Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

Du lịch sinh thái ở Tỉnh Kiên Giang



- “Phát triển du lịch ở An Giang”, Luận văn thạc sĩ kinh tế của Bùi Thị Hằng
(1999)
- “Phát triển du lịch Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế”, luận văn tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị của Lê
Mai Khanh (2005).
Tỉnh Kiên Giang có một số đề tài nghiên cứu du lịch:
“Khai thác tiềm năng du lịch đảo Phú Quốc Tỉnh Kiên Giang”, Luận văn thạc sĩ
kinh tế của Huỳnh Vĩnh Lạc (2005).
Ngoài ra, còn có quy hoạch tổng thể phát triển ngành thương mại – du lịch của Tỉnh
đến năm 2010, Quy hoạch phát triển du lịch ở đảo Phú Quốc, Hà Tiên, Hòn Đất, Kiên
Lương, định hướng phát triển du lịch ở U Minh Thượng…
Tuy nhiên, đó là định hướng phát triển du lịch ở từng vùng, ngành khác nhau, việc đi
sâu nghiên cứu vai trò, đánh giá thực trạng DLST ở Tỉnh Kiên Giang thì vẩn còn mới mẽ, ít
người nghiên cứu. Là một công trình khoa học được nghiên cứu trên cơ sở kế thừa nhiều
công trình nghiên cứu trước đó, nhưng được vận dụng vào địa bàn mới. Đây là một vấn đề
có ý nghĩa thực tiễn rất cao.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích
Trên cơ sở làm rõ đặc điểm, vai trò của DLST với vấn đề phát triển kinh tế - xã
hội, phân tích đánh giá thực trạng DLST ở tỉnh Kiên Giang thời gian qua, từ đó đề xuất
những giải pháp chủ yếu để phát triển DLST trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ
- Làm rõ đặc điểm vai trò, nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của DLST.
- Phân tích thực trạng của DLST ở tỉnh Kiên Giang thời gian qua, rút ra những
vấn đề cần giải quyết trong thời gian tới.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu để tiếp tục phát triển DLST ở tỉnh Kiên Giang
trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu


Đối tượng nghiên cứu của luận văn là làm rõ vai trò, đánh giá đúng thực trạng của
DLST ở tỉnh Kiên Giang và đề xuất các giải pháp để tiếp tục phát huy vai trò của kinh tế
DLST đối với phát triển kinh tế-xã hội.
* Phạm vi nghiên cứu
DLST trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội ở tỉnh Kiên Giang từ năm 2001
đến năm 2007.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác – lênin, các quan điểm
chủ trương, đường lối của Đảng, Chính sách pháp luật của nhà nước về phát triển du
lịch, đồng thời kế thừa những vấn đề lý luận về du lịch và DLST của các học giả
kinh tế trước đó để áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể ở tỉnh Kiên Giang.
Luận văn còn sử dụng phương pháp trong nghiên cứu kết hợp lý luận với thực
tiễn, phân tích, thống kê, tổng hợp, lôgic-lịch.
6. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích rõ vai trò, đánh gia đúng tiềm năng DLST đề ra các giải pháp để
tiếp tục phát triển DLST ở tỉnh Kiên Giang.
Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo trong việc xây dựng các kế
hoạch phát triển DLST ở tỉnh Kiên Giang.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn có phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn kết cấu thành 3 chương, 7 tiết.









Chương 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH SINH THÁI

1.1. DU LỊCH SINH THÁI VÀ CÁC HÌNH THỨC TỒN TẠI
1.1.1. Du lịch sinh thái và những đặc điểm cơ bản
1.1.1.1. Những quan niệm về du lịch sinh thái
Trong những năm qua, DLST như một hiện tượng và xu thế phát triển ngày càng
chiếm được sự quan tâm của các nước trên thế giới. Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn tự
nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và văn hóa cộng đồng; phát triển DLST đã mang lại
những nguồn lợi kinh tế to lớn, tạo cơ hội giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập quốc
gia và thu nhập cho cộng đồng dân cư địa phương, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, nơi có
cảnh quan thiên nhiên, văn hóa hấp dẫn. Mặt khác, DLST còn góp phần vào việc nâng cao
dân trí và sức khoẻ cộng đồng thông qua giáo dục môi trường, văn hóa, lịch sử và nghỉ ngơi
giải trí. DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm, thông qua các hoạt động nâng cao nhận
thức về bảo vệ môi trường, phát triển phúc lợi cộng đồng và đảm bảo cho sự phát triển bền
vững.
Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và nhanh chống
thu hút được sự quan tâm của nhiều người thuộc các lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên,
đến nay chưa có nhận thức thống nhất, còn nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm
DLST. Các tổ chức và cá nhân tham gia nghiên cứu về loại hình du lịch này đều đưa ra
những định nghĩa của riêng mình:
Một trong những định nghĩa được coi là sớm về DLST mà đến nay vẫn được
nhiều người quan tâm là định nghĩa của Hội DLST Quốc tế đưa ra năm 1991: “Du lịch
sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm đối với các vùng tự nhiên, bảo vệ môi
trường và duy trì cuộc sống yên bình của người dân địa phương” [16, tr.11].
Định nghĩa này đề cao trách nhiệm bảo vệ môi trường, giữ gìn, tôn tạo, tránh sự
ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên, hệ sinh thái, và cả cuộc sống của cư dân địa
phương.


Theo quỹ bảo tồn động vật hoang dã (WWF - World Wild Fund): "Du lịch sinh
thái đề cập tới các hoạt động du lịch đi tới các khu vực thiên nhiên hoang dã, gây tác
động tối thiểu tới môi trường tự nhiên và cuộc sống của các loài động thực vật hoang dã
trong khi mang lại một số lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương và những người bản
địa phục vụ tại đó" [16, tr.11].
Ở định nghĩa này, cũng đề cập đến hoạt động của DLST, đó là các khu vực tự
nhiên hoang dã và điều quan trọng là giảm thiểu những tác động tiêu cực đối môi trường
tự nhiên, mang lại những lợi ích kinh tế cho cộng cư dân địa phương, những người bản
địa làm việc trực tiếp trong ngành du lịch.
Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO - World Tourism Organisation):
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch được thực hiện tại những khu vực tự
nhiên còn ít bị can thiệp bởi con người, với mục đích để chiêm ngưỡng, học
hỏi về các loài động thực vật cư ngụ trong khu vực đó, giúp giảm thiểu và
tránh được các tác động tiêu cực tới khu vực mà du khách đến thăm. Ngoài ra,
du lịch sinh thái phải đóng góp vào công tác bảo tồn những khu vực tự nhiên
và phát triển những khu vực cộng đồng lân cận một cách bền vững đồng thời
phải nâng cao được khả năng nhận thức về môi trường và công tác bảo tồn đối
với người dân bản địa và du khách đến thăm [16, tr.11].
Đây là một định nghĩa tương đối đầy đủ nó phản nội dung hoạt động cũng như
những đặc điểm, mục đích của DLST. Đó là loại hình du lịch mang tính giáo dục, nâng
cao nhận thức và trách nhiệm cho các tổ chức, cá nhân trong việc bảo tồn giữ gìn môi
trường tự nhiên và môi trường văn hoá để đảm bảo cho sự phát triển bền vững ở những
nơi mà du khách tới thăm quan.
Tại hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST tháng 9-1999 tại Hà
Nội: "Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa,
gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với
sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương" [29].


Có thể nói đây là một định nghĩa đầu tiên của Việt Nam về DLST mang đầy đủ những ý
nghĩa và nội dung của loại hình du lịch này. Nó được coi là cơ sở lý luận cho các nghiên cứu và
ứng dụng thực tế việc phát triển DLST ở Việt Nam.
Luật du lịch Việt nam (2005) đưa ra khái niệm DLST như sau: “Du lịch sinh thái
là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương, với sự tham
gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” [26, tr.11].
Mặc dù có thể khác nhau về diễn đạt và cách thể hiện nhưng trong các định nghĩa
về DLST đều có sự thống nhất cao về nội dung ở bốn điểm: Thứ nhất, được thực hiện
trong môi trường tự nhiên còn hoang sơ hoặc tương đối hoang sơ gắn với văn hoá bản địa.
Thứ hai, hỗ trợ tích cực cho công tác bảo tồn các đặc tính tự nhiên, văn hoá và xã hội. Thứ
ba, có tính giáo dục môi trường cao và có trách nhiệm với môi trường. Thứ tư, phải mang lại
lợi ích cho cư dân địa phương và có sự tham gia của cộng đồng cư dân địa phương.
Các quan niệm trên về DLST đã tiếp cận theo nghĩa rộng bao quát được nội dung,
tính chất, mục đích của DLST.
Xét trên phạm vi nghiên cứu có thể cho rằng: Du lịch sinh thái phản ánh mối quan
hệ tích cực của con người với tự nhiên. Trong đó con người hòa nhập vào tự nhiên, biến
mình thành một bộ phận của tự nhiên, vừa khai thác tự nhiên, hưởng dụng vẽ đẹp, lợi ích
của tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu thưởng ngoạn của mình, đồng thời nuôi dưỡng và
phát triển tự nhiên, bảo đảm cho con người và tự nhiên một cuộc sống trường tồn.
Theo đó, du dịch sinh thái là hình thức phát triển du lịch bền vững. Nội dung hoạt
động diễn ra trong môi trường thiên nhiên, không chỉ là loại hình du lịch thiên nhiên hấp dẫn,
mà còn là du lịch có trách nhiệm, hỗ trợ các mục tiêu bảo vệ môi trường tự nhiên, các giá trị
văn hóa bản địa, phát triển cộng đồng và có tính giáo dục nâng cao ý thức, trách nhiệm trong
việc bảo vệ môi trường, duy trì các nguồn tài nguyên du lịch, tiến tới phát triển bền vững.
Mục đích lớn nhất của DLST là góp phần tăng trưởng kinh tế, xã hội của quốc gia và địa
phương. Đây có thể coi là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển của DLST.
Phát triển du lịch và bảo vệ môi trường sinh thái là những mặt bổ sung cho nhau
của cùng một chương trình hành động. Phát triển du lịch phải đi liền với bảo vệ môi
trường. Nếu không bảo vệ được môi trường sinh thái thì du lịch sẽ không phát triển. Do


đó phát triển DLST tương đồng với phát triển du lịch bền vững. Nếu không phát triển
du lịch theo hướng bền vững thì việc bảo vệ môi trường sẽ thất bại. Do đó, vừa phải
tuân theo xu hướng phát triển du lịch đồng thời phải bảo vệ môi trường sinh thái. Bên
cạnh đó, DLST còn đóng vai trò quan trọng góp phần phát triển kinh tế xã hội của quốc
gia và địa phương.
Tóm lại, DLST là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại
các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và đặc điểm văn
hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích hoạt động
bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách quan gây ra và tạo ra ích lợi
cho những người dân địa phương tham gia tích cực.
1.1.1.2. Những đặc trưng cơ bản về du lịch sinh thái
- Các đặc trưng xuất phát từ sản phẩm du lịch sinh thái
Sản phẩm DLST về cơ bản cũng không cụ thể không tồn tại dưới dạng vật thể.
Thành phần chính của sản phẩm DLST là dịch vụ, hàng hóa chiếm tỷ trọng nhỏ. Sản
phẩm DLST đa dạng và phong phú.
Do vậy việc đánh giá chất lượng sản phẩm DLST là rất khó khăn, vì thường mang
tính chủ quan và phần lớn là không phụ thuộc người kinh doanh mà phụ thuộc vào người
tiêu dùng - khách du lịch. Chất lượng sản phẩm DLST phụ thuộc vào tài nguyên du lịch.
Sản phẩm DLST thường được tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch. Do
vậy, sản phẩm DLST ít có khả năng di chuyển được. Trên thực tế, không thể đưa sản
phẩm DLST đến nơi có người tiêu dùng - khách du lịch mà bắt buộc người tiêu dùng phải
đến với nơi có sản phẩm DLST để thỏa mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng.
Sản phẩm của DLST được tạo ra trên cơ sở giảm thiểu tác hại đến môi trường.
Dịch dụ vận chuyển: chủ yếu bằng phương tiện như đi bộ trong rừng, xe đạp, du
thuyền ; dịch vụ lưu trú: DLST đòi hỏi chủ yếu là nhà nghỉ sinh thái, sử dụng vật liệu ở
địa phương; dịch vụ ăn uống, đồ ăn, thức uống sạch, an toàn;…những sản phẩm DLST
này thật sự ít gây tác hại cho môi trường sinh thái.
- Các đặc trưng xuất phát từ tạo lập các sản phẩm DLST


Quá trình tạo lập sản phẩm DLST phải được chuẩn bị kỹ lưỡng và công phu, mang
tính thẩm mỹ cao. Việc xây dựng nhà nghỉ sinh thái, sản xuất hàng lưu niệm đòi hỏi
phải có thời gian và đáp ứng được các tiêu chí. Tiêu chí của DLST là khai thác tối đa
nguyên liệu sẵn có tại địa phương nhưng không làm tổn hại đến tài nguyên để tạo ra hàng
hóa và dịch vụ phục vụ nhu cầu du khách. Chính vì vậy, việc tạo lập sản phẩm DLST tốn
nhiều thời gian, phải chuẩn bị kỹ lưỡng để tạo ra những sản phẩm đặc thù.
Tạo lập sản phẩm du lịch không theo ý muốn chủ quan của những người kinh
doanh dịch vụ mà phải theo quy định chung nhằm tạo ra sự đồng bộ, đảm bảo cảnh quan
môi trường. Việc xây dựng cơ sở lưu trú, phương tiện vận chuyển khách du lịch phải theo
quy hoạch thống nhất đảm bảo cảnh quan thiên nhiên, không làm tổn hại đến môi trường
sống xung quanh.
Hướng dẫn viên đòi hỏi phải có chuyên môn, đồng thời là tuyên truyền viên trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường sinh thái, phải có kiến thức hiểu biết sâu rộng trong nhiều lĩnh
vực như: kiến thức văn hóa dân tộc, am hiểu về tài nguyên thiên nhiên, động thực vật, ý thức
cao trong bảo vệ môi trường,
- Các đặc trưng xuất phát từ tiêu dùng sản phẩm DLST
Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm DLST trùng nhau về không
gian và thời gian. Chúng không thể cất đi, tồn kho như các hàng hóa thông thường khác.
Do vậy, để tạo ra sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng là khó khăn. Việc thu hút khách
du lịch nhằm tiêu thụ sản phẩm DLST là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các nhà kinh
doanh du lịch.
Việc tiêu dùng sản phẩm DLST thường không diễn ra điều đặn, mà có thể tập trung
vào những thời điểm nhất định trong ngày (đối với dịch vụ lưu trú, nhà hàng, cơ sở ăn
uống), trong tuần (đối với sản phẩm thể loại du lịch cuối tuần), trong năm (đối với sản phẩm
là một số loại hình du lịch như: du lịch biển, du lịch nghỉ núi ) Vì vậy, trên thực tế hoạt
động kinh doanh du lịch thường mang tính mùa vụ. Sự dao động trong tiêu dùng sản phẩm
DLST gây khó khăn cho việc tổ chức và hoạt động kinh doanh và từ đó ảnh hưởng đến kết
quả kinh doanh.


Trong quá trình tiêu dùng, sản phẩm DLST ít mất đi vì được tạo ra gắn liền với
yếu tố tài nguyên du lịch. Du khách thỏa mãn nhu cầu khi tiêu dùng sản phẩm du sinh
thái thông qua quan sát, ngắm nhìn, chiêm ngưỡng, Do đó sản phẩm DLST thường vẫn
tồn tại.
Ngoài ra, DLST hoạt động chủ yếu trong môi trường thiên nhiên với đặc điểm đi
kèm là: loại hình du lịch khuyến khích bảo vệ môi trường sinh thái, khuyến khích sự
tham gia của cộng đồng dân cư và đem lại lợi ích về kinh tế xã hội thúc đẩy sự phát triển
bền vững. Loại hình này luôn được sự quan tâm điều hành của Chính phủ và các tổ chức
môi trường thế giới.
DLST là một dạng hoạt động tiêu dùng ở trình độ cao, lại biểu hiện với hình
thức kinh doanh. Người du lịch phải chi tiêu một khoản tiền nhất định cho việc đi lại,
ăn ở, vui chơi, mua sắm…; xã hội phải cung cấp các điều kiện tất yếu về việc giao
thông, phương tiện du lịch cho hoạt động này. Trong quá trình tiêu dùng sản phẩm du
lịch tất nhiên có liên quan với việc trao đổi về mặt chính trị, văn hóa từ đó tạo nên
chỉnh thể du lịch. Do đó, muốn tiêu dùng sản phẩm du lịch dễ dàng đòi hỏi phải phát
triển đồng bộ trên nhiều lĩnh vực.
1.1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới tạo lập và tiêu dùng sản phẩm du lịch sinh
thái
- Các nhân tố ảnh hưởng tới tạo lập các sản phẩm du lịch sinh thái
Tạo lập các sản phẩm DLST ảnh hưởng đến tài nguyên du lịch.
DLST là một ngành kinh tế có định hướng tài nguyên rõ rệt. DLST còn có mối liên
hệ mật thiết với địa điểm mà khách du lịch có ý định tới thăm quan là cảnh quan quan thiên
nhiên tươi đẹp, môi trường trong lành, sự đa dạng, đặc sắc của văn hoá truyền thống bản
địa, ngành nghề truyền thống. Tài nguyên của DLST gồm: tài nguyên tự nhiên và tài
nguyên nhân văn hai yếu tố này gắn kết với nhau tạo nên sự hấp dẫn của DLST.
Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức hoạt động, phạm vi cũng như
cơ cấu và chuyên môn của khu, điểm DLST. Với mỗi loại tài nguyên có thể tổ chức loại
hình du lịch với những đặc trưng riêng, loại hình riêng để phục vụ các nhu cầu và mục
đích khác nhau của du khách.


Quy mô hoạt động du lịch được xác định trên cơ sở khối lượng, chất lượng nguồn
tài nguyên du lịch. Tài nguyên là yếu tố cơ bản tạo ra sản phẩm của DLST và nó cũng tham
gia vào việc tạo ra tính mùa vụ trong hoạt động du lịch, quyết định tính nhịp điệu của dòng
khách, thị trường khách du lịch.
Tài nguyên du lịch được xem là tiền đề để phát triển DLST. Thực tế cho thấy, tài
nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt
động du lịch càng cao bấy nhiêu. DLST là loại hình du lịch gắn liền với thiên nhiên và môi
trường nên nguồn tài nguyên lại càng quan trọng hơn và cũng có nguy cơ thường xuyên bị
đe dọa xâm hại và tàn phá. Muốn phát triển DLST một cách bền vững thì một hoạt động
mang tính nguyên tắc là việc khai thác phải đi đôi với việc bảo vệ và nuôi dưỡng tài
nguyên.
Một quốc gia, một khu vực được du khách quan tâm chỉ khi ở đó có nguồn tài
nguyên về du lịch phong phú, hệ động, thực vật đa dạng được bảo tồn và phát triển, môi
trường thiên nhiên trong lành, môi trường văn hóa xã hội độc đáo. Vì vậy, việc bảo
tồn và phát triển nguồn tài nguyên cho du lịch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi vì
chính tài nguyên là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình và sản phẩm DLST.
Việc phát triển nhà nghỉ sinh thái người dân khai thác gỗ trong rừng làm cho nguồn
tài nguyên rừng cạn kiệt, xảy ra tình trạng phá rừng. Dịch vụ ăn uống hàng tiêu dùng
hàng lưu niệm người khai thác săn bắn động vật, hải sản quý hiếm từ đó ảnh hưởng
đến việc bảo tồn. Du khách dùng lửa để đun nấu, nướng các loài động vật, thủy sản
trong khi đi tham quan làm xảy ra nguy cơ cháy rừng, nguy hại đến tài nguyên rừng
Tạo lập sản phẩm DLST chịu ảnh hưởng bởi cơ sở hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ DLST là toàn bộ phương tiện vật chất tham gia vào
việc tạo ra sản phẩm dịch vụ hàng hoá du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch.
Với DLST nó bao gồm các hoạt động nhằm cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu
cầu đi lại, ăn uống, lưu trú, mua sắm, giải trí, thông tin liên lạc, các hoạt động giảng giải,
hướng dẫn, nghiên cứu thiên nhiên và văn hoá… của khách du lịch. Vì vậy, phạm vi hoạt
động kinh doanh rất rộng, bao gồm hệ thống các cơ sở lưu trú du lịch, nhà hàng, các điểm
vui chơi giải trí, cho đến hệ thống giao thông vận tải, điện, nước, thông tin liên lạc…


Mặc dù DLST là hình thức du lịch dựa nhiều vào thiên nhiên, tạo lập sản phẩm DLST
phải đảm bảo nguyên tắc hạn chế tối đa việc tác hại đến môi trường thiên nhiên và hệ sinh
thái. Tuy nhiên, đây là một hoạt động phục vụ “con người” trong khi cơ sở hạ tầng kỹ thuật
là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển và thu hút khách du lịch đó là:
đường giao thông, phương tiện đi lại, cơ sở lưu trú, dịch vụ y tế, các dịch vụ bổ sung như hệ
thống thông tin liên lạc, các hoạt động vui chơi giải trí, hàng lưu niệm… đặc biệt vấn đề
thông tin liên lạc là một khâu quan trọng đối với phát triển du lịch nói chung và phát triển
DLST nói riêng. Mặc dù, muốn tách khỏi sự ồn ào của đời sống đô thị công nghiệp tuy nhiên
du khách vẫn cần có thông tin liên lạc để liên lạc với người thân, bạn bè và giải quyết công
việc làm ăn.
Những nơi có điều kiện cho phát triển DLST thường nằm ở vùng sâu, vùng xa
việc đi lại thường gặp nhiều khó khăn, vì vậy đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để du
khách có thể đến được những điểm thăm quan là rất cần thiết. Tuy nhiên, nếu việc quy
hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng không hợp lý và khoa học thì sẽ dễ dẫn đến phá vỡ
cảnh quan môi trường. Việc lập quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng cho phù hợp, thân
thiện với môi trường là vô cùng quan trọng. Hệ thống giao thông phải được thiết kế để
chống xói mòn và đảm bảo nơi cư trú cho động thực vật. Triệt để sử dụng các thiết bị
tiết kiệm năng lượng. Các thiết bị xử lý chất thải, nước thải phải được sử dụng phù
hợp, hệ thống khách sạn, nhà nghỉ, nơi vui chơi giải trí là những hạng mục cơ sở hạ
tầng cần được đặc biệt coi trọng về mặt thiết kế cũng như việc sử dụng vật liệu xây
dựng và địa điểm xây dựng… Đó là yêu cầu quan trọng không chỉ đảm bảo cho sự
phát triển DLST bền vững mà còn có cả ý nghĩa kinh tế xã hội. Xây dựng cơ sở vật
chất đảm bảo cho việc cung cấp và làm thỏa mãn nhu cầu của khách tham quan cùng
với việc đảm bảo cho phát triển bền vững là yêu cầu quan trọng của DLST.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến tiêu dùng sản phẩm du lịch sinh thái
Xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá: Đây là một khâu quan trọng trong quá trình tiêu
dùng sản phẩm du lịch, phát triển và xây dựng thương hiệu, hình ảnh. Đối với DLST việc
tuyên truyền quảng bá và hoạt động xúc tiến thương mại còn quan trọng hơn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét