Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Pháp luật về cổ phần hóa Ngân hàng thương mại Nhà nước tại Việt Nam hiện nay

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
a. Hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam có qui mô nhỏ,
năng lực tài chính yếu; mức độ rủi ro cao, chất lượng tín dụng thấp; khả năng sinh
lời thấp; năng suất lao động thấp:
Lợi nhuận ròng của các ngân hàng thương mại nhà nước năm 1998 là 538,3
tỷ đồng, lợi nhuận năm 1999 là 645 tỷ đồng, lợi nhuận năm 2000 là 885,5 tỷ đồng.
Tuy nhiên, nếu tính đến những khoản nợ khoanh và nợ khó đòi thì thực tế hoạt động
kinh doanh của một số ngân hàng thương mại nhà nước là đang ở tình trạng thua lỗ.
Vốn tự có của các ngân hàng thương mại nhà nước rất nhỏ bé cả về số tuyệt
đối (5600 tỷ đồng) và tỷ trọng trên tổng tài sản có, tỷ lệ vốn tự có trên tài sản có:
1998 là 3,07%, 1999 là 3,12%, năm 2000 là 2,8%. Như vậy mức vốn tự có của các
ngân hàng thương mại nhà nước là hết sức nhỏ bé so với chuẩn mực quốc tế tối
thiểu là 8%.
Nợ quá hạn trên cân đối của các ngân hàng thương mại nhà nước năm 2000
chiếm 10,78% tổng dư nợ, trong đó ngân hàng ngoại thương là 19,47%, ngân hàng
công thương là 24,31%, ngân hàng đầu tư là 2,53%, ngân hàng nông nghiệp là
4,15%. Tính đầy đủ các khoản nợ chờ xử lý, nợ phải trả thay, nợ thanh toán công nợ
giai đoạn II đã lên lưới thì tổng số nợ xấu (nợ tồn đọng không sinh lời) lên đến
22.299 tỷ đồng, mức độ nợ xấu trên tổng dư nợ của các ngân hàng thương mại nhà
nước là đáng báo động. Mặt khác, việc xếp loại nợ quá hạn khó đòi của ta hiện nay
chủ yếu là dựa vào tiêu chí thời gian quá hạn mà chưa tính đến các tiêu chí khác
như nợ đang còn trong diện nợ trong hạn hoặc quá hạn thông thường nhưng thực tế
doanh nghiệp đã bị thua lỗ nặng, khả năng trả nợ rất thấp; như vậy nếu phân loại nợ
xấu theo tiêu chuẩn quốc tế thì thực trạng nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương
mại nhà nước sẽ còn cao hơn số liệu nêu trên (chiếm 25% tổng dư nợ hiện hành).
Hiện nay, mặc dù vốn điều lệ của các ngân hàng đã tăng mạnh so với trước
đây nhưng còn nhỏ bé so với thế giới và khu vực. Mức vốn tự có trung bình của một
ngân hàng thương mại Nhà nước là 4.200 tỷ đồng, tổng mức vốn tự có của 5 ngân
hàng thương mại Nhà nước chỉ tương đương với một ngân hàng cỡ trung bình trong
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
khu vực. Hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm đến trên 75% thị
trường huy động vốn đầu vào và trên 73% thị trường tín dụng.
Trong khi đó, hệ số an toàn vốn bình quân của các ngân hàng thương mại
Việt Nam thấp (dưới 5%), chưa đạt tỷ lệ theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước và
thông lệ quốc tế (8%). Chất lượng và hiệu quả sử dụng tài sản Có thấp (dưới 1%),
lại phải đối phó với rủi ro lệch kép là rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá.
Theo PGS.TS Lê Hoàng Nga, Học viện Ngân hàng, nếu trích lập đầy đủ
những khoản nợ khoanh và nợ khó đòi thì vốn tự có của nhiều ngân hàng thương
mại Việt Nam, nhất là ngân hàng thương mại Nhà nước, ở tình trạng âm.
Tiềm lực tài chính ( Bảng 1 ):
Bảng 1. Một số chỉ tiêu thể hiện tiềm lực tài chính của các ngân hàng thương
mại nhà nước
Chỉ tiêu
1
999
2
000
2
001
2
002
2
003
Tổng tài sản ( tỷ
VND)
1
79.629
2
39.584
2
99.352
3
78.961
4
70.315
Tốc độ tăng
trưởng(%)
2
5,55
3
3,38
2
4,95
2
6,59
2
4,11
Vốn tự có (VĐL và
quỹ BSVĐL)
7.
473
6.
673
7.
117
1
2.010
1
7.018
Tỷ lệ tăng vốn tự có 1
6%
-
11%
7
%
6
9%
4
2%
Hệ số CAR 5,
2%
3,
5%
3
%
4
%
4,
5%
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Tổng số vốn tự có bị
thiếu (tỷ VND)
4.
023
8.
660
1
2.042
1
1.244
1
3.082
Nguồn: Báo cáo ngân hàng nhà nước
Một trong những vấn để nan giải nhất của các ngân hàng thương mại nhà
nước hiện nay là vấn đề thiếu vốn. Bảng 1 cho thấy vốn tự có của các ngân hàng
thương mại nhà nước tăng một cách nhanh chóng và liên tục qua 2 năm 2002, 2003,
chủ yếu là do việc Chính phủ thực hiện cấp bổ sung vốn điều lệ. Mặc dù số vốn
được cấp là tương đối lớn, nhưng nếu tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định
tại Quyết định số 297/1999/QĐ-NHNN5 ngày 25/8/1999 thì các ngân hàng thương
mại nhà nước chỉ đạt được đạt tỷ lệ an toàn vốn bình quân là 5% (so với mức 2,8%
vào năm 2000), thấp xa so với tiêu chuẩn quốc tế (8%).
Bảng 2. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của các ngân hàng
thương mại nhà nước
Chỉ tiêu
1
999
2
000
2
001
2
002
2
003
Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ
1
4,74
1
1,19
8
,74
7
,58
5
,01
Lợi nhuận ròng/ Vốn tự
có(ROE)
8
,63
1
2,81
1
5,58
9
,43
6
,54
Lợi nhuận ròng/Tổng tài
sản có (ROA)
0
,36
0
,36
0
,38
0
,3
0
,38
Nguồn: Báo cáo ngân hàng nhà nước
Hiệu quả hoạt động ( Bảng 2 ):
Theo thông lệ quốc tế, các chỉ số của một ngân hàng được coi là hoạt động
tốt là: ROA≥ 1 %; ROE≥ 15 %.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
So sánh các chỉ số này với ngân hàng thương mại nhà nước, ta thấy:
Hiệu quả hoạt động thấp ( mức ROA bình quân 0,38%, bằng 1/3 so với mức
trung bình ). ROE liên tục giảm qua các năm 2001- 2003, do nợ xấu lớn và do việc
mở rộng hoạt động, chi phí quản lý tăng, trong khi chênh lệch lãi suất bình quân
giữa huy động và cho vay có xu hướng giảm.
Chỉ tiêu nợ quá hạn mặc dù liên tục giảm qua các năm và hiện ở mức thấp,
nhưng đây là nợ theo tiêu chuẩn VAS- tiêu chuẩn kế toán Việt Nam chứ chưa theo
IAS- tiêu chuẩn kế toán quốc tế.
b. Hệ thống dịch vụ còn đơn điệu, chất lượng chưa cao, chưa định
hướng theo nhu cầu khách hàng và nặng về dịch vụ ngân hàng truyền thống. Các
ngân hàng huy động vốn chủ yếu dưới dạng tiền gửi chiếm 94% tổng nguồn vốn
huy động và cấp tín dụng là hoạt động chủ yếu của ngân hàng, chiếm trên 80%
tổng thu nhập. Hoạt động ngân hàng dựa chủ yếu vào "độc canh" tín dụng, còn quá
ít các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, mức độ áp dụng công nghệ vào lĩnh vực hoạt
động ngân hàng còn thấp xa so với khu vực.
Trong tham luận gửi về hội thảo, TS. Lê Quốc Lý, Vụ trưởng Vụ Tài chính
tiền tệ, Bộ Kế hoạch Đầu tư, có viết: “Do không thể đa dạng hóa các loại hình dịch
vụ ngân hàng đã khiến các ngân hàng thương mại Việt Nam chủ yếu dựa vào công
cụ lãi suất để cạnh tranh thu hút khách hàng. Tuy nhiên, công cụ này cũng chỉ có tác
dụng ở mức giới hạn nhất định”.
Trong khi điểm mạnh của các ngân hàng nước ngoài là dịch vụ thì ngân hàng
trong nước vẫn chủ yếu là hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng vẫn
còn thiếu các định chế quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế như quản trị rủi ro, quản trị
tài sản nợ, tài sản có, nhóm khách hàng, loại sản phẩm, kiểm toán nội bộ.
Sự đơn điệu trong hoạt động dịch vụ khiến hệ thống ngân hàng quốc doanh
không tận dụng được lợi thế về mạng lưới, về khách hàng, về kênh phân phối và
công nghệ. Cũng chính vì sự đơn điệu nên giá thành dịch vụ của các ngân hàng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
quốc doanh khá cao so với các nước khu vực. Nếu như ở các nước phát triển, ngân
hàng thương mại thường là những tổ hợp Ngân hàng - tài chính kinh doanh đa
ngành nghề (tín dụng, thanh toán, bảo hiểm, chứng khoán ) thì các ngân hàng
thương mại Việt Nam vẫn xoay quanh các sản phẩm truyền thống như: Tín dụng,
bảo lãnh thanh toán. Một số dịch vụ mới ra đời nhưng vẫn ở mức nhỏ bé, chiếm tỷ
trọng thấp trong tổng doanh thu.
Một chuyên gia của Ngân hàng Thế giới cảnh báo: Nếu dịch vụ ngân hàng
không được cải tiến mạnh mẽ, hệ thống phân phối của ngân hàng trong nước sẽ mất
dần, nhất là khi sự phân biệt giữa tổ chức tín dụng trong nước và nước ngoài căn
bản được xóa vào năm 2010. Mặt khác với điều kiện hạ tầng kỹ thuật như hiện nay,
sẽ rất khó có các ngân hàng nội địa cạnh tranh được với ngân hàng nước ngoài về
mặt công nghệ. Một cuộc thăm dò ý kiến khách hàng gần đây cho biết: 45% số
khách hàng được hỏi, kể cả cá nhân và doanh nghiệp trả lời sẽ chuyển sang vay vốn
ngân hàng nước ngoài chứ không vay vốn của ngân hàng Việt Nam. Nguyên nhân
ngoài lý do chênh lệch lãi suất thì cơ bản là do chất lượng dịch vụ và thủ tục hành
chính quá rườm rà phức tạp.
c. Cơ cấu hệ thống tài chính mất cân đối, tình hình nợ xấu:
Tình hình nợ xấu vẫn có xu hướng giảm nhưng chưa chắc chắn, trong đó
đáng chú ý là các tổ chức tín dụng nhà nước. Một số nguyên nhân dẫn đến tình
trạng nợ quá hạn gia tăng tại các ngân hàng thương mại quốc doanh là do:
- Việc cho vay chủ yếu dựa vào tài sản đảm bảo, trong khi thị trường
bất động sản và thị trường hàng hóa chưa phát triển và còn nhiều biến động phức
tạp.
- Tự do hóa lãi suất có xu hướng làm cho mặt bằng lãi suất trong nước
tăng lên, tạo điều kiện thu hút thêm tiết kiệm vào hệ thống ngân hàng.
Tuy nhiên, lãi suất tiền gửi tăng lên làm cho lãi suất cho vay cũng tăng, tạo
thêm gánh nặng về chi phí cho các doanh nghiệp phụ thuộc nặng nề vào nguồn vay
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
từ ngân hàng. Hậu quả là, ngân hàng vẫn tiếp tục cho vay để nuôi nợ, dẫn đến tình
trạng mất vốn ngày càng lớn.
Một yếu điểm nữa của thị trường tài chính nước ta là, cơ cấu hệ thống tài
chính còn mất cân đối, hệ thống ngân hàng vẫn là kênh cung cấp vốn trung và dài
hạn cho nền kinh tế chủ yếu. Tính chung cả nội tệ và ngoại tệ, thì số vốn vay huy
động ngắn hạn chuyển cho vay trung và dài hạn chiếm tới khoảng 50% tổng số vốn
huy động ngắn hạn. Như một chuyên gia kinh tế đã nói, việc sử dụng vốn cho vay
trung và dài hạn ở nước ta hiện nay tới 50% là quá cao, nếu duy trì quá lâu sẽ là
yếu tố gây rủi ro lớn và có nguy cơ gây ra thiếu an toàn cho toàn bộ hệ thống.
d. Sự bất cập của cơ chế là nguyên nhân chính để các ngân hàng quốc
doanh khó lớn mạnh.
Trong môi trường cạnh tranh, đòi hỏi phải có những phản ứng nhanh nhưng
cơ chế của doanh nghiệp nhà nước còn quá nhiều thứ bất cập. Cơ chế tuyển dụng
cán bộ, quản lý tài chính, đầu tư thiết bị vẫn tồn tại từ hàng chục năm nay với quá
nhiều thủ tục và cửa ải, không thể cạnh tranh được với ngoài quốc doanh.
Ví dụ như : Quy trình bổ nhiệm, đề bạt, miễn nhiệm cán bộ hiện còn phải
qua quá nhiều vòng vẫn chưa có gì thay đổi. Theo đó, muốn bầu 1 Tổng giám đốc,
ứng viên đó phải thuộc diện quy hoạch, sau đó lấy ý kiến của các chi nhánh, đơn vị
trực thuộc, thông qua cấp ủy, hội đồng quản trị, ngân hàng nhà nước, Ban Nội
chính, Ban Tổ chức Chính phủ với gần 10 vòng. Nhưng đâu là người chịu trách
nhiệm cuối cùng về chất lượng cán bộ thì không quy định rõ. Trong khi đó, với một
ngân hàng cổ phần, chỉ cần đăng thông báo tuyển dụng, sàng lọc hồ sơ và hội đồng
quản trị phỏng vấn trực tiếp là có thể tìm kiếm được 1 giám đốc.
Mức lương, chính sách đãi ngộ cán bộ cũng là một vấn đề. Ông Vũ Viết
Ngoạn, Tổng giám đốc Vietcombank cho biết, trong những năm qua, Viecombank
liên tục có lãi, năm 2005, lãi ròng hơn 1.000 tỷ, tài chính lành mạnh nhưng việc đãi
ngộ nhân viên lại phải do nhà nước quy định. Nếu như ở ngân hàng cổ phần, lương
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tổng giám đốc không dưới 5 ngàn USD thì ở ngân hàng quốc doanh, chỉ được xấp
xỉ 10 triệu đồng. Cũng chính vì sự thiếu năng động trong chính sách đãi ngộ, nên
ngân hàng quốc doanh luôn đối mặt với nguy cơ chảy máu chất xám. Một số ít tâm
huyết với nghề, nín thở chờ đợi thời điểm biến thành ngân hàng cổ phần. Một số
khác, không đủ kiên nhẫn đã chia tay. Mỗi năm Vietcombank đã mất vài ba chục
cán bộ giỏi, riêng năm ngoái mất hơn 50 người cũng chỉ vì lý do thu nhập.
TS Nguyễn Văn Nam, cựu thành viên Ban nghiên cứu Thủ tướng cho rằng,
thói quen làm việc dưới các chính sách ưu đãi của Nhà nước, vì sự bất tài, hay thói
quen dựa vào sự lỏng lẻo của cơ chế quản lý nhà nước để dễ kiếm chác, trục lợi lại
thích được tiếp tục duy trì là doanh nghiệp quốc doanh, vừa ổn định, không mất ghế
mà vẫn kiếm được. Còn khi chuyển sang cơ chế cổ phần, năng lực công tác là một
sự cạnh tranh thực sự, và cơ chế tài chính cũng được giám sát chặt chẽ hơn bởi các
cổ đông. Đó cũng chính là lý do để hệ thống ngân hàng quốc doanh chậm chuyển
đổi.
e. Năng lực quản lý điều hành còn hạn chế
Mặc dù trong thời gian qua, công tác nâng cao năng lực quản trị điều hành
của ngân hàng thương mại nhà nước đã được tăng cường, nhưng hiện vẫn còn nhiều
tồn tại, đặc biệt là trong công tác quản trị rủi ro tín dụng, dẫn đến tỉ lệ nợ quá hạn có
chiều hướng gia tăng, chất lượng tín dụng chưa đồng đều. Các phần việc khác như:
Xây dựng định chế quản trị rủi ro, quản trị tài sản nợ, tài sản có, kiểm toán nội bộ
hiện mới bắt đầu triển khai với sự trợ giúp của các công ty tư vấn trong nước và
quốc tế. Hệ thống cơ chế khuyến khích bao gồm cơ chế lương, thưởng và xử phạt
hiện chưa thích hợp và chưa tạo được động lực. Bên cạnh đó, tính minh bạch thấp là
một tồn tại khiến cho công chúng và các nhà đầu tư trong và ngoài nước thiếu lòng
tin vào ngân hàng thương mại nhà nước.
Hội nhập kinh tế là một xu hướng tất yếu, do đó, cạnh tranh của một doanh
nghiệp không còn bó hẹp trong phạm vi giữa các doanh nghiệp hay phạm vi quốc
gia mà nó đã mở rộng phạm vi toàn thế giới. Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
IX của Đảng đã nêu rõ chủ trương của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc
tế, nhấn mạnh phương châm chủ động hội nhập với các nguyên tắc phát huy nội
lực, nâng cao hiệu quả hợp tác, giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ
nghĩa. Riêng đối với Ngành Ngân hàng, việc Việt Nam gia nhập Khu vực mậu dịch
tự do ASEAN (AFTA) và việc thực hiện Hiệp định Thương mại Việt- Mỹ sẽ mang
lại nhiều cơ hội cho các ngân hàng trong nước. Song, những thách thức từ những
quá trình này sẽ là rất lớn bởi các ngân hàng thương mại trong nước hiện tại đang
thể hiện khả năng cạnh tranh kém hơn so với các ngân hàng nước ngoài trên tất cả
các phương diện về năng lực tài chính, năng lực quản trị điều hành, kinh nghiệm
kinh doanh.
Vì vậy, các ngân hàng thương mại trong nước nói chung và các ngân hàng
thương mại nhà nước nói riêng không còn cách nào khác là phải tăng cường năng
lực tài chính cũng như khả năng cạnh tranh để đối mặt với những thách thức từ hội
nhập.
Vì vậy, cổ phần hóa là giải pháp để các ngân hàng thương mại nhà nước
khắc phục tất cả những yếu kém trên, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong
tiến trình hội nhập.
2. Sự cần thiết phải cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước:
Hoạt động ngân hàng, trong đó ngân hàng thương mại nhà nước với vai trò
chủ đạo đã có sự đóng góp rất lớn vào sự thành công trong sự nghiệp đổi mới đất
nước, đã triển khai thực hiện chính sách tiền tệ một cách tích cực, cơ bản ổn định
được giá trị và sức mua của đồng tiền, kìm chế lạm phát, tăng dự trữ ngoại tệ cho
quốc gia và góp phần tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nhìn chung vẫn chưa đáp ứng
kịp thời nhu cầu phát triển chung của nền kinh tế, chưa phát huy hết chức năng huy
động và sử dụng vốn có hiệu quả để làm cho kinh tế nhà nước thực sự đóng vai trò
chủ đạo.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Việc cổ phần hóa ngân hàng là một khâu trong quá trình đổi mới hoạt động
ngân hàng, củng cố và cơ cấu lại các ngân hàng thương mại theo hướng tiếp tục
phát huy thành tựu, khắc phục những tồn tại nhằm nâng cao năng lực tài chính, trình
độ công nghệ, năng lực tổ chức kinh doanh đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của
công cuộc đổi mới trong những năm tới.
Ngân hàng thương mại nhà nước đang đứng trước thực trạng nợ tồn đọng
lớn, vốn tự có quá thấp so với nhu cầu thực tiễn và so với các ngân hàng trên thế
giới, tình trạng này đang làm hạn chế khả năng huy động vốn và cho vay của hệ
thống ngân hàng.
Do yêu cầu của công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước cần phải có một khối
lượng vốn, vì vậy cần phải có ngân hàng thương mại đủ tiềm lực tài chính để thực
hiện phân phối và sử dụng vốn một cách hiệu quả. Chính vì vậy, đặt ra vấn đề cổ
phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước là rất cần thiết.
Quá trình thực hiện Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và chuẩn bị hội nhập vào
thị trường tài chính quốc tế với việc tự do hóa tài chính đã làm cho môi trường cạnh
tranh gay gắt hơn, đầy rủi ro hơn. Bối cảnh này đã đặt ra cho ngành ngân hàng cần
thiết phải cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước.
Với những yêu cầu hết sức cần thiết và bức xúc như đã nêu trên, đòi hỏi
trong hoạt động của ngân hàng Việt Nam phải có một ngân hàng với quy mô lớn,
năng lực tài chính mạnh trong khi các ngân hàng thương mại nhà nước cũng như
các ngân hàng thương mại cổ phần không thể đáp ứng được thì vấn đề cổ phần hóa
ngân hàng thương mại nhà nước là một yêu cầu cần thiết khách quan.
III. Cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước
1. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Là quá trình chuyển đổi từ chỗ chỉ có một chủ sở hữu thành doanh nghiệp có
nhiều chủ sở hữu ( công ty cổ phần ). Cổ phần hóa nói chung có thể diễn ra tại các
doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh và các
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
doanh nghiệp nhà nước. Cổ phần hóa là quá trình đa dạng hóa sở hữu tại doanh
nghiệp.
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp
nhà nước thành công ty cổ phần, trong đó nhà nước có thể vẫn giữ tư cách là một cổ
đông, tức là nhà nước vẫn có thể là chủ sở hữu một bộ phận tài sản của doanh
nghiệp. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước không chỉ là quá trình chuyển sở hữu
nhà nước sang sở hữu của các cổ đông, mà còn cả hình thức doanh nghiệp nhà nước
thu hút vốn thông qua hình thức bán cổ phiếu để trở thành công ty cổ phần.
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước liên quan chặt chẽ tới việc tôn trọng và
phát huy sở hữu cá nhân không chỉ trong chế độ tư bản chủ nghĩa mà cả trong chế
độ xã hội chủ nghĩa. Người lao động trong công ty cổ phần sẽ vừa là người làm thuê
vừa là cổ đông nên có quan hệ lợi ích chặt chẽ với doanh nghiệp, còn trong doanh
nghiệp nhà nước chủ sở hữu là nhà nước, chung chung, mơ hồ, không gắn quyền sở
hữu với quyền sử dụng.
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một cuộc cách mạng triệt để thay đổi
cách tổ chức hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp, thay đổi cơ bản mối quan hệ
doanh nghiệp với nhà nước và tạo điều kiện cho doanh nghiệp thích ứng với hoạt
động cạnh tranh trong cơ chế thị trường.
Công ty cổ phần là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất xã hội hóa và nền kinh
tế thị trường phát triển. Việc chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ
phần là do tính xã hội hóa của sản xuất, do quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị
trường quyết định và thúc đẩy, đó là quá trình khách quan, không phải do ý muốn
chủ quan của bất kì thể chế chính trị hay cá nhân nào.
2. Cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước :
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nói chung, ngân hàng thương mại nhà
nước nói riêng là xu thế tất yếu của quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội
nhập. Nó không chỉ là quá trình đa sở hữu và hữu danh hoá quyền sở hữu, mà còn là
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét