Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Ý THỨC- VAI TRÒ Ý THỨC

không phải thế giới khách quan cứ tác động vào bộ não là trở thành ý thức,
nói cụ thể ý thức là sự phản ánh sáng tạo về thế giới. Tính sáng tạo của ý thức
thể hiện ở chỗ nó không chụp lại một cách thụ động, nguyên xi sự vật mà
phản ánh gắn liền với cái biến, quá trình thu thập thông tin gắn liền với quá
trình xử lý thông tin. Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở khả năng phản
ánh gián tiếp khái quát thế giới khách quan, ở quá trình chủ động tác động
vào thế giới để phản ánh thế giới đó. Bản tính sáng tạo quy định mặt chủ
quan của ý thức, tức là ý thức chỉ có thể xuất hiện ở trong bộ óc người, gắn
liền với hình thức hoạt động khái quát hoá, trừu tượng hoá có định hướng, có
lựa chọn, tồn tại dưới hình thức hiện thực chủ quan, là hình ảnh chủ quan
phân biệt về nguyên tắc với hiện thực khách quan và sự vật, hiện tượng vật
chất, cảm tính.
Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ không thể tách rời nhau, không
có phản ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh là cơ sở, là điểm xuất phát của
sáng tạo. Ngược lại, không có sáng tạo thì không có phản ánh. Đó là mối
quan hệ biện chứng giữa hai quá trình thu nhập, xử lý thông tin, là sự thống
nhất giữa mặt khách quan và chủ quan trong ý thức.
1.2.2 Tính xã hội
Là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội, ý thức về bản chất có tính xã
hội. Đây là sự khác biệt rất cơ bản của ý thức con người so với tâm lý động
vật, là chỗ phân biệt về nguyên tắc ý thức của con người với cái gọi là "bộ
óc" hay là:"suy nghĩ" của máy móc.
Ý thức trước hết là tri thức của con người về xã hội và hoàn cảnh, về
những gì đang diễn ra ở thế giới khách quan về mối liên hệ giữa người và
người trong xã hội. Do đó, ý thức xã hội hình thành và bị chi phối bởi tồn tại
xã hội đó… và ý thức của mỗi cá nhân phải mang trong lòng nó ý thức xã
hội.
Như vậy, con người suy nghĩ và hành động không phải chỉ bằng bàn tay
và khối óc của mình mà còn bằng bàn tay, khối óc của người khác, của toàn
Trang 5
xã hội và của toàn nhân loại nói chung tách khỏi môi trường xã hội, con
người không thể có ý thức, có tình cảm như người thực sự. Mỗi cá nhân đều
phải được sống trong môi trường xã hội lành mạnh và được xã hội rèn luyện,
giáo dục.
Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh và sáng
tạo. Sự thống nhất đó thể hiện ở tính năng động chủ quan của ý thức, ở quan
hệ giữa nhân tố vật chất và nhân tố ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới của
con người.
BÀI 2 : VAI TRÒ CỦA Ý THỨC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
Ý thức là một hiện tượng tâm lý- xã hội có kết cấu phức tạp bao gồm tự ý
thức, tình cảm, ý chí trong đó tri thức là quan trọng nhất, là phương thức tồn
tại của ý thức. Vai trò của ý thức thể hiện ở vai trò ủa tri thức, tự ý thức, tình
cảm và ý chí.
2.1 VAI TRÒ CỦA TRI THỨC
Tri thức là phương thức tồn tại của vật chất. Sở dĩ như vậy là vì sự hình
thành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết với quá trình con ngươì
nhận thức và cái biến tự nhiên. Tri thứ càng được tích luỹ, con người ngày
càng đi vào bản chất sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn, tính năng động
của ý thức cũng nhờ đó mà tăng lên. ý thức không có nội dung thực tiễn tức
không có một cái gì hiện thực cả, thì không bao giờ là tri thức; nếu không
dựa vào tri thức thì ý thức là một sự trừu tượng trống rỗng, thuần tuý, không
giúp ích gì cho con người trong hoạt động thực tiễn.
Nhưng tri thức là khoa học, do đó vai trò của tri thức cũng chính là vai trò
của khoa học.
Trang 6
* Vai trò của khoa học
Khoa học vừa là hệ thống những tri thức, vừa là sự sản xuất tinh thần ra
những tri thức cũng như hoạt động thực tiễn dựa vào những tri thức đó. Khoa
học – với tính cách là một hình thái ý thức xã hội – là hệ thống tri thức chân
thực về thế giới đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn. Đối tượng nhận thức của
khoa học bao quát mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy. Đó là một
trong những sự khác biệt giữa khoa học với các hình thái ý thức xã hội.
Nguồn gốc sâu xa của sự hình thành khoa học là do nhu cầu phát triển sản
xuất, cùng với sự phát triển của sản xuất và thực tiễn xã hội, khoa học không
ngừng phát triển. Trong quá trình đó vai trò của khoa học trong đời sống xã
hội ngày càng tăng lên theo thời gian.
Trong thời kỳ cổ đại việc sử dụng khoa học vào sản xuất còn ít ỏi, trồng
trọt, chăn nuôi và nghề nông thủ công chủ yếu dựa vào tri thức và kinh
nghiệm.
Từ thế kỷ XVII, khoa học phát triển, vai trò của khoa học ngày càng trở
nên quan trọng đối với sản xuất và đời sống; trở thành một tiền đề của công
nghiệp hoá, trở thành nội dung tinh thần của lực lượng sản xuất, mà trước hết
là tạo ra cơ sở lý luận để chế tạo những công cụ máy móc ngày càng hoàn
thiện, cho phép tiêu hao lao động sống ít hơn mà đạt kết quả to lớn hơn trong
sản xuất vật chất kỹ thuật cơ giới đã làm cho con người thoát khỏi lao động
chân tay cực nhọc, làm cho năng suất lao động tăng lên gấp bội.
Từ thế kỷ XX trở lại đây, khoa học tiến bộ rất nhanh chóng và vai trò xã
hội của nó ngày càng gia tăng. Khoa học và kỹ thuật kết hợp với nhau thành
một thể thống nhất để đi sâu nghiên cứu cấu trúc vật chất như cấu trúc
nguyên tử, các hạt cơ bản, cấu trúc gen và xâm nhập vào vũ trụ với quy mô
ngày càng lớn. Nhờ vậy, khoa học đã phát hiện ra những đặc tính mới, quy
luật mới của tự nhiên và sự sống, tạo ra và sử dụng những nguyên liệu mới có
tác dụng nhiều mặt, những dạng năng lượng mới cực mạnh, mở ra nhiều triển
vọng to lớn để hiểu biết và phát hiện những tài nguyên mới trong vũ trụ và
Trang 7
quả đất; tạo ra và ứng dụng những kỹ thuật mới để điều trị bệnh tật, lai tạo
các giống loài, điều chỉnh quá trình sống của động vật, thực vật, đề ra hàng
loạt những phương tiện kỹ thuật và quá trình công nghệ mới. Sự thống nhất
giữa khoa học và kỹ thuật được thể hiện trong cuộc cách mạng khoa học- kỹ
thuật: khoa học trở thành một ngành sản xuất vật chất với quy mô lớn, bao
hàm hàng loạt những viện, trường, phòng, trạm trại và cả nhiều xí nghiệp
nữa. Đội ngũ những người làm công tác khoa học tăng lên nhanh chóng và
không ngừng. Ngân sách đầu tư cho khoa học ngày càng lớn, có thể coi khoa
học như một ngành kinh tế quốc dân đặc biệt, ngành sản xuất ra tri thức mới.
Do những biến đổi căn bản về vai trò của khoa học đối với sản xuất mà khoa
học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Không chỉ có khoa học tự nhiên và
kỹ thuật mà cả các khoa học xã hội cũng trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp. Việc áp dụng những công trình nghiên cứu của khoa học xã hội vào
thực tiễn giữ một vai trò không kém phần quan trọng. Những công trình
nghiên cứu kinh tế và xã hội học… đã giúp cho việc sử dụng vật lực và nhân
lực một cách hợp lý nhất, chọn lựa những phương hướng tiến bộ nhất trong
sự phát triển sản xuất và hoàn thiện tổ chức lao động.
Khoa học là lực lượng sản xuất hàng đầu. Ngày nay, chúng ta thường
xuyên nghe nói đến một nền kinh tế mới đó là "nền kinh tế tri thức" mà trong
đó khoa học- công nghệ- kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là
yếu tố quyết định hàng đầu việc sản xuất ra của cải, sức cạnh tranh và triển
vọng phát triển tri thức khoa học được vật hoá, được kết tinh vào mọi yếu tố
của lực lượng sản xuất. Tức là trong đối tượng lao động, kỹ thuật và quá trình
cnt, và cả trong những hình thức của tổ chức sản xuất. Tri thức khoa học còn
được bao hàm trực tiếp trong hoạt động của người lao động sản xuất, trở
thành một bộ phận không thể thiếu được, khăng khít của mỗi người làm việc
trong quá trình sản xuất, dần dần chiếm địa vị chủ đạo thay cho thói quen và
kinh nghiệm thông thường. Người lao động sản xuất chủ yếu sẽ không phải là
đối tượng hoá sức lao động của mình mà chủ yếu là vận dụng tri thức khoa
học để điều khiển, kiểm tra quá trình sản xuất tự động hoá, đề xuất sáng kiến,
sử dụng hợp lý thiết bị, nguyên liệu, năng lượng và để tổ chức hoạt động của
Trang 8
mình một cách có hiệu quả nhất. Việc quản lý sản xuất và các quá trình công
nghệ chỉ có thể thực hiện trên cơ sở khoa học. Đồng thời hoạt động nghiên
cứu khoa học và thiết kế tham gia vào kết cấu của quá trình sản xuất như một
khâu trực tiếp. Như vậy khoa học không còn đứng trên cao hay bên ngoài sản
xuất mà chuyển thành một khâu của sản xuất.
Trong nền kinh tế tri thức, vấn đề không chỉ là tạo ra tri thức mà cả thu
nhận sử dụng và truyền bá tri thức kinh tế tri thức không chỉ bao hàm duy
nhất các lĩnh vực hoạt động với công nghệ cao, sử dụng lao động tri thức và
lao động có kỹ năng cao là chính mà còn là quá trình tri thức xâm nhập và chi
phối tất cả mọi hoạt động kinh tế, tứclà nền kinh tế tri thức không nhất thiết
có cấu trúc ngành thuần nhất về trình độ phát triển. Nghĩa là không phải tất
cả các ngành đều phải dựa trên nền tảng công nghệ kỹ thuật cao song điều
chắc chắn là tất cả các ngành dù ở trình độ nào, cũng hoạt động dưới sự chi
phối của tri thức, trong nền kinh tế tri thức, tri thức đóng vai trò là lực lượng
sản xuất quyết định nhất nên quy trình thực tiễn hoá tri thứ cũng là quy trình
sản xuất chủ yếu, quyết định sự phát triển trong đó khả năng đồng hoá, sử
dụng và truyền bá tri thức là khâu trực tiếp quyết định thành công trong nền
kinh tế, nhất là xét trong ngắn hạn và trung hạn.
Lịch sử phát triển hiện đại ngày càng chứng tỏ rằng, lợi thế về tài nguyên
thiên nhiên, về nguồn nhân lực càng giảm bớt. Trong khi đó trình độ khoa
học công nghệ và nguồn nhân lực kỹ năng cao (bao gồm nhân lực trí tuệ)
ngày càng đóng vai trò quyết định thắng lợi trong cuộc đua tranh- cạnh tranh
phát triển. Khả năng vượt bỏ hay tụt hậu phát triển của mỗi quốc gia (hay của
bất cứ yếu tố cấu trúc nào) tuỳ thuộc vào vị thế của nó trong mạng kinh tế
toàn cầu, tức là tuỳ thuộc vào khả năng xác lập quan hệ với các nhân vật mới,
công cụ mới để có được các điều kiện phát triển (các lợi thế phát triển do thời
đại tạo ra). Người ta thấy rằng, trình độ phát triển càng cách xa trình độ
chung của mạng thì độ rủi ro càng lớn. Song, trong khi những rủi ro do tham
gia gây ra là mang tính tình thế thì rủi ro do không tham gia mạng là chắc
chắn và lớn hơn bất kỳ rủi ro nào do tham gia mạng. Tuy nhiên, đối với
Trang 9
những nước chậm phát triển sự tồn tại ở vị trí thống trị, hay chi phối của các
yếu tố cơ bản thuộc cơ cấu cũ tạo nên hàng loạt ràng buộc đối với tiến trình
chuyển sang nền kinh tế tri thức, đó là lực lượng lao động ít tri thức, thiếu kỹ
năng (lao động nông nghiệp lạc hậu) chiếm tuyệt đại đa số làm cho bướcquá
độ lao động diễn ra chậm, nguồn lực tài chính khan hiếm, tiềm lực công
nghiệp và khoa học yếu và thấp kém, các mối liên hệ mở hạn chế. Những yếu
tố này tự nó chứa đựng năng lực nhập mạng kinh tế toàn cầu, yếu, cản trở
trực tiếp khả năng tiếp cận các cơ hội phát triển và gây ra sự chậm chạp của
quá trình biến đổi.
Đối với một đất nước còn nghèo như Việt Nam thì vai trò của khoa học
cnt trong sự nghiệp phát triển của đất nước là vô cùng to lớn, quyết định tốc
độ và khả năng vươn lên ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế
giới. Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra đường lối đổi mới coi khoa học và
công nghệ là một động lực mạnh mẽ của sự nghiệp đổi mới, ổn định tình
hình và phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, coi những
người làm khoa học và công nghệ làđội ngũ cán bộ tin cậy, quí báu của
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta". Còn Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 7 Ban
chấp hành (khoá VII) trong phần về chủ trương phát triển công nghiệp và
công nghệ đến năm 2000 đã nêu rõ quan điểm :khoa học công nghệ là nền
tảng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Kết hợp công nghệ truyền thống với
công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết
định".
Trong báo cáo chính trị Đại hội VIII Đảng ta lại nhấn mạnh" Khơi dậy
trong nhân dân lòng yêu nước, ý thức quật cường, phát huy tài trí của người
Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu bằng khoa
học và công nghệ". Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX vừa qua một lần nữa
lại xác định rõ vai trò to lớn của khoa học- công nghệ trong sự nghiệp xây
dựng đất nước, phấn đấu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại
vào năm 2020. Như vậy, đủ thấy rằng Đảng và Nhà nước ta thật sự rất coi
Trang 10
trọng khoa học công nghệ coi đó là quyết sách hàng đầu cho sự phát triển của
đất nước.
Nhìn lại những thành tựu mà chúng ta đã đạt được sau nhiều năm đổi
mới, ta càng thấy được vai trò to lớn của khoa học. Trong lĩnh vực công
nghiệp chế biến, công nghiệp nhẹ… càng thấy rõ tác dụng của tiếp thu công
nghệ mới: các sản phẩm của ngành bia, nước giải khát, công nghiệp dệt…
nhờ có các dây chuyền công nghệ mới như liên doanh cùng với lao động
được huấn luyện, đã cạnh tranh được với sản phẩm nước ngoài và bước đầu
xâm nhập thị trường quốc tế. Đáng tiếc là chúng ta chưa có đủ hệ thống kế
toán thống kê cần thiết để có thể đánh giá được đóng góp của khoa học và sự
tăng trưởng kinh tế trong những năm qua. Nhờ có khoa học mà ta đã phát
triển được hệ thống y tế, chữa trị được các bệnh hiểm nghèo mà trong vài
thập kỷ trước chúng ta phải bó tay như: lao, sốt rét, đặc biệt là việc chữa trị
căn bệnh vô sinh và thụ tinh trong ống nghiệm đã đem lại hạnh phúc cho
nhiều gia đình… Ngoài ra với sự phát triển của hệ thống các ngành công
nghiệp mới như công nghiệp điện tử- viễn thông, tin học đã đưa nước ta
không bị tụt hậu lại quá xa so với các nước phát triển khác.
Khi mà cả thế giới đều hướng tới nền kinh tế tri thức thì Việt Nam cũng
không thể đứng ngoài nếu như muốn phát triển. Để có thể hội nhập và phát
triển, nước ta phải có những điều kiện tối thiểu để nhập cuộc, đó là: Phổ cập
giáo dục, phổ cập công nghệ thông tin, trước tiên là trong nhà trường, kể từ
cấp tiểu học, phổ cập ngoại ngữ (ít nhất là tiếng Anh) từ cấp tiểu học… rõ
ràng, chỉ có "truy lĩnh cái mới" mới bảo đảm thành công. Và còn nhiều yếu tố
mới có vai trò ngày càng lớn trong cạnh tranh như: nghệ thuật và năng lực
tiếp thị, sự đáp ứng và dự báo kịp thời thị hiếu, mạng lưới phân phối đúng
thời hạn… Nếu không được hỗ trợ bằng một lực lượng khoa học và công
nghệ hàng đầu thế giới thì không thể nào giữ vững được vị trí của sản phẩm
trên thương trường quốc tế.
Như vậy, sứ mệnh xã hội của khoa học là làm cho cuộc sống và lao động
của con người trở nên đỡ vất vả hơn, tăng thêm quyền lực trí tuệ của con
Trang 11
người đối với tự nhiên, góp phần hoàn thiện các quan hệ xã hội, hoàn thành
nhân cách con người và trở nên phát triển hài hoà làm cho cuộc sống và hoạt
động của con người ngày càng dễ dàng hơn, đem lại hạnh phúc cho con
người. Khoa học tự nó là thành quả bất hủ của thiên tài con người, nó mở
rộng chân trời cho sự sáng tạo những của cải vật chất và tinh thần dồi dào.
Song khoa học tự nó không được coi là giá trị cao nhất của văn minh loài
người, khoa học là phương tiện chứ không phải là mục đích.
2.2 VAI TRÒ CỦA TÌNH CẢM VÀ Ý CHÍ
Việc nhấn mạnh yếu tố tri thức không đồng nghĩa với việc phủ nhận hoặc
coi nhẹ vai trò của các nhân tố tình cảm và ý chí. Ngược lại, nếu tri thức
không biến thành tình cảm, niềm tin và ý chí của con người hành động thì tự
nó cũng không có vai trò gì đối với đời sống hiện thực cả. Không có sự thúc
đẩy của tình cảm, ý chí, hoạt động thực tiễn sẽ diễn ra một cách chậm chạp,
thậm chí không thể diễn ra được. Nhờ ý chí và tình cảm, ý thức quy định tốc
độ và bản sắc của hoạt động thực tiễn. Tinh thần dũng cảm dám nghĩ, dám
làm lòng nhiệt tình, chí quyết tâm tình yêu, niềm say mê đối với công việc,
khả năng sáng tạo và vượt qua khó khăn nhằm đạt tới mục tiêu xác định…
đều có ảnh hưởng to lớn đến hoạt động thực tiễn, quy định tính đặc thù và
bản sắc riêng của những hoạt động cụ thể nhất định. Nói một cách khác, tư
tưởng có vai trò không kém phần quan trọng trong đời sống xã hội so với
khoa học.
VAI TRÒ CỦA TƯ TƯỞNG
Khi nói đến tính tích cực, năng động của ý thức có nghĩa là nói đến con
người, đến hoạt động có mục đích của con người. Sức mạnh của ý thức (tư
tưởng) tuỳ thuộc vào mức độ thâm nhập, phổ biến của nó vào con người, vào
trình độ tổ chức hoạt động thực tiễn và vào các điều kiện vật chất và hoàn
cảnh khách quan, trong đó ý thức được thực hiện. Tính tích cực của ý thức có
Trang 12
thể là thúc đẩy và cũng có thể là kìm hãm ở một mức độ nhất định của sự
phát triển của tồn tại. Những tư tưởng khoa học, lý luận cách mạng có vai trò
to lớn, thúc đẩy sự phát triển của tồn tại. Tầm quan trọng của lý luận cách
mạng được Lênin khái quát "không có lý luận cách mạng thì cũng không thể
có phong trào cách mạng". Những tư tưởng khoa học, lý luận khoa học có vai
trò thúc đẩy sự phát triển tồn tại vì chúng trang bị cho con người những tri
thức đúng đắn về các quy luật khách quan trên cơ sở đó con người vận dụng
và hành động phù hợp.
Việc thực hiện cách mạng trong lĩnh vực tư tưởng- văn hóa là một trong
những quy luật phổ biến của sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản. C.Mác
và sau này là V.I.Lênin đã chỉ ra rằng cách mạng tư tưởng văn hoá có vai trò
rất quan trọng, góp phần làm biến đổi toàn bộ đời sống tinh thần xã hội, xây
dựng mối quan hệ tư tưởng, tình cảm của con người với tư cách là chủ thể
xây dựng đời sống tinh thần làm cho quần chúng nhân dân trở thành người
trực tiếp tham gia vào quá trình sáng tạo lịch sử một cách tự giác có ý thức,
làm chủ mọi giá trị tinh thần, văn hoá và tạo ra được những điều kiện đảm
bảo sự phát triển tự do của con người. Do đó, công tác tư tưởng- văn hóa
nhằm biến tư tưởng văn hoá tiến bộ thành lực lượng vật chất để cải tạo xã
hội, xây dựng chế độ mới, làm cho hệ tư tưởng của Đảng, của giai cấp công
nhân, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, trở thành hệ
tư tưởng và các giá trị nhân văn, khoa học, chiếm địa vị chủ đạo trong đời
sống tinh thần của xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển.
Tư tưởng xác định lập trường, thái độ cho con người từ đó mà có những
hoạt động thích hợp để cải tạo, xây dựng xã hội. Nhờ có lòng dũng cảm, lòng
nhiệt tình, chí quyết tâm… mà những công việc trở nên dễ dàng hơn. Trong
giai đoạn hiện nay thì vai trò của tư tưởng ngày càng được khẳng định. Với
sự chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài mà đối tượng chủ yếu là
tầng lớp thanh thiếu niên lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, sự sơ
hở của hàng rào pháp luật để lưu hành những ấn phẩm độc hại, bôi nhọ chế
độ nếu như không có một tư tưởng tốt thì chắc chắn sẽ bị lôi kéo vào những
Trang 13
hoạt động gây tổn hại đến đất nước. Như vậy, những tư tưởng khoa học trang
bị cho con người những tri thức đúng đắn về các quy luật khách quan từ đó
có những hành động thích hợp.
Ở nước ta, trong hơn 20 năm qua, nhờ có công tác tư tưởng tốt mà chúng
ta đã vượt qua những thử thách hiểm nghèo, hình thành xác định và phát triển
đường lối đổi mới, nỗ lực tìm tòi các sáng kiến của nhân dân để khẳng định,
cổ vũ và đưa vào cuộc sống, củng cố niềm tin lý tưởng ngay cả khi cách
mạng xã hội chủ nghĩa lâm vào thoái trào, khơi dậy sức sáng tạo trong nhân
dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa nước ta vượt ra khỏi mọi thử thách lập
nên sức mạnh tổng hợp đưa nước ta vượt ra khỏi mọi thử thách, lập nên
những thành tựu rất to lớn và quan trọng về nhiều mặt, phấn đấu vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng dân chủ và văn minh.
Nhận thức được vai trò to lớn, Đảng ta luôn luôn coi trọng tư tưởng, kiên
định tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác-Lênin. Coi tư tưởng Hồ Chí
Minh cùngvới chủ nghĩa Mác- Lênin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam
cho hành động. Trong thời đại ngày nay thì vấn đề tư tưởng trong thanh niên
là nhiệm vụ mang đầy thử thách, là một vấn đề quan trọng cho sự tồn tại và
phát triển của dân tộc.
Kiên định theo lập trường, thái độ, tư tưởng đúng đắn thì chắc chắn con
người sẽ thành công, thực tiễn đã chứng minh như vậy. Xã hội tôn trọng cá
nhân, đồng thời cá nhân hiểu biết đề cao lợi ích xã hội, có thể hy sinh lợi ích
riêng vì lợi ích xã hội thì cần thiết và do vậy, sẽ đảm bảo cho nhân cách mỗi
cá nhân phát triển lành mạnh trong sự hài hoà với xã hội. Đó là tư tưởng Hồ
Chí Minh.
Nếu như tư tưởng khoa học có vai trò thúc đẩy sự phát triển của tồn tại thì
tư tưởng phản khoa học- phản ánh sai lạc các quy luật khách quan, lại kìm
hãm sự phát triển đó. Nếu tư tưởng sai lệch trong mỗi người tồn tại thì tất yếu
sẽ dẫn đến những hành động mù quáng, sai lầm ảnh hưởngđến xã hội.
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét