tế, nhưng đồng thời những rủi ro có tính chất cá biệt
cũng được phân tán. Do đó các nước đang phát triển có thể đạt được sự ổn định
tương đối vốn hết sức cần thiết.
Trong thương mại và giải quyết tranh chấp dựa trên những định chế kinh
tế tài chính bình đẳng. Đây là điều kiện để các nước chậm phát triển phát huy tối
đa lợi thế của mình. Tuy nhiên nền kinh tế toàn cầu hoá sẽ phụ thuộc ngày càng
nhiều vào các tổ chức quốc tế và khu vực: các hiệp định đa phương, Công ty
xuyên quốc gia, liên minh kinh tế, tài chính mà trong một chừng mực nhất
định nằm ngoài tầm kiểm soát của các Chính phủ. Như vậy, mặt khác, một mặt
10
trái của nền kinh tế tài chính là sự suy giảm bản sắc dân tộc, chủ quyền kinh tế
song lại gia tăng sức ép kinh tế, chính trị. Sự hạn chế về khả năng kiểm soát của
các cổ phần còn biểu hiện ở tình trạng tội phạm xuyên quốc gia, việc truyền bá
nền văn hoá phi nhân bản
Toàn cầu hoá là con dao hai lưỡi, nhưng là xu thế tất yếu khách quan mà
bất kỳ nền kinh tế nào cũng không thể đứng ngoài cuộc. Vì vậy việc sử dụng nó
như thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất là cả một nghệ thuật tinh xảo.
2. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam.
2.1. Việt Nam tất yếu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong xu thế toàn cầu hoá ngày một phát triển mạnh mẽ, các quốc gia
nhập kinh tế quốc tế ngày càng phụ thuộc lẫn nhau ở mức độ này hay mức độ
khác, thì việc đóng cửa với thế giới là đi ngược xu thế thời đại và khó tránh
khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển. Trái lại, mở cửa và hội nhập kinh tế
quốc tế, tuy có thể phải trả giá nhất định (như chúng ta đã xem xét mặt trái của
toàn cầu hoá) song đó là yêu cầu tất yếu hướng tới sự phát triển của mỗi nước.
Việt Nam cũng không nằm ngoài quy hoạch chung này.
Hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung căn bản của toàn cầu hoá, nội
dung thứ hai là tự do hoá kinh tế. Như vậy, nên hiểu toàn cầu hoá là một quá
trình quốc tế kinh tế bao gồm hai quá trình phát triển song song (đã nêu trên tự
do hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế) thì toàn cầu hoá có nghĩa là các quan
hệ kinh tế không những được tự do phát triển trên phạm vi toàn cầu mà còn phải
tuân theo những cam kết toàn cầu đa dạng. Do đó Đảng và Nhà nước ta đã xác
định tư tưởng đúng đắn cho nền kinh tế nước ta. Chủ động hội nhập, chỉ có chủ
động hội nhập thì nước ta mới giữ gìn được bản sắc dân tộc trong tốc độ toàn
cầu hoá hiện nay. Chỉ có chủ động hội nhập mới đón bắt được những nguy cơ
tiềm ẩn và giành lấy những cơ hội quý báo để phát triển kinh tế trong nền kinh
tế toàn cầu đa dạng, phong phú. Chỉ có chủ động hội nhập, Đảng và Nhà nước
mới có được những quyết định sáng suốt trong quá trình toàn cầu hoá kinh tế
gắn liền với toàn cầu hoá về chính trị, văn hoá, xã hội.
11
Khi nghiên cứu cuộc khủng hoàn kinh tế Thái Lan năm 1997, các nhà
kinh tế học cho rằng: toàn cầu hoá tự bản thân nó không là nguyên nhân của
cuộc khủng hoảng mà chính là cái cách thức người ta điều hành quá trình của
cuộc khủng hoảng toàn cầu hoá. Tham gia vào một nền kinh tế thế giới rộng lớn
hơn có thể là một sự trợ giúp cho nền kinh tế trong nước phát triển song chắc
chắn rằng: thành công hay thất bại của các nước chủ yếu dựa vào công nhân của
nước đó dựa bào các chính sách và đầu tư của Chính phủ. Các nhà kinh tế học
cũng đã khẳng định: các nước mà hiện nay đang vấp phải vô vàn khó khăn trong
quá trình hội nhập thì không phải là họ không biết lợi dụng hiện tượng toàn cầu
hoá mà bởi vì họ đã không thể trang bị cho mình một cách kịp thời những thể
chế và những cán bộ điều hành cần thiết để làm chủ quá trình hội nhập toàn cầu.
Lấy Thái Lan làm ví dụ. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ nền
kinh tế năm 1997 là do Thái Lan đã không làm chủ được dòng vốn từ nước
ngoài. Từ những năm 1990 Thái Lan đã dỡ bỏ hết mọi hàng rào kiểm soát ngặt
nghèo sự dịch chuyển tư bản qua biên giới, do đó dòng chảy tư bản đã ào ạt vào
Thái Lan dưới hình thức đầu tư ngắn hạn, và sau đó lại rút ra hết sức nhanh
chóng gây nên sự rối loạn thị trường tài chính. Do đó các nhà kinh tế đã đưa ra
các biện pháp chủ yếu để cần thiết, tiếp tục một chính sách kinh tế vĩ mô lành
mạnh, cải cách thể chế và làm chủ dòng chảy tư bản quốc tế. Như vậy có nghĩa
là Thái Lan phải tham giatt quốc tế một cách ổn định tốc độ vừa phải và thực sự
chủ động trong quá trình hội nhập đó bằng những hành lang thể chế. Bởi vì nếu
không chủ động thì sự tự do hoá sẽ dẫn đến tình trạng vô Chính phủ, nền kinh tế
không tồn tại và phát triển lâu dài được.
Bởi vì Thái Lan cũng là một quốc gia thuộc Châu á, cùng chung những
điều kiện tự nhiên và xã hội với Việt Nam, cũng vấp phải những khó khăn mà
nước ta đang trải qua. Cho nên nền kinh tế Thái Lan là một bài học đắt giá đối
với nước ta về vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế. Và cũng từ đó để thấy rằng chủ
động hội nhập kinh tế toàn cầy là con đường đúng đắn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt
quá trình phát triển của nước ta.
2.2. Nội dung và hình thức hội nhập kinh tế quốc tế.
12
Với kim chỉ nam như trên, việc nghiên cứu nội dung và hình thức hội
nhập kinh tế quốc tế không chỉ là nhu cầu cấp bách mà còn là nhiệm vụ quan
trọng sự phát triển kinh tế đất nước.
2.2.1. Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) hiện nay có thể là một tổ chức kinh
tế toàn cầu có sức mạnh nhất với các Hiệp nghị có nội dung có tính chất chi
phối các kinh tế quốc tế thể hiện rõ nhất nội dung hội nhập kinh tế quốc tế hiện
nay. Các vấn đề mang tính nguyên tắc được rút từ được cam kết ông đàm phán
(diễn ra từ khi hiệp định chung về thương mại và thiếc quan GATT năm 1947 tại
Genevơi cho đến nay). Đó là:
Về thương mại hàng hoá.
Thứ nhất là, giảm thuế nhập khẩu và bỏ hàng rào phi quan thuế. Thuế
nhập khẩu cao và các biện pháp phi quan thuế thực tế là hàng rào ngăn cản quá
trình hội nhập quốc tế của các quốc gia. Các biện pháp phi quan thuế đã phát
triển hết sức tinh vi và đa dạng và không có cách nào định lượng được các hàng
rào đa dạng này. Ở không ít các nước, mức thuế nhập khẩu thấp nhưng hàng rào
phi quan thuế tinh vi đã không cho hàng hoá nhập vào. Chính vì vậy, người ta
đã kết luận là phải sớm xoá bỏ hàng rào này và quy về biện pháp bảo hộ duy
nhất là thuế nhập khẩu. Với hàng rào này, người ta có thể định lượng cao thấp,
cam kết hạ dần hàng rào và quan trọng là có thể kiểm soát việc thực hiện cam
kết. Mức thuế suất đối với hàng nhập khẩu từ các nước công nghiệp sẽ giảm từ
6,3% xuống 3,9%. Đối với mức giảm thuế quan các thành viên WTO (tức là
GATT) cam kết thực hiện tự do hoá thương mại và dịch vụ, chống bán phá giá,
đảm bảo quyền sở hữu trí tựu
Thứ hai là công nhận quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của các chủ thể
và cá nhân trong và ngoài nước trên lãnh thổ của mình.
Lấy Mỹ và Việt Nam làm ví dụ. Nguyên tắc này cho phép các Công ty
Việt Nam sang Mỹ kinh doanh xuất nhập khẩu và ngược lại với tất cả mọi quyền
như Công ty của nước sở tại, có nghĩa là sẽ thiết lập một môi trường kinh doanh
bình đẳng ở mọi quốc gia, tạo ra một thế giới tương đối thống nhất với các chsủ
13
thể kinh doanh và quyền hoạt động toàn cầu. Đây là con đường phát triển bởi áp
lực cạnh tranh sẽ tăng lên, động lực phát triển sẽ tăng cường. Bởi vì sự xuất
hiện của các Công ty nước ngoài hùng mạnh vào hoạt động thì buộc các Công
ty trong nước phải vươn mình để tồn taị và phát triển.
Về thương mại dịch vụ:
Hiệp định dịch vụ của WTO quy định các nước mở cửa thị trường dịch vụ
cho nhau theo 4 phương thức: (1) cung cấp dịch vụ qua biên giới từ lãnh thổ của
nước thành viên này sang lãnh thổ thành viên khác. (2) tiêu dùng ngoài lãnh thổ.
(3) hiện diện thương mại của Công ty một nước thành viên lãnh thổ một thành
viên khác với các hình thức lập liên doanh, chi nhánh, Công ty 100% vốn đầu tư
nước ngoài. (4) hiện diện chủ nhân, di chuyển tư nhân. WTO cũng đã quy định:
khi đàm phán mở cửa thị trường dịch vụ, các nước phát triển theo phương pháp
loại trừ tức là không chấp nhận dịch vụ nào thì đưa ra đàm phán, còn các nước
đang phát triển được quyền chỉ đưa ra đàm phán lĩnh vực nào được chọn mở
cửa.
Về đầu tư, WTO chưa có được một hiệp định chung mà mới chỉ có một
số quy đọnh về đầu tư có liên quan đến thương mại.
WTO cũng đã có những quy định trong các lĩnh vực khác.
Hiệp định về bảo vệ quyền sở hữu trì trệ.
Quy định không phân biệt đối xử, nguyên tắc đối xử quốc gia áp dụng cho
các đầu tư và dịch vụ tức là không phân biệt đối xử hàng nhập khẩu hàng sản
xuất trong nước.
Quy định về việc công bố công khai và minh hạch tất cả các chính sách
kinh tế, thương mại của các nước thành viên.
Cho phép các nước có hành động tự vệ trong trường hợp cần thiết để bảo
vệ cán cân thanh toán, ngành công nghiệp non trẻ bị bên ngoài tấn công.
Quy định về chế độ ưu đãi cho các nước đang phát triển, những nước có
nền kinh tế chuyển đổi về lộ trình thực hiện cam kết, có thể kéo dài 5 năm.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét