nhau.Mặt khác,trong 1 sắc thuế ,với những hoạt động kinh tế xã hội và mục
tiêu quản lý khác nhau thì thuế suất cũng khác nhau.Sự thay đổi thuế suất
có thể ảnh hưởng đến tâm lý đối tượng nộp thuế và ảnh hưởng đến hoạt
động của đối tượng nộp thuế cũng như tác động đến khả năng thu NSNN
và ảnh hưởng nhất định đến các chính sách kinh tế khác của Nhà nước.Mức
thuế suất thống nhất và ít sẽ giúp cho việc quản lý và thu thuế có hiệu quả
hơn, nâng cao tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người
nộp thuế thông qua việc để cơ sở kinh doanh tự kiểm tra, tự tính thuế, tự kê
khai và nộp thuế.
Về chế độ ưu đãi, miễn giảm thuế
Đặt ra chế độ ưu đãi, miễn giảm thuế không làm giảm nhẹ tính cưỡng
chế của thuế. Hơn nữa, nó cho thấy tính linh hoạt của Nhà nước khi dựng
thuế. Các tổ chức, cá nhân sẽ được Nhà nước để lại một phần hay toàn bộ
số thuế đó để sử dụng trong thời gian nhất định nhằm mục đích khuyến
khích các chủ thể kinh tế hoạt động. Chế độ ưu đãi, miễn giảm thuế được
quy định cụ thể trong văn bản Pháp luật.
Về thủ tục nộp thuế
Bao gồm các quy định về trách nhiệm, cách thức để nộp thuế vào
NSNN của đối tượng nộp thuế trước cơ quan thuế và cơ quan hữu quan
(căn cứ vào lệnh thu ngân, thông báo thuế, thời gian nộp thuế và nơi
nộp…). Đồng thời đó cũng là căn cứ pháp lý giúp cho việc giải quyết và
thực hiện tốt công tác nộp thuế đóng, đủ và kịp thời cũng như việc xử lý
đối với các trường hợp chậm nộp, cố tình dây dưa về thuế.
5
1.2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp
1.2.1.1. Khái niệm
Xét về ảnh hưởng đến thu nhập của đối tượng nộp thuế, thuế nói
chung bao gồm 2 loại : Thuế trực thu và thuế gián thu
Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của các tổ chức
cá nhân.Người nộp thuế đồng thời cũng là người chịu thuế.
Thuế gián thu là loại thuế đánh vào hàng hoá và dịch vụ,tức là chỉ
đánh gián tiếp vào các cá nhân.
Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh trên phần thu nhập mà DN
đã đạt được sau 1 kỳ kinh doanh nhất định
Trong quá trình hội nhập quốc tế ,Việt Nam sẽ phải cắt giảm mạnh
một số thuế như thuế xuất nhập khẩu nên chủ trương của Nhà nước là
phải tăng tỷ trọng thuế trực thu trong tổng thu từ thuế trong NSNN để đảm
bảo cho các mục tiêu kinh tế xã hội của Nhà nước.Với những lý do trên
thuế TNDN có vai trò rất to lớn trong qúa trình hội nhập và phát triển của
đất nước.
1.2.1.2. Đặc điểm
Thuế TNDN là loại thuế trực thu tức là người nộp thuế và người chịu
thuế là một. Ở đây doanh nghiệp chính là đơn vị trực tiếp chịu thuế TNDN,
phần thu nhập của doanh nghiệp sau khi đã nộp thuế TNDN sẽ hình thành
thu nhập sau thuế và doanh nghiệp được phép tiến hành phân phối, trích lập
các quỹ ở doanh nghiệp.
Nhà nước sử dụng thuế trực thu như một công cụ sắc bén nhằm điều
tiết thu nhập xã hội và tạo nên nguồn tài chính để phân phối lại nhằm đạt
mục tiêu công bằng xã hội. Bởi vì thuế TNDN đánh trực tiếp vào thu nhập
6
của các đối tượng cần điều tiết và đối tượng này phải chịu thuế mà không
có cơ hội chuyển gánh nặng thuế cho chủ thể khác.
1.2.2. Đối tượng nộp thuế TNDN
Đối tượng nộp thuế TNDN:
Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức, cá nhân sản
xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ có thu nhập phải nộp thuế TNDN.
Cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam hoặc có thu nhập phát
sinh ở Việt Nam như: cho thuê tài sản, cho vay vốn, chuyển giao công
nghệ, có thu nhập phải nộp thuế TNDN.
Đối tượng không thuộc diện nộp thuế TNDN:
Hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có
thu nhập từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản trừ hộ gia
đình và cá nhân nông dân sản xuất hàng hoá lớn có thu nhập cao theo quy
định của chính phủ.
Sở dĩ như vậy vì có thể thấy rằng Việt Nam là một nước nông nghiệp,
phần đông dân cư làm việc trong khu vực nông nghiệp và tỷ trọng đóng
góp của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân là lớn.Vì vậy chính phủ
xếp những đối tượng trên vào diện không phải nộp thuế TNDN để khuyến
khích những thành phần này đầu tư phát triển.
1.2.3. Căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế TNDN là thu nhập chịu thuế và thuế suất
1.2.3.1. Thu nhập chịu thuế: Thu nhập chịu thuế được xác định trên cơ
sở kết quả kinh doanh thực đạt được trong một kỳ tính thuế
Ta có thể định nghĩa thu nhập như sau : Thu nhập là tổng các giá trị mà một
chủ thể nào đó trong nền kinh tế,xã hội nhận được, thu được thông qua túa
trình phân phối thu nhập quốc dân trong một thời hạn nhất định,không phân
biệt nguồn hình thành từ lao động,từ tài sản hay đầu tư.
7
Thu nhập Doanh thu để Chi phí Thu nhập
chịu thuế = tớnh thu nhập - hợp lý + chịu thuế
trong kỳ chịu thuế trong trong kỳ khỏc trong kỳ
tớnh thuế kỳ tớnh thuế tớnh thuế tớnh thuế
Về doanh thu để tính thu nhập chịu thuế:
Theo quy định tại điểm II, phần B, thông tư số 128/2003/TT-BTC
ngày 22/12/2003 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành nghị định
164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Luật thuế TNDN thì doanh thu để tính thu nhập được quy định như
sau:
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng, tiền
cung cấp dịch vụ bao gồm cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh
được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu tiền.Quan điểm
xác định doanh thu và thu nhập chịu thuế theo quyết định này dựa trên cơ
sở nguyên tắc “ Doanh thu thực hiện” trong kế toán và kế toán trên cơ sở
dồn tích.
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định cụ thể đối với cơ
sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo các phương pháp khác nhau.
Phương pháp khấu trừ trong tính thuế GTGT là một phương pháp đã
loại trừ được hoàn toàn tính trùng lặp trong luật thuế Doanh thu trước đây.
Do đó trong tương lai các cơ sở kinh doanh cần phải được thực hiện hạch
toán thuế GTGT theo phương pháp này.
Đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
trên GTGT là doanh thu bao gồm cả thuế GTGT.
Để thực hiện được điều này thì cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo
phưnơg pháp trực tiếp phải sử dụng hoá đơn GTGT trực tiếp (Ký hiệu là
GTTT).
8
Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác
định như sau:
Đối với hàng hoá là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá
hoặc xuất hoá đơn bán hàng.
Đối với dịch vụ là thời điểm dịch vụ hoàn thành hoặc xuất hoá đơn
bán hàng.
Về chi phí hợp lý được trừ đi khi tính thu nhập chịu thuế:
Về nguyên tắc chi phí hợp lý khi tính thu nhập chịu thuế và toàn bộ
các khoản chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra có liên đến việc tạo ra doanh
thu, thu nhập trong kỳ tính thuế. Về mặt kế toán, chi phí được xác định và
ghi nhận trên cơ sở nguyên tắc “chi phí thực tế”, “phù hợp” và kế toán trên
cơ sở dồn tích. Chi phí phải được ghi nhận khách quan và đáng tin cậy,
điều này có nghĩa là phải có chứng từ kế toán hợp pháp, hợp lệ minh chứng
cho khoản chi phí đã phát sinhTheo điều 9 Luật thuế TNDN các khoản chi
phí hợp lý được tính để xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp
bao gồm:
- Chi phí khấu hao tài sản cố định sử dụng cho hoạt động sản xuất,
kinh doanh đã tạo ra doanh thu trong kỳ theo chế độ hiện hành về quản lý,
sử dụng và tính khấu hao TSCĐ (Quyết định số 206/QĐ-BTC ngày
12/11/2003). Theo chế độ tài chính hiện hành, các doanh nghiệp có thể tính
khấu hao TSCĐ theo 3 phương pháp là khấu hao theo đường thẳng, khấu
hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh và khấu hao theo sản lượng. Tuy
nhiên, doanh nghiệp đã lựa chọn áp dụng phương pháp tính khấu hao nào
đối với một tài sản cố định cụ thể thì phải sử dụng thống nhất phương pháp
đó. Chế độ tài chính hiện hành cũng cho phép các doanh nghiệp có thể tính
khấu hao nhanh để tạo nguồn tài chính tái đầu tư TSCĐ, tuy nhiên vẫn phải
đảm bảo hoạt động kinh doanh có lãi.
9
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hoá thực
tế sử dụng vào sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ liên quan đến doanh
thu và thu nhập chịu thuế trong kỳ được tính theo mức tiêu hao hợp lý và
giá thực tế xuất kho. Giá thực tế xuất kho có thể xác định theo một trong
các phương pháp: nhập trước xuất trước; nhập sau xuất trước; giá đích
danh; bình quân; giá hạch toán; xác định trị giá tồn cuối kỳ theo giá mua
lần cuối
- Tiền lương, tiền công, phụ cấp, tiền ăn giữa ca trừ tiền lương, tiền
công của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ hộ cá thể kinh doanh và thu nhập
của sáng lập viên không trực tiếp tham gia vào điều hành sản xuất, kinh
doanh.
- Chi phí nghiên cứu khoa học, công nghệ, sáng kiến, cải tiến, y tế,
đào tạo lao động theo chế độ quy định, tài trợ cho giáo dục
- Chi phí dịch vụ mua ngoài như: điện, nước, điện thoại, sửa chữa tài
sản cố định.
- Các khoản chi cho lao động nữ theo quy định của pháp luật, chi bảo
hộ lao động.
- Chi trả lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh.
- Trích các khoản dự phòng theo quy định.
- Trợ cấp thôi việc cho người lao động.
- Chi phí về tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ.
- Chi phí quảng cáo, tiếp thị, có liên quan trực tiếp tới hoạt động sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và theo một mức khống chế nhất định
mà Bộ tài chính đã quy định.
- Các khoản thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất phải nộp.
- Chi phí quản lý kinh doanh do Công ty nước ngoài phân bổ cho cơ
sở thường trú tại Việt Nam.
- Chi phí mua hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh
không có hoá đơn, chứng từ do chính phủ quy định.
10
Các khoản chi phí sau đây không được tính vào chi phí hợp lý:
- Các khoản trích trước vào chi phí mà thực tế không chi.
- Các khoản chi không có chứng từ hoặc chứng từ không hợp pháp.
- Các khoản tiền phạt, các khoản chi không liên quan đến doanh thu
tính thuế và thu nhập chịu thuế.
- Các khoản chi do các nguồn vốn khác đài thọ.
Về thu nhập chịu thuế khác
Thu nhập chịu thuế khác là toàn bộ các khoản chênh lệch giữa doanh
thu hoạt động khác trong kỳ tính thuế. Đó là: chênh lệch mua, bán chứng
khoán, quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, thu nhập từ chuyển quyền sử
dụng đất, chuyển quyền thuê đất.
1.3.2.2 Thuế suất thuế TNDN
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 1999 quy định như sau:
- Thuế suất thuế TNDN phổ thông là 32% đối với các doanh nghiệp
trong nước.
- Thuế suất thuế thu nhập thông thường áp dụng đối với các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là 25%.Tuỳ theo mức độ
góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài vào vốn pháp định của doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài mà nhà đầu tư nước ngoài phải chịu thuế chuyển lợi
nhuận ra nước ngoài với thuế suất 3%, 5%, và 7%.
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi năm 2003 quy định thuế suất
như sau
- Thuế suất 28% đối với cơ sở kinh doanh.Bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra
nước ngoài đối với các cơ sở kinh doanh.Sự thay đổi này tạo nên sự bình
đẳng trong hoạt động sản xuất kinh doanh giữa doanh nghiệp trong nước và
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở kinh doanh tiến
hành tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác từ
11
28% đến 50% phù hợp với từng dự án, từng cơ sở kinh doanh.Thuế suất
cao như vậy vì đây là những ngành có lợi nhuận siêu ngạch,doanh thu thu
được trong một kỳ kinh doanh là rất lớn.
PHẦN 2: HOÀN THIỆN HOẠCH TOÁN THUẾ
THU NHẬP DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
3.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN HẠCH TOÁN THUẾ THU
NHẬP DOANH NGHIỆP
Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế đánh vào thu nhập chịu
thuế của các hoạt động kinh doanh.Hiện nay ở nước ta mặc dù loại thuế này
chỉ chiếm tỷ trọng từ 11-13% trong tổng thu về thuế hàng năm của Ngân
sách nhà nước,nhưng có xu hớng ngày càng tăng cùng với sự tăng trưởng
của nền kinh tế,đồng thời là công cụ quan trọng của nhà nước trong việc
điều tiết các hoạt động kinh doanh và góp phần thực hiện công bằng xã
12
hội.Mặt khác quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam diễn ra ngày càng sâu
sắc và toàn diện không chỉ trong lĩnh vực văn hoá, chính trị, kinh tế… nói
chung mà cả trong lĩnh vực về thuế. Theo cam kết từ tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế, Việt Nam sẽ phải cắt giảm mạnh một số thuế như thuế xuất
nhập khẩu. Điều này sẽ làm giảm mạnh nguồn thu Ngân sách Nhà nước.
Để bù đắp cho khoản thiếu hụt này, bên cạnh việc phát triển kinh tế trong
nước, cần có sự thay đổi, hoàn thiện một số sắc thuế khác ,trong đó có thuế
Thu nhập doanh nghiệp
3.2. NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ ĐIỀU KIỆN HOÀN THIỆN HẠCH
TOÁN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
Với mục tiêu như trên, việc hoàn thiện thuế TNDN phải đáp ứng được
các yêu cầu sau:
Thứ nhất, yêu cầu về tính hiệu quả tài chính. Việc sửa đổi thuế phải
đảm bảo nguồn thu cho TNDN, đảm bảo được nguồn lực tài chính, tăng thu
trên cơ sở mở rộng diện thu với mức thuế suất vừa phải và đơn giản vì thuế
suất cao quá hay thấp quá sẽ mất tác dụng của thuế. Đồng thời, ta cũng cần
loại bỏ các khoản thu thuế không hiệu quả, do chi phí để thu được thuế còn
lớn hơn cả số tiền thuế thu được.
Thứ hai, yêu cầu công bằng về mặt xã hội. Theo yêu cầu này, chính
sách thuế phải có tác dụng tích cực trong phân phối thu nhập, điều tiết thu
nhập hợp lý, tạo sự công bằng xã hội. Đồng thời, chính sách thuế phải bình
đẳng đối với các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư, chống tình trạng
trùng lặp trong thuế.
Thứ ba, thuế phải có tác dụng khuyến khích về mặt kinh tế, có tác
động thúc đẩy kinh tế phát triển. Chính sách thuế phải góp phần chuyển
dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, khuyến khích xuất khẩu, đông thời bảo hộ hợp
lý, có chọn lọc, có thời hạn đối với các ngành kinh tế, ngành công nghiệp
trọng điểm tạo nền tảng cho thực hiện CNH-HĐH.
13
Thứ tư, yêu cầu về tính đơn giản. Thuế TNDN nói riêng và các loại
thuế khác nói chung cần đơn giản cả về thuế suất, dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ
kiểm tra, dễ được đông đảo người nộp thuế chấp nhận.
Thứ năm, nâng cao hiệu lực pháp lý. Việc thưởng phạt, kỉ luật trong
thuế phải được áp dụng nghiêm minh, công bằng.
3.3. MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN HẠCH TOÁN
THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Bắt đầu từ ngày 01/ 01/ 2004 tất cả các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng nộp thuế TNDN áp dụng Luật
thuế TNDN mới thay thế cho Luật thuế TNDN ra ngày 10/ 05/1997. Thời
gian thực hiện mới chỉ ở bước đầu,vì vậy em xin đưa ra 1 số ý kiến đóng
góp hoàn thiện hạch toán thuế TNDN như sau:
3.3.1. Về hệ thống tài khoản kế toán hiện hành
Hiện nay hệ thống tài khoản để xác định chi phí theo chế độ kế toán
hiện hành không được thiết kế sát với các khoản chi phí hợp lý để tính thu
nhập chịu thuế.Vì vậy theo em chúng ta cần phải thiết kế một hệ thống tài
khoản mới phù hợp sát với các khoản chi phí hợp lý để giúp cho kế toán có
thể xác định được lợi nhuận kế toán một cách nhanh nhất cũng như giúp
cho cơ quan thuế có thể kiểm tra được dễ dàng các khoản chi phí hợp lý
của doanh nghiệp khi trừ đi để tính thu nhập chịu thuế,xem xét tính hợp
pháp hợp lệ của các khoản chi phí này ,tránh tình trạng cơ quan thuế khi
kiểm tra phải rà soát lại tất cả các chứng từ,hoá đơn của đơn vị.
3.3.2 Về vấn đề hoá đơn chứng từ
Để có thể giải quyết các vấn đề về phát hành và sử dụng hoá đơn hiện
nay chúng ta cần thực hiện tốt những việc sau:
Các cơ sở kinh doanh cần phải chấp hành nghiêm túc các quy định về
phát hành và sử dụng hoá đơn tài chính do các cơ quan chức năng ban
hành. Chức năng quản lý của nhà nước cũng cần phải được thể hiện rõ
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét