Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

tư liệu Tôn Đức Thắng

sản sang banh I như Tống Văn Trân, Nguyễn Hới, Tạ Uyên và cũng từ đó, Tôn Đức Thắng có thêm
các đồng chí của mình.
Một vấn đề lớn được đặt ra cho những chiến só Cộng sản ở Côn Đảo lúc đó là phải đấu tranh để
thành lập chi bộ Đảng Cộng sản; nhằm mục đích lãnh đạo quần chúng đấu tranh để tự bảo vệ mình,
chống đánh đập dã man, đòi cải thiện chế độ lao tù và cải thiện đời sống. Do đó, chi bộ Đảng ở nhà tù
Côn Đảo đã ra đời vào cuối năm 1932, sau cuộc đấu tranh nội bộ khắc phục những quan điểm thủ tiêu
đấu tranh giai cấp giữa chốn ngục tù khủng khiếp này. Đồng chí Tôn Đức Thắng đã góp phần rất quan
trọng, vì có điều kiện liên lạc được với các đảng viên Cộng sản ở các khám và banh khác, để thống
nhất ý chí, hành động. Chi ủy đầu tiên ở banh I do đồng chí Nguyễn Hới làm Bí thư, các Ủy viên gồm
có các đồng chí Tôn Đức Thắng, Tống Văn Trân, Tạ Uyên Sau đó, đến năm 1933, Chi bộ Côn Đảo
có thêm một số đảng viên mới bò chúng đưa ra như : Nguyễn Văn Cừ, Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn
Nguyễn, Phạm Hùng, Phạm Văn Khương (Lê Văn Khương) sức mạnh của Chi bộ ngày một tăng
cường.
Chi bộ Côn Đảo quyết đònh cho ra đời tờ báo Ý KIẾN CHUNG, để tuyên truyền, giác ngộ, tổ chức
quần chúng, đoàn kết xung quanh Chi bộ – hạt nhân lãnh đạo đấu tranh ở nhà tù Côn Đảo. Ban biên
tập của tờ báo được đặt tại khám 9, banh I – nơi đồng chí Tôn Đức Thắng bò giam giữ. Đồng chí Hai
Thắng không chỉ đóng vai trò trong sự ra đời của tờ báo, viết bài cho báo, mà quan trọng hơn là đồng
chí có điều kiện tiếp xúc, quan hệ với các banh khác, nên việc bí mật phát hành tờ báo đó đến tận các
cơ sở được an toàn và lắng nghe ý kiên, thu thập bài vở về cho Ban biên tập. Do đó, tờ báo Ý KIẾN
CHUNG đã phản ảnh được nguyện vọng của tù nhân ở Côn Đảo và trở thành tiếng nói chung của họ.
Những hoạt động tích cực đó của đồng chí Tôn Đức Thắng khó có thể vượt qua những con mắt cú
vọ của kẻ thù giữa chốn ngục tù khủng khiếp ấy. Đồng chí đã bò chúng bắt khi liên lạc với tù chính trò ở
banh II và bò nhốt ở xà lim số 15, ăn nhạt hai tuần. Sau đó bò tống giam vào hầm xay lúa.
Hầm xay lúa là đòa ngục của đòa ngục, nằm trong banh I, giam giữ những người chúng cho là cực
kỳ nguy hiểm và bò lao dòch nặng nề nhất, dưới sự cai quản của một tên cai (“Cặp rằn” – Caporal) vô
cùng tàn ác là tù hình sự. Ở đó, cứ ba cặp tù mới quay nổi một cối xay. Vì cối làm bằng thùng rượu
bằng gỗ cưa đôi, trong đắp đất sét, có găm răng cối; còn nỏ và giằng cối làm bằng gỗ lim dài 2 mét,
đường kính 20 cm, nên rất nặng nề. Không những thế, mỗi cặp tù chân phải mang chung một cùm sắt
nặng 10 kg. Cứ thế, họ phải sống trong lao động cực khổ, bụi bặm và roi vọt của cặp rằn hung hản. Do
đó, giữa người tù ở hầm xay lúa và tên cặp rằn tạo thành một mối thù phải trả, vì bọn đao phủ đã dùng
những tên anh chò hung bạo đó nhằm thủ tiêu, giết chết họ một cách hợp pháp nhất.
Lúc đó đồng chí Tôn Đức Thắng bò tống giam vào đây, thì đúng vào khi tên cặp rằn Bảy Tốt bò tay
chân của Tám Thiệu, Tám Liểu giết chết. Tên xếp Phê Răng đi ni đã chỉ đònh Tô Chấn – tù Quốc dân
Đảng thay, nhưng anh chòu ngồi xà lim, còn hơn nhận làm công việc khủng khiếp ấy. Bởi vậy, hắn chỉ
đònh Tôn Đức Thắng “Phần tử nguy hiểm”, mà lúc nào chúng cũng theo dõi, làm cặp rằn, nhằm thực
hiện mưu mô xảo quyệt : chia rẽ giữa tù chính trò và tù thường phạm, mượn tay chân của bọn anh chò
giết hại đồng chí Tôn Đức Thắng. Thực hiện chủ trương của Chi bộ Đảng, đồng chí nhận làm cặp rằn,
nhằm cải tạo hoàn cảnh theo khả năng của mình, và dần dần giảm bớt được chế độ khổ sai hà khắc ở
hầm xay lúa.
Biết đồng chí Tôn Đức Thắng là tù cộng sản, nói thạo tiếng Pháp nhưng không bao giờ tỏ thái độ
nònh hót bọn đao phủ người Pháp, hơn nữa lại có mối quan hệ đúng đắn với mọi người, nên anh em tù
nhân ở đây có cảm tình với người cặp rằn mới của mình. Trong họ, cả những tay anh chò ngổ ngược,
ngang tàng nhất, dần dần từ nể nang đến kính phục đồng chí, khi đưa lại những thay đổi mới trong chốn
đòa ngục này : bỏ lối cai quản người tù bằng roi vọt, sắp xếp phân công các công việc hằng ngày theo
điều kiện sức khỏe từng người, tổ chức Hội tù nhằm giúp đỡ những người bò đau yếu, tai nạn, liên lực
với bên ngoài để giảm bớt được khối lượng công việc phải làm Anh em ở đây, không những có thì giờ
nghỉ trưa, thổi cơm ăn thêm, mà còn được những đảng viên Cộng sản tổ chức nghe nói chuyện, học văn
5
hóa nhằm đoàn kết, giáo dục lòng yêu thương con người, lòng yêu nước và khơi dậy trong họ tinh
thần đấu tranh. Chính vì vậy, ảnh hưởng của đồng chí Tôn Đức Thắng đối với tù thường phạm rất lớn.
Đồng chí Nguyễn Duy Trinh kể lại : “Tôi mến phục tinh thần bình đẳng dân chủ thực sự, tính thật thà
cầu chân lý của đồng chí lớn tuổi. Được gần gũi anh Thắng ở khám lớn Sài Gòn cũng như sau này ở
hầm xay lúa Côn Đảo, tôi cũng như tất cả mọi anh em bao giờ cũng quý yêu ở đồng chí đức khiêm tốn
rất cao, tấm lòng ngay thẳng độ lượng, ý thức tập thể vững chắc”
(1)
. Điều đó, một lần nữa khẳng đònh
bản chất công nhân vốn có trong người công nhân đầu đàn Tôn Đức Thắng. Vì ở đồng chí, không có
hoàn cảnh nào là không cải tạo được và không có con người nào không thể trở thành người tốt được.
Ở nhà tù Côn Đảo, đồng chí Tôn Đức Thắng đã tham gia lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh chống lại
bọn đao phủ, đòi cải thiện đời sống và chế độ lao tù. Đặc biệt, trong cuộc tổng bãi thực ngày 18-6-
1936, ở banh I, sau đó diễn ra ở banh khác, đồng chí Tôn Đức Thắng đã tỏ rõ phẩm chất cách mạng cao
quý, ý chí kiên cường của người đảng viên Cộng sản trước quân thù. Trong cuộc đấu tranh ấy, đồng chí
không chỉ là người đi vận động, tuyên truyền để thống nhất ý chí, hành động; mà còn là người trực tiếp
tham gia vào Đội tự vệ bảo vệ cuộc đấu tranh. Lực lượng tham gia đấu tranh được sắp xếp một cách
khoa học, tù chính trò đi trước, tù thường phạm xếp theo sau, người chòu đựng được đòn thì đi trước,
người yếu đi sau. Đồng chí Tôn Đức Thắng thuộc lớp người đi đầu cuộc đấu tranh và chòu những đòn dã
man của kẻ thù. Sau 10 ngày đấu tranh liên tục, bất chấp sự khủng bố đàn áp của bọn đao phủ, tên
chúa đảo Bouvier phải nhượng bộ và chấp nhận những yêu sách của cuộc đấu tranh, góp phần buộc
chúng phải ân xá chính trò phạm trên toàn cỏi Đông Dương vào tháng 7-1936. Khi cuộc đấu tranh kết
thúc, mặc dầu trên thân thể còn đầy thương tích, đồng chí Tôn Đức Thắng ra sức động viên và chăm
sóc những đồng chí của mình bò đau yếu ở trong khám.
Cùng với những cuộc đấu tranh ấy, chi ủy banh I còn đề ra chủ trương “biến nhà tù thành trường
học cách mạng”, nhằm bồi dưỡng thêm kiến thức văn hóa, chính trò Mác – Lê-nin, ngoại ngữ – cho anh
em ở trong tù. Đồng chí Tôn Đức Thắng không những tham gia học rất tích cực, mà còn góp phần rất
quan trọng trong việc cung cấp tài liệu giảng dạy bằng tiếng Việt, tiếng Pháp cho những đảng viên
được phân công giảng dạy trong các lớp học. Vì, sau thời kỳ bò giam ở hầm xay lúa, bọn chúa ngục biết
đồng chí giỏi về sửa chữa máy móc, nên đã cho ra Sở Lưới để chữa và lái ca nô cho chúng. Từ đó, đồng
chí có nhiều điều kiện và đã bắt được liên lạc với tổ chức Đảng ở đất liền; trước hết là với Xứ ủy Nam
kỳ, một số Đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và cả những công nhân thủy thủ trên các tàu biển đến Côn
Đảo nhận hàng về đất liền. Do đó, Chi bộ Côn Đảo thường xuyên nắm được đường lối chủ trương của
Đảng ta, Đảng Cộng sản Pháp và nhận được những tài liệu, sách báo gửi từ đất liền ra. Đồng chí hăng
say nghiên cứu những sách kinh điển của chủ nghóa Mác – Lê-nin và quan tâm đặc biệt đến các tác
phẩm của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc như cuốn Đường cách mệnh hoặc Luận cương chánh trò của Đảng do
Tổng bí thư Trần Phú khởi thảo nhằm rút ra những bài học, kinh nghiệm quý cho công tác cách mạng.
Trong các lớp học ấy, đồng chí Tôn Đức Thắng thường kể lại cuộc binh biến Hắc Hải năm 1919, mà
mình được tham gia, góp phần củng cố tình cảm với nước Nga Xô Viết của các chiến só Cộng sản Việt
Nam ngay trong lúc bò bọn đế quốc giam cầm.
Để thực hiện thắng lợi chủ trương “biến nhà tù thành trường học cách mạng”, đồng chí Tôn Đức
Thắng đã cùng với Chi ủy và nhiều Đảng viên khác, không chỉ đấu tranh với bọn cai ngục, mà còn phải
đấu tranh bền bỉ chống lại những quan điểm lạc hậu của anh em tù Quốc dân Đảng. Vì họ thường vu
khống, xuyên tạc chủ nghóa cộng sản, gieo rắc tư tưởng phản động của thuyết “đấu tranh sinh tồn” của
các học giả tư sản, lúc đó đang thònh hành trên thế giới. Mặt khác, họ thường xuyên rêu rao, đã kích
một cách bỉ ổi các chiến só cộng sản, say sưa học tập để “khỏi lạc đường ra nghóa đòa Hàng Dương”.
Thậm chí, đôi khi họ cố tình phá hoại bằng cách báo cho bọn cai ngục đến tòch thu các tài liệu, bắt bớ
đánh đập các chiến só cộng sản. Trong các cuộc đấu tranh ấy, đồng chí Tôn Đức Thắng đã vận dụng
thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghóa Mác – Lê-nin, để đánh bại không nhân nhượng thuyết vò chủng,
thuyết sinh tồn sặc mùi phản động. Với thái độ đúng mực và lòng chân thành, đồng chí Tôn Đức Thắng
cùng với các đồng chí đảng viên khác đã giúp họ nhận rõ những sai lầm trong tư tưởng và hành động,
nên đã có thái độ bảo vệ đồng chí trước âm mưu sát hại của tù Quốc dân Đảng.
6
Năm 1934, trong thời kỳ đồng chí Tôn Đức Thắng làm việc tại Sở Lưới, biết được chủ trương của
Chi bộ Đảng bố trí cho các đồng chí Ngô Gia Tự, Lê Quang Sung, Tô Chấn vượt Côn Đảo về đất liền.
Đồng chí đã dở máy ca nô để sửa chữa đúng vào dòp đó. Theo đồng chí Hoàng Quốc Việt thì lúc đó :
“ qua những lời hé lộ của đám gác đêm và bàn tán của tù thường mà biết rằng chiếc ca nô duy nhất
của đảo đã được dở ra sửa chữa đúng lúc cuộc vượt đảo diễn ra. Không ai bảo ai, mấy anh em tù cộng
sản chúng tôi cười thầm. Biết chắc rằng đồng chí nào đó của mình đã cho ca nô hỏng đúng lúc để
chúng không có cái rượt đuổi. (Về sau chúng tôi mới biết là một người tù chính trò đồng chí Tôn Đức
Thắng)”
(1)
. Tiếp đó, mấy tháng sau Chi bộ lại tổ chức chuyến vượt đảo lần thứ hai gồm các đồng chí Tạ
Uyên, Nguyễn Hữu Tiến, Trần Quang Tặng, Tống Văn Trân, Vũ Công Phu và đồng chí Tôn Đức
Thắng. Nhưng : “Riêng đồng chí Tôn Đức Thắng không biết vì sao bò bắt trở lại. Anh em mừng cho các
đồng chí đi thoát, lại xót cho đồng chí Tôn, người thủy thủ đã tham gia binh biến Hắc Hải năm 1919,
phải tù đày từ năm 1929 tôi chưa gặp mặt, nhưng đã biết tiếng là một đồng chí trung kiên”
(2)
.
Người chiến só Cộng sản trung kiên Tôn Đức Thắng, một lần nữa lại khẳng đònh bản chất kiên
đònh của mình, sau khi chiến tranh thế giới lần thứ II nổ ra (1939 – 1945) và thực dân Pháp ở Đông
Dương ra sức phát xít hóa bộ máy thống trò, tăng cường khủng bố, đàn áp khốc liệt những người chiến só
Cộng sản còn đang bò giam giữ trong các nhà tù của chúng. Lúc dó, Chi bộ Đảng ở Côn Đảo hoạt động
vô cùng khó khăn vì một mặt do đế quốc gây ra, mặt khác vì không nắm được rõ tình hình phát triển
của cách mạng trong nước, trên thế giới, nên không tránh khỏi hoang mang, dao động. Đặc biệt, khi
được biết tin phát xít Đức điên cuồng tấn công Liên Xô, trong nội bộ Chi bộ đã phải tiến hành một cuộc
đấu tranh tư tưởng không kém phần gay gắt về vai trò của Liên Xô trong thế chiến lần thứ II. Là người
đã biết ít nhiều về nước Nga Xô Viết và đã thực sự biểu lộ bằng hành động thực tế góp phần bảo vệ
Nhà nước Công nông đầu tiên trên thế giới, đồng chí Tôn Đức Thắng đã ra sức kiên trì giải thích, chứng
minh cho mọi người thấy được sức mạnh vô đòch của chính quyền Xô Viết, quân đội Xô Viết và niềm
tin vào thắng lợi cuối cùng của nhân dân Liên Xô. Tổ quốc chung của những người lao động trên thế
giới. Đồng chí Tôn Đức Thắng đã kể lại về cuộc đấu tranh đó : “Trong khi bò cầm tù ở Côn Đảo, khi bò
phát xít Hitle tiến công Mat xcơ va, tôi và nhiều đồng chí khác lo lắng theo dõi tình hình. Song bao giờ
chúng tôi cũng giữ vững niềm tin thắng lợi cuối cùng của Liên Xô. Chúng tôi đã lập luận một cách đơn
giản và rõ ràng : nhân dân Liên Xô bằng sức mạnh của bản thân mình và dựa vào sự ủng hộ của vô sản
thế giới, đã đập tan cuộc can thiệp vũ trang của bọn đế quốc. Hơn 20 năm sau Liên Xô đã trở nên hùng
mạnh hơn. Liên Xô lại được sự ủng hộ rộng rãi của mặt trận Quốc tế chống phát xít và vì thế Liên Xô
nhất đònh thắng lợi”
(1)
. Niềm tin đó của đồng chí Tôn Đức Thắng đã truyền đến mọi người và góp phần
ổn đònh tình hình tư tưởng của Đảng viên trong chi bộ và quần chúng, tránh được những bi quan, dao
động lúc bấy giờ.
Tình hình cách mạng ở trong nước và thế giới ngày càng phát triển mạnh, diễn biến phức tạp, đòi
hỏi nhiều lượng tin tức để chi bộ Đảng nắm chắc được chủ trương, đường lối của Đảng ngày một nhiều,
chính xác, từ đó đònh ra được những kế hoạch, biện pháp đối phó, đấu tranh có hiệu quả hơn đối với kẻ
thù ở Côn Đảo. Do đó, cũng đòi hỏi ở sự cố gắng, nỗ lực ngày càng lớn của đồng chí Tôn Đức Thắng,
trong việc thu lượm tin tức, quan hệ với đất liền, với các thủy thủ Pháp, Việt, để nắm chắc xu thế phát
triển của cách mạng trong nước và thế giới. Đồng chí Tôn Đức Thắng đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ
đó.
Đặc biệt, sau ngày 9-3-1945, khi phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp, tình hình ở Côn Đảo lại
càng phức tạp hơn. Khi bọn phát xít Nhật đến thay thế Pháp tại Côn Đảo, trong nội bộ tù nhân ở đây
cũng có sự phân hóa rõ rệt. Một số hoang mang, một số xu thời ra mặt chửi Pháp nònh Nhật và tố cáo
những người Cộng sản để lập công. Đứng trước tình hình phức tạp đó, đồng chí Tôn Đức Thắng đã cùng
với các đồng chí trong chi ủy và đảng viên trong chi bộ, vạch rõ phát xít Nhật cùng bè lũ phát xít thế
giới, nhất đònh sẽ thất bại, cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới sẽ thắng lợi hoàn
toàn. Đồng thời, Chi bộ bàn bạc chủ trương chuẩn bò khởi nghóa giành chính quyền, khi có điều kiện
thuận lợi.
7
Không nắm được tình hình chung của phong trào cách mạng cả nước, chắc chắn sẽ gặp nhiều khó
khăn trong việc Chi bộ quyết đònh hành động. Đồng chí Tôn Đức Thắng được Chi bộ giao cho nhiệm vụ
phải chữa bằng được chiếc máy thu thanh đã hỏng nát, mà bọn chúa ngục đã vứt bỏ từ lâu. Với ý thức
trách nhiệm rất cao trước Chi bộ, với nhiệt tình cách mạng nóng bỏng và với tất cả vốn liếng tay nghề
của người thợ máy lâu năm, đồng chí Tôn Đức Thắng đã hoàn thành nhiệm vụ đó một cách xuất sắc và
kòp thời. Vừa chữa xong máy thu thanh đã bắt ngay được làn sóng của Đài Phát thanh tiếng nói Việt
Nam, phát đi từ Thủ đô Hà Nội, nghe được lời của Chủ tòch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập,
tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945. Đồng chí Tôn Đức Thắng cùng anh em trên toàn Đảo mừng
vui trong ngày hội lớn của dân tộc hồi sinh sau gần 80 năm phải làm nô lệ. Trong niềm vui lớn đó, biết
bọn chúa đảo đang hoang mang dao động đến cực điểm, bất chấp sự kềm kẹp của giám ngục, Chi bộ
Đảng đã quyết đònh tổ chức ngay một cuộc mít tinh trọng thể mừng Độc lập Tự do, ủng hộ Chính phủ
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nổi dậy giành chính quyền làm chủ trên toàn đảo.
Ngày 23-9-1945, đồng chí Tôn Đức Thắng cùng các đồng chí khác bò giam giữ ở nhà tù Côn Đảo,
được Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời Nam bộ cử một phái đoàn đưa tàu ra đón về đất liền.
Đồng chí Tôn Đức Thắng về đất liền vào ngày 23 tháng 9 năm 1945. Sau 17 năm xa cách đồng chí
chỉ kòp gặp gia đình ít giờ rồi lại đi ngay gặp Xứ ủy nhận công tác mới của Đảng. Khi đồng về thì cuộc
kháng chiến anh dũng vô cùng gian khổ ở Nam bộ và miền Nam Trung bộ, chống thực dân Pháp xâm
lược đã nổ ra, cùng một lúc với cuộc đấu tranh của nhân dân miền Bắc chống quân Tưởng Giới Thạch.
Trong tình hình khẩn trương đó, lực lượng cán bộ mới ở Côn Đảo về, được Xứ ủy Nam Bộ phân công
ngay công tác. Đồng chí Tôn Đức Thắng được bổ sung vào Xứ ủy. Ngày 25-10-1945, đồng chí tham dự
Hội nghò Xứ ủy Nam Bộ mở rộng, do đồng chí Hoàng Quốc Việt thay mặt Ban Thường vụ Trung ương
Đảng chủ trì, tại Thiên Hộ (huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho). Đồng chí Tôn Đức Thắng đã góp phần cùng
với tập thể Xứ ủy Nam Bộ dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, đã nêu ra
được phương hướng chỉ đạo, nhiệm vụ cấp bách cho cuộc chiến đấu ở Nam bộ. Trước hết, phải chấn
chỉnh tổ chức, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ về mọi mặt, nhất là lực lượng vũ trang, kiên trì giữ
vững và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, làm thất bại âm mưu đánh nhanh, giải quyết nhanh của thực dân
Pháp. Đồng chí được phân công phụ trách Ủy ban kháng chiến Nam bộ, kiêm chỉ huy các lực lượng vũ
trang Nam bộ. Sau hội nghò, đồng chí Tôn Đức Thắng cùng với những cán bộ trung kiên của Đảng vượt
qua mọi khó khăn, gian khổ, kiên trì đi sâu, bám sát cơ sở để củng cố, xây dựng phong trào, phát triển
cơ sở chính quyền, cơ sở vũ trang và đặc biệt quan tâm đến việc thành lập những khu du kích và đơn vò
vũ trang cách mạng nhằm đáp ứng những nhiệm vụ cấp bách đang diễn ra gay go, quyết liệt.
Với công lao đó trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến ở Nam bộ, nên trong cuộc tổng tuyển
cử đầu tiên vào 6-1-1946, đồng chí Tôn Đức Thắng được nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn bầu làm đại
biểu của mình trong Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cũng trong năm 1946,
đồng chí được Chủ tòch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng quyết đònh điều ra công tác Hà Nội. Từ đấy,
đồng chí luôn luôn ở bên cạnh Chủ tòch Hồ Chí Minh và Ban chấp hành Trung ương Đảng. Sau đó, được
Chủ tòch Hồ Chí Minh và Quốc hội nước ta cử đồng chí tham gia vào Đoàn Quốc hội nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu, sang thăm nước Pháp vào tháng 4-1946, theo
lời mời của Quốc hội nước Cộng hòa Pháp. Đồng chí Tôn Đức Thắng cùng với những thành viên trong
đoàn, đã tiếp xúc với nhiều nghò só Quốc hội Pháp, các đoàn thể quần chúng, các tầng lớp nhân dân
Pháp, góp phần thực hiện lời căn dặn của Chủ tòch Hồ Chí Minh trước khi đoàn lên đường là : “Đoàn
kết, cẩn thận, làm cho người Pháp hiểu ta để gây tình hữu nghò giữa hai dân tộc”. Chính vì vậy, mà
nhân dân Pháp, cũng như nhân dân thế giới hiểu được và đồng tình với cuộc đấu tranh chính nghóa của
nhân dân ta.
Sau khi đi thăm nước Pháp về, thực hiện chủ trương của Đảng về việc mở rộng Mặt trận Dân tộc
thống nhất, đồng chí Tôn Đức Thắng ra sức chuẩn bò khẩn trương về mọi mặt, cho sự thành lập Hội
Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắc là Liên Việt), vào cuối tháng 5-1946 tại Hà Nội. Toàn thể đại
biểu Hội nghò đã nhất trí bầu Chủ tòch Hồ Chí Minh là Chủ tòch danh dự của Mặt trận, bầu cụ Huỳnh
8
Thúc Kháng, Phó chủ tòch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm Chủ tòch Mặt trận Liên Việt và đồng
chí Tôn Đức Thắng làm Phó Chủ tòch Mặt trận Liên Việt, để lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi mục
đích của Mặt trận là : “Đoàn kết tất cả các Đảng phái yêu nước và các đồng bào vô Đảng phái, không
phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trò, chủng tộc để làm cho Nước Việt Nam độc lập, thống
nhất, dân chủ, phú cường”.
Từ đó, với cương vò người lãnh đạo Mặt trận dân tộc thống nhất, đồng chí đã hoạt động hết sức
mình vì sự nghiệp đoàn kết toàn dân, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam
dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đến tháng 10-1946, đồng chí trong đoàn đại biểu Nam bộ đi dự kỳ họp thứ
II của Quốc hội khóa I, họp tại Nhà hát Thành phố Hà Nội. Tại kỳ họp, đồng chí được các đại biểu
Quốc hội bầu làm Trưởng đoàn Chủ tòch của kỳ họp. Theo sáng kiến của đoàn đại biểu Nam bộ, toàn
thể Quốc hội nhất trí bày tỏ sự tín nhiệm và tin tưởng tuyệt đối của nhân dân cả nước đối với Chủ tòch
Hồ Chí Minh và suy tôn Người là Người công dân thứ nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vì đã
sáng suốt lãnh đạo nước nhà thoát khỏi xiềng xích của đế quốc phong kiến. Tại kỳ họp này, đồng chí
Tôn Đức Thắng cùng với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và gần 300 đại biểu Quốc hội, đã nhất
trí thông qua : báo cáo của Chính phủ về những công tác đã làm trong 8 tháng qua và Hiến pháp đầu
tiên của nước ta.
Khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, đồng chí Tôn Đức Thắng cùng với Trung ương Đảng, Chính
phủ dời lên chiến khu Việt Bắc, để bảo toàn lực lượng, lãnh đạo toàn dân ta tiến hành cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Ngoài cương vò lãnh đạo Mặt trận Liên Việt, đồng chí Tôn Đức Thắng được Trung ương Đảng,
Chính phủ phân giữ nhiều trọng trách : Tổng thanh tra Chính phủ, quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng
Ban thi đua ái quốc Trung ương, quyền Trưởng Ban thường trực Quốc hội, Chủ tòch danh dự Tổng Liên
đoàn Lao động Việt Nam, Hội trưởng Hội Hữu nghò Việt – Xô. Ở tất cả các cương vò ấy, đồng chí luôn
luôn khắc phục mọi khó khăn gian khổ, xuống tận cơ sở, đòa phương, động viên các gia đình thương
binh, liệt sỹ, các ngành, các cấp trong và ngoài quân đội nhằm động viên toàn dân góp sức người, sức
của và tài trí cho cuộc kháng chiến của dân tộc. Đồng thời, kiểm tra, đôn đốc hoạt động của các tổ chức
Nhà nước, đoàn thể, thúc đẩy bộ máy kháng chiến hoạt động mạnh mẽ, có hiệu quả, góp phần trực tiếp
củng cố xây dựng chính quyền cách mạng ngày một vững vàng, mạnh mẽ, để thực hiện tốt nhất hai
nhiệm vụ của cuộc kháng chiến : Vừa đánh giặc, vừa kiến thiết đất nước.
Để đẩy mạnh phong trào thi đua ái quốc, tại Hội nghò toàn quốc lần thứ ba của Đảng, họp từ 21-1
đến 3-2-1950, do đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp chỉ đạo, Trưởng Ban thi đua ái quốc
Trung ương Tôn Đức Thắng đã đọc báo cáo : “Đẩy mạnh thi đua nhằm đúng hướng chính”. Với phương
pháp tư duy nhìn thẳng vào sự thật và nói rõ sự thật, đồng chí đã phê phán nghiêm khắc những khuyết
điểm về lãnh đạo và tổ chức đã làm cho phong trào thi đua ít hiệu quả. Đồng thời, vạch rõ : “Hướng
chính của thi đua ái quốc lúc này là động viên nhân lực, vật lực, tài lực để phục vụ tiền tuyến”. Những
uốn nắn đó, đã góp phần chỉ đạo các đòa phương đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước tiến lên một
bước mới; góp phần vào sự lớn mạnh của cuộc kháng chiến đang bước vào giai đoạn mới. Để vạch rõ
những thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta trong cả nước và sự trưởng thành nhanh chóng của các lực
lượng vũ trang, đồng chí Tôn Đức Thắng thay mặt Ủy ban Thường trực Quốc hội đã ra lời Hiệu triệu
nhân dòp kỷ niệm lần thứ tư ngày toàn quốc kháng chiến. Đồng chí đã khẳng đònh : “Những thắng lợi
trên, đồng bào nên nhớ : chúng ta đã mua bằng sự gian khổ vô cùng, sự hy sinh tuyệt mực. Nhiệm vụ
của mỗi người công dân ta phải giữ vững lấy những chiến thắng ấy và khuếch trương nó ra”.
Để đẩy mạnh cuộc kháng chiến thắng lợi hoàn toàn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của
Đảng được triệu tập tại Tuyên Quang từ 11 đến 19-2-1951. Đồng chí Tôn Đức Thắng đọc diễn văn khai
mạc, nêu lên tình hình thế giới, cách mạng Đông Dương và quá trình hoạt động của Đảng ta từ Đại hội
lần thứ nhất của Đảng tại Ma Cao (3-1935) đến năm 1950 và nêu rõ những nhiệm vụ lòch sử của Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng. Đồng chí nhấn mạnh : “ của q nhất mà chúng ta nắm
vững được là, đã xây dựng được một Đảng tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động,
9
gần một triệu người đã được rèn luyện trong hơn 20 năm đấu tranh vô cùng gian khổ, người trước ngã
người sau tiến lên, một người hy sinh trăm ngàn người thay thế”. Trong Đại hội, đồng chí Tôn Đức
Thắng được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Đặc biệt, trong bài phát
biểu quan trọng bế mạc Đại hội, đồng chí Tôn Đức Thắng đã tổng kết toàn diện những nội dung lớn
được bàn và nhất trí thông qua trong Đại hội, nhằm đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi và đặt cơ sở
cho công cuộc kiến thiết nước nhà. Đó là, những đường lối sáng suốt, phương hướng đúng đắn của cách
mạng nước ta trong giai đoạn mới và là cơ sở để đoàn kết toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đưa cách
mạng tiến lên giành những thắng lợi mới.
Thực hiện nghò quyết của Đại hội Đảng, để củng cố, tăng cường sự đoàn kết nhất trí của toàn dân,
góp phần đẩy mạnh sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của dân tộc, đồng chí Tôn Đức Thắng ra sức
khẩn trương chuẩn bò tiến tới Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt, được triệu tập từ
ngày 3 đến 7 tháng 3 năm 1951. Đại hội đã suy tôn Chủ tòch Hồ Chí Minh làm Chủ tòch danh dự và bầu
đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tòch Mặt trận. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí, Đại hội đã thông qua
được nhiều nghò quyết quan trọng : thống nhất hai Mặt trận Việt Minh – Liên Việt thành Mặt trận Liên
Việt, Chính cương, Điều lệ, Tuyên ngôn của Mặt trận, và nhất trí tán thành việc xây dựng và bảo vệ
khối đoàn kết giữa nhân dân ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia để chống kẻ thù chung. Đảng coi
thành công của Đại hội Mặt trân lần này là một thắng lợi chính trò lớn của nhân dân ta, như Chủ tòch Hồ
Chí Minh đã phát biểu : “Hôm nay trông thấy rừng cây đoàn kết đã nở hoa kết quả và gốc rễ nó đang
ăn sâu lan rộng khắp toàn dân. Nó có một tương lai “trường xuân bất lão”
(1)
. Đồng chí Tôn Đức Thắng
người trực tiếp góp phần rất quan trọng vào thắng lợi chính trò lớn đó.
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp càng gần đến ngày thắng lợi, Đảng và Nhà nước ta lại
càng phải cần huy động tổng lực nhiều mặt, cần sự nhất trí về tinh thần, sự đoàn kết ngày càng chặt chẽ
của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bởi vậy, trong năm 1953, đồng chí Tôn Đức Thắng liên tiếp
triệu tập và chủ trì : Hội nghò Liên tòch giữa Ủy ban Thường trực Quốc hội và Ủy ban Liên Việt toàn
quốc (2-1953) và Hội nghò Ủy ban Liên Việt toàn quốc mở rộng (11-1953), bao gồm đông đảo đại biểu
các chính đảng, đoàn thể, dân tộc, tôn giáo trong toàn quốc, để thấm nhuần cương lónh của Đảng Lao
động Việt Nam về vấn đề ruộng đất”. Hội nghò đã đi đến quyết nghò quan trọng:
– Đẩy mạnh công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đánh đổ ngụy quyền,
giải phóng dân tộc, củng cố và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, giải phóng sức sản xuất ở nông
thôn, phát triển sản xuất nông nghiệp, mở đường phát triển công thương nghiệp, cải thiện đời sống nhân
dân.
– Kêu gọi các chính đảng, đoàn thể và toàn thể nhân dân ta ủng hộ cương lónh ruộng đất của
Đảng, ủng hộ cuộc đấu tranh của nông dân, tích cực tham gia cải cách ruộng đất và hoàn thành sự
nghiệp kháng chiến kiến quốc.
Với cương vò là người trực tiếp lãnh đạo Mặt trận dân tộc thống nhất, đồng chí Tôn Đức Thắng đã
nỗ lực hoạt động với mọi sức lực, tâm huyết của người chiến só cộng sản, vì sự thắng lợi của chính sách
đại đoàn kết của Đảng. Tất cả mọi hoạt động của đồng chí đều vì sự nghiệp đoàn kết toàn dân sao cho
“Rừng cây đoàn kết” ngày một xum xuê, vì củng cố khối liên minh Công nông, củng cố và mở rộng
Mặt trận Dân tộc thống nhất, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến và vì sự nghiẹp đoàn kết chiến
đấu giữa nhân dân ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia, giành toàn thắng cho các dân tộc Đông
Dương.
Chính nhờ khối đoàn kết vó đại của toàn dân, đã hợp thành sức mạnh tổng hợp của nhân dân ta
trong sự nghiệp chiến đấu và chiến thắng thực dân Pháp, sau chín năm trường kỳ kháng chiến cực kỳ
gian khổ. Trong đó, đồng chí Tôn Đức Thắng Chủ tòch Mặt trận dân tộc thống nhất, là một chiến só tiêu
biểu nhất cho chính sách đại đoàn kết của Chủ tòch Hồ Chí Minh.
oOo
10
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta giành được thắng lợi, sự nghiệp cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân mới hoàn thành ở miền Bắc nước ta. Đồng chí Tôn Đức Thắng cùng
với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước từ chiến khu Việt Bắc trở lại Thủ đô Hà Nội, tiếp tục lãnh
đạo nhân dân cả chủ nghóa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà, nhằm hoàn thành cuộc
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.
Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa I, họp tại Hà Nội tháng 9-1955, đồng chí Tôn Đức Thắng được
bầu làm Trưởng Ban thường trực Quốc hội. Với trọng trách ấy : đồng chí đã góp sức mình vào tăng
cường sức mạnh của nền chuyên chính vô sản trong thời kỳ miền Bắc bước vào quá độ tiến lên chủ
nghóa xã hội. Đứng trước tình hình phát triển mới của cách mạng Việt Nam, để mở rộng hơn nữa khối
đại đoàn kết toàn dân, thực hiện đường lối chính trò của Đảng nhằm động viên cả nước thực hiện thắng
lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, đồng chí Tôn Đức Thắng triệu
tập Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất toàn quốc vào tháng 9-1955 tại Thủ đô Hà Nội. Trong diễn
văn khai mạc, đồng chí kêu gọi toàn dân hãy ra sức thực hiện chính sách đại đoàn kết của Chủ tòch Hồ
Chí Minh và mọi người phải góp phần vào xây dựng Tổ quốc Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập,
dân chủ và giàu mạnh. Vì : “Chúng ta cùng chung một Tổ quốc, cũng có chung hàng ngàn năm lòch sử,
đau khổ có nhau, vinh quang có nhau. Điều đó, đã gắn liền đồng bào toàn quốc, gắn liền đại biểu
chúng ta làm một khối”. Đại hội đã quyết đònh lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và bầu đồng chí
Tôn Đức Thắng làm Chủ tòch Ủy Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Từ đó, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam góp phần rất quan trọng trong việc đoàn kết toàn dân không những trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghóa xã hội, mà cả trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.
Cùng với nhiệm vụ lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tháng 2-1957 khi Ban Thanh toán nạn
mù chữ Trung ương được thành lập, đồng chí Tôn Đức Thắng được cử làm Trưởng Ban. Với trách
nhiệm đó, đồng chí đã kêu gọi mọi người chưa biết chữ phải đi học để nâng cao hiểu biết, làm tròn
nghóa vụ đối với Tổ quốc. Đồng thời, kêu gọi mọi người biết chữ hãy tự nguyện góp sức mình vào “Đội
tiên phong trong sự nghiệp diệt dốt” và coi họ là những chiến só trên mặt trận chống lại hậu quả của
chính sách ngu dân do thực dân Pháp để lại và là những người mở mang tri thức phổ thông cho đồng
bào. Tuy gần 70 tuổi, đồng chí không quản ngại tuổi già sức yếu, vẫn thường xuyên xuống tận các lớp
bình dân học vụ ở Hà Nội và nhiều đòa phương xa để kiểm tra, đôn đốc và có những biện pháp cụ thể
nhằm đẩy mạnh việc học tập của các học viên và dạy học của các chiến só diệt dốt. Dưới sự chỉ đạo
trực tiếp của đồng chí và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực của người học và người dạy, nên
nạn mù chữ đã được thanh toán ngay vào cuối năm 1958 ở vùng đồng bằng và trung du miền Bắc.
Tháng 8-1958, nhân dòp đồng chí Tôn Đức Thắng 70 tuổi, Ủy Ban Thường vụ Quốc hội và Chính
phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã quyết đònh tặng đồng chí Huân chương Sao Vàng – Huân
chương cao q nhất của Nhà nước ta, vì đã có nhiều cống hiến xuất sắc trong chín năm kháng chiến
chống thực dân Pháp và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghóa xã hội. Trong buổi lễ trao tặng huân
chương, Chủ tòch Hồ Chí Minh đã khẳng đònh : “ đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và người
rất xứng đáng được tặng thưởng huân chương ấy”. Trước vinh dự lớn này, đồng chí Tôn Đức Thắng vô
cùng cảm động phát biểu : “ tôi không biết nói gì hơn là hứa lấy cố gắng của tôi để góp công ơn của
Đảng, công ơn của Hồ Chủ tòch. Người sáng lập và xây dựng Đảng, đã đưa tôi vào con đường vẻ vang
và để đền đáp sự tín nhiệm của nhân dân và Chính phủ”.
Đồng chí Tôn Đức Thắng tuy tuổi cao nhưng ý chí càng cao, nên tháng 7 năm 1960, Quốc hội đã
nhất trí bầu đồng chí làm Phó Chủ tòch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chủ tòch Hồ Chí Minh đã
siết chặt tay đồng chí nói : “Toàn thể Quốc hội nhất trí bầu cụ làm Phó Chủ tòch nước, tức là đồng bào
miền Nam đều bầu cụ làm Phó Chủ tòch nước. Điều đó tiêu biểu rằng nước ta nhất đònh thống nhất”.
Tiếp đó khi Chủ tòch Hồ Chí Minh qua đời (9-1969), đồng chí Tôn Đức Thắng được Quốc hội nhất trí
bầu làm Chủ tòch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa II, họp ở Hà Nội
ngày 23-9-1969. Vinh dự được kế tiếp chức vụ của Chủ tòch Hồ Chí Minh, đồng chí Tôn Đức Thắng
khiêm tốn nói : “Về phần tôi được kế tiếp chức vụ của Hồ Chủ tòch là điều rất vinh quang đối với tôi,
nhưng càng là điều mà tôi chưa bao giờ dám nghó đến ” và chân thành hứa: “Mặc dù tài hèn đức kém,
11
chúng tôi xin thề trước anh linh của Hồ Chủ tòch và trước Quốc hội : Chúng tôi sẽ cố gắng hết sức mình
để làm tròn trách nhiệm mà Quốc hội đã giao phó”.
Mặc dù là người đứng đầu Nhà nước, đồng chí Tôn Đức Thắng lúc nào cũng giữ được phong cách
công nhân trong sáng của mình : khiêm tốn, giản dò, chân thành, hòa mình trong quần chúng. Đồng chí
luôn luôn đi sâu đi sát cơ sở, lắng nghe quần chúng nhân dân phản ánh nguyện vọng chính đáng của
mình, và kiểm tra hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước. Mặt khác, không những bản thân Chủ tòch
gương mẫu thực hiện, mà còn luôn luôn căn dặn, nhắc nhở, giáo dục cán bộ lãnh đạo các cấp chính
quyền từ Trung ương đến cơ sở phải hết lòng vì dân, vì nước và luôn luôn phải coi dân là gốc vì sự
nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng.
Đối với sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, giành Độc lập – Tự do – Thống nhất Tổ quốc, Chủ tòch
Tôn Đức Thắng đã giành sự quan tâm đặc biệt. Là người sinh trưởng từ miền Nam “Thành đồng Tổ
quốc” hơn ai hết đồng chí dành những tình cảm sâu nặng nhất cho cuộc chiến đấu cực kỳ gian khổ của
đồng bào ở miền Nam. Tại Hội nghò chính trò đặc biệt, đồng chí Tôn Đức Thắng đã phát biểu : “Từng
giờ từng phút tôi luôn luôn nghó đến miền Nam, nơi chôn nhau cắt rốn, đang bò bọn đế quốc và tay sai
tàn phá , tôi muốn được sát cánh với đồng bào trong cuộc đấu tranh, cùng đồng bào chia sẻ những nỗi
gian khổ hy sinh để giải phóng quê hương yêu dấu”
(1)
. Chính vì vậy, Chủ tòch Tôn Đức Thắng càng ra
sức cùng với Đảng, Nhà nước tăng cường lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghóa xã hội ở miền Bắc –
hậu phương lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, để làm tròn nghóa vụ đối với miền Nam –
tiền tuyến lớn anh hùng. Xuất phát từ tình cảm lớn đó, đồng chí Tôn Đức Thắng kêu gọi : “Máu chảy
ruột mềm, là dân một nước là con một nhà, chúng ta chia sẻ nỗi đau thương của đồng bào miền Nam
ruột thòt”
(2)
và hãy “ nguyện son sắt một lòng, không sợ bất cứ một hy sinh gian khổ nào, luôn luôn kề
vai sát cánh cùng đồng bào miền Nam đưa cuộc chiến đấu chung của cả dân tộc ta đến thắng lợi hoàn
toàn”
(3)
.
Không phải bằng lời kêu gọi, mà bằng hành động thực tế hàng ngày, Chủ tòch Tôn Đức Thắng
giành nhiều thời gian, xuống thăm hỏi các đơn vò lực lượng vũ trang động viên tinh thần chiến đấu đánh
giặc của cán bộ, chiến só, nhắc nhở phải đề cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của
kẻ thù. Đặc biệt, ngay sau chiến công đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng máy bảy B.52 của không
quân Mỹ ở Hà Nội, Chủ tòch Tôn Đức Thắng đã kòp thời đến biểu dương thành tích của các đơn vò bộ
đội, tự vệ đã lập nhiều chiến công hạ máy bay B.52, F.111. Đồng thời ân cần thăm hỏi đồng bào đường
phố Khâm Thiên (Hà Nội) đang khắc phục hậu quả và chia buồn tới các gia đình có người thân đã bò
thiệt hại, trong cuộc ném bom có tính chất hủy diệt vô cùng dã man của giặc Mỹ vào tháng 12-1972.
Bò liên tiếp thất bại lớn trên chiến trường miền Nam và trận “Điện Biên Phủ trên không” ở Hà
Nội, ngày 27-1-1973, chính phủ Mỹ buộc phải ký Hiệp đònh về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở
Việt Nam. Nhưng chưa ráo mực, đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn đã ra sức phá hoại những điều
khoản vừa ký kết, nhưng không thể tránh khỏi sự thất bại hoàn toàn. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy mùa Xuân năm 1975 ở miền Nam, nhân dân ta đã giành thắng lợi quyết đònh : giải phóng hoàn
toàn miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Trong niềm vui
lớn đó, ngày 15-5-1975, Chủ tòch Tôn Đức Thắng về miền Nam dự lễ mừng chiến thắng vó đại của dân
tộc ta tại thành phố Sài Gòn, Chủ tòch đã phân tích những nguyên nhân dẫn đến những thắng lợi kỳ
diệu ấy và kêu gọi đồng bào miền Nam cùng với đồng bào miền Bắc, chung sức chung lòng trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ngay sau ngày thống nhất nước nhà, Chủ tòch Tôn Đức Thắng cùng với Ủy Ban Thường vụ Quốc
hội chuẩn bò tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội thống nhất. Ngày 3-7-1976, kỳ họp đầu tiên của Quốc
hội khóa VI, nhất trí bầu đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tòch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghóa Việt
Nam. Thay mặt những đồng chí được bầu vào các cơ quan lãnh đạo Nhà nước, Chủ tòch Tôn Đức Thắng
nói : “Chúng tôi xin hứa với Quốc hội, với đồng bào cả nước sẽ tiếp tục mang hết sức mình phục vụ Tổ
quốc phục vụ nhân dân, ra sức đoàn kết, động viên toàn dân phấn đấu thực hiện đầy đủ lời căn dặn của
Hồ Chủ tòch : “Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”.
12
Nhưng vừa ra khỏi cuộc chiến tranh, sau 117 năm kiên cường chiến đấu, nhân dân ta chưa kòp hàn
gắn vết thương chiến tranh, thì bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh, được đế quốc Mỹ đồng tình, lại
tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt đối với đất nước ta. Chúng dùng bọn Pôn Pốt – Iêng Xa
ry gây ra chiến tranh ở biên giới Tây Nam (1978) và mang quân xâm lược biên giới phía Bắc (1979).
Do đó, ngày 5-3-1979, Chủ tòch Tôn Đức Thắng đã ký sắc lệnh Tổng động viên, nhằm huy động nhân
dân cả nước trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghóa và đánh thắng hoàn toàn cuộc
chiến tranh xâm lược do chúng gây ra.
Chủ tòch Tôn Đức Thắng quan tâm đặc biệt đến việc chăm sóc, giáo dục và bồi dưỡng thế hệ
măng non đất nước. Ngày 1-4-1961 đồng chí Tôn Đức Thắng là Chủ tòch danh dự Ủy Ban Thiếu niên
Nhi đồng Việt Nam. Dù ở cường vò, hoàn cảnh nào, Chủ tòch Tôn Đắc Thắng cũng coi trọng công tác
đó, vì các cháu sẽ là chủ nhân thực sự của xã hội tương lai. Đồng thời, vạch rõ công tác thiếu niên nhi
đồng có ý nghóa cách mạng trọng đại, vì nó là công tác của toàn Đảng, toàn dân, biểu hiện quan điểm
quần chúng của người cách mạng, biểu hiện tính ưu việt của chế độ ta, vì quan tâm đến thiếu niên nhi
đồng, chính là quan tâm đến tiền đồ của sự nghiệp cách mạng. Bởi vậy, nó không chỉ là tình cảm, mà
còn là trách nhiệm của những người cộng sản. Chủ tòch Tôn Đức Thắng thường kêu gọi các ngành, các
đoàn thể, các bậc cha mẹ, các cô giáo thầy giáo, các cán bộ phụ trách hãy làm tốt hơn nữa công tác
giáo dục, chăm sóc và bảo vệ thiếu niên nhi đồng, ra sức thực hiện lời di chúc của Chủ tòch Hồ Chí
Minh : “Bồi dưỡng những thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết !”.
Mặt khác, đồng chí còn gửi thư tới các bậc cha mẹ, các gia đình yêu cầu hãy : “ quan tâm đẩy mạnh
cuộc vận động “toàn dân bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng” và phối hợp với nhau chặt
chẽ hơn nữa trong việc vun trồng những mầm non của dân tộc”. Những quan điểm đó của Chủ tòch Tôn
Đức Thắng, Đảng, Nhà nước đã trở thành luật pháp khi pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em do Chủ tòch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghóa Việt Nam Tôn Đức Thắng ký sắc lệnh công bố vào
ngày 21-11-1979.
Chủ tòch Tôn Đức Thắng không chỉ là người chiến só Cộng sản lão thành đã cống hiến toàn bộ sức
lực, trí tuệ của mình vào sự nghiệp đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng vào
bảo vệ Tổ quốc, mà còn là một tấm gương sáng của nhà yêu nước và của một chiến só Cộng sản quốc
tế, đã hiến dâng cho sự nghiệp vì quyền tự do, công lý, hòa bình và tiến bộ của các dân tộc. Do đó,
đồng chí Tôn Đức Thắng đã được nhân nhiều huân chương cao q của các nước anh em và các tổ chức
quốc tế.
Tháng 12-1955, Ủy Ban Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lênin của Liên Xô, quyết đònh tặng đồng
chí Tôn Đức Thắng giải thưởng Lênin vì hòa bình và hữu nghò giữa các dân tộc. Là người Việt Nam đầu
tiên được nhận vinh dự lớn ấy, đồng chí khiêm tốn nói: “Tôi nhận rõ rằng việc tặng giải thưởng Lênin
cho tôi là một sự công nhận phần cống hiến mà nhân dân Việt Nam đã và đang góp vào cuộc đấu tranh
để tăng cường nền hòa bình ở châu Á và trên thế giới”. Cũng nhân dòp này, Ban chấp hành Trung ương
Đảng khẳng đònh công lao to lớn và chúc mừng đồng chí Tôn Đức Thắng : “Việc trao tặng giải hòa bình
quốc tế mang tên Lênin vó đại cho đồng chí, người đại biểu xứng đáng của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động Việt Nam, người bạn chiến đấu trung thành của Hồ Chủ tòch, còn là một sự cỗ vũ vô cùng
mạnh mẽ đối với nhân dân ta trong cuộc đấu tranh gay go nhằm củng cố, thực hiện thống nhất, hòa
bình, độc lập và dân chủ trong cả nước”.
Đến tháng 11 năm 1967, do những cống hiến lớn lao với sự nghiệp hòa bình thế giới. Đoàn Chủ
tòch Xô Viết tối cao Liên Xô quyết đònh tặng đồng chí Tôn Đức Thắng huân chương Lênin. Huân
chương cao q nhất của Liên Xô, nhân dòp kỷ niệm lần thứ 50 cách mạng xã hội chủ nghóa tháng Mười
Nga. Vinh dự đặc biệt đó không chỉ dành cho đồng chí Tôn Đức Thắng, mà còn là vinh dự chung của
nhân dân Việt Nam ta.
Dù ở cương vò nào, đồng chí Tôn Đức Thắng cũng hết lòng tận tụy vì dân vì nước, ngay cả khi tuổi
già sức yếu. Ngày 30-3-1980, sau gần hai năm yếu mệt, được Trung ương Đảng, Nhà nước tập trung
13
những khả năng, phương tiện tốt nhất để tận tình cứu chữa, chăm sóc, nhưng Chủ tòch Tôn Đức Thắng
không qua được những cơn bệnh hiểm nghèo và đã từ trần.
Ban chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Mặt trận đã quyết đònh tổ chức lễ quốc
tang với nghi thức trọng thể và toàn thể nhân dân Việt Nam để tang đồng chí Tôn Đức Thắng trong 5
ngày từ 1 – 5-4-1980.
Sáng ngày 1-4-1980, tại Hội trường Ba Đình lòch sử, lễ viếng đồng chí Tôn Đức Thắng được cử
hành rất trọng thể. Các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Mặt trận luôn luôn
túc trực bên linh cửu đồng chí Tôn Đức Thắng. Đã có gần 150 đoàn đại biểu với hơn 10 ngàn người
thay mặt đồng bào cả nước đến viếng. Ở tất cả các đòa phương trong nước đều tổ chức lễ tưởng niệm
người cộng sản kiên cường, mẫu mực Tôn Đức Thắng. Ngoài ra còn nhiều đoàn đại biểu cấp cao của
Đảng, Nhà nước ở nhiều quốc gia sang nước ta dự lễ tang; các đoàn ngoại giao, các tổ chức quốc tế tại
nước ta cũng đã đến đặt vòng hoa kính viếng anh linh của Chủ tòch Tôn Đức Thắng. Với tấm lòng
ngưỡng mộ người chiến só cộng sản quốc tế đã về nơi vónh cửu, ở nhiều nước trên thế giới đã tổ chức lễ
tang hoặc quốc tang. Ở tất cả các cơ quan ngoại giao của nước ta tại các nước, đã đón rất nhiều nhà
lãnh đạo, và quần chúng nhân dân đến chia buồn và ký vào sổ tang. Cũng thời gian đó, Đảng, Nhà
nước ta cũng đã nhận được rất nhiều điện chia buồn từ các nước gửi tới nhân dân ta.
Chiều ngày 3-4-1980, lễ truy điệu Chủ tòch Tôn Đức Thắng được tổ chức trọng đại theo nghi thức
quốc gia tại Hội trường Ba Đình. Đồng chí Trường Chinh, Ủy viên Bộ Chính trò Ban chấp hành Trung
ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tòch Ủy Ban Thường vụ Quốc hội, đọc điếu văn khẳng đònh những
cống hiến lớn lao của Chủ tòch Tôn Đức Thắng : “Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí là một
tấm gương sáng về lòng trung thành, tận tụy, về tinh thần anh dũng, bất khuất, về đức tính khiêm tốn,
giản dò. Toàn thể đồng chí và đồng bào chúng ta rất tự hào về sự nghiệp và đạo đức cách mạng của
đồng chí. Chúng ta quyết mãi mãi noi gương cao cả của đồng chí để khắc phục mọi khó khăn, hoàn
thành mọi nhiệm vụ cách mạng”.
Ngày 4-4-1980, lễ an táng Chủ tòch Tôn Đức Thắng được cử hành rất trọng thể. Với lòng tiếc
thương vô hạn, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã đưa Chủ tòch Tôn Đức Thắng về nơi an nghó cuối
cùng.
Cuộc đời 92 mùa Xuân của đồng chí Tôn Đức Thắng đã giành gần 70 năm hoạt động cho sự
nghiệp cách mạng lớn lao của Đảng và dân tộc.
Hơn 30 năm đầu, từ khi rời quê hương bắt đầu cuộc đời người thợ đến khi cách mạng Tháng Tám
năm 1945 thành công, đồng chí Tôn Đức Thắng phải trải qua những thử thách vô cùng gian khổ. Sớm
đến với giai cấp công nhân và lăn lộn trong phong trào công nhân công nghiệp đầu tiên ở Việt Nam
giác ngộ cách mạng, là lớp chiến só đầu tiên đứng vào hàng ngũ tiên phong của phong trào yêu nước
của giai cấp công nhân Việt Nam.
Là lớp người đầu tiên tiếp thu và tuyên truyền chủ nghóa Mác-Lênin và phong trào công nhân Việt
Nam bằng hoạt động thực tiễn của mình, đồng chí Tôn Đức Thắng là người tổ chức ra Công hội đầu
tiên ở nước ta và tham gia tích cực vào quá trình vận động và thành lập chính đảng của giai cấp công
nhân Việt Nam : Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thử thách lớn nhất của cuộc đời đồng chí trong thời kỳ này là 17 năm bò thực dân Pháp cầm tù ở
khám lớn Sài Gòn và đòa ngục trần gian Côn Đảo. Lòng trung thành vô hạn đối với Tổ quốc, với lý
tưởng cộng sản của Đảng, lòng dũng cảm vô biên, ý chí kiên cường bất khuất và niềm tin vào thắng lợi
cuối cùng của nhân dân ta, đã tạo thành sức mạnh phi thường trong bản chất người công nhân – cộng
sản Tôn Đức Thắng, đã giúp đồng chí chiến thắng được những tháng, năm đầy hy sinh gian khổ ấy.
Hơn 30 năm sau, từ khi thoát khỏi nhà tù Côn Đảo về đất liền, sống những ngày đầu tiên khi đất
nước, dân tộc hồi sinh sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến cuối đời, đồng chí Tôn Đức Thắng đã nhận
nhiều trọng trách lớn của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Mặt trận trong hai cuộc kháng chiến chống thực
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét