Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

DU LỊCH VÀ NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN

tham gia du lịch ở châu Âu và châu Mỹ khoảng từ 50 – 60 triệu
Chiến tranh thế giới thứ hai làm cho hoạt động du lịch gần như ngừng trệ.
Sau những năm khôi phục nền kinh tế xội hội bị tàn phá,từ thập kỷ sáu mươi du lịch đã dần
dần phát triển với tốc độ nhanh. Sự phát triển của kinh tế thế giới đã tạo điều kiện cho nhân
loại mở rộng và tăng cường các hoạt động du lịch. Đồng thời, các dịch vụ du lịch cũng
ngày càng mở rộng và nâng cao về quy môvà chất lượng. Hàng loạt hãng du lịch ra đời ở
các quốc gia, các châu lục trên toàn thế giới với sự liên kết ngày càng đa dạng. Ngày
02/01/1975 Tổ Chức Du Lịch Thế Giới (WTO) đã được thành lập,và là tổ chức quốc tế về
du lịch lớn nhất liên kết các hoạt động du lịch của hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Trong gần hai thập kỷ qua,cách mạng khoa học kỹ thuật đã đưa tới những thành tựu kỳ
diệu cho nhân loại. Việc cơ giới hoá, tự động hoá kỹ thuật tin học ngày càng phát triển đã
đem lại năng xuất lao động tăng cao, mức sống ngày càng tốt hơn và thời gian nhàn rỗi của
người lao động cũng nhiều hơn. Do đó,các chuyến du lịch cũng tăng lên rất nhanh cả về
dòng du khách cũng như độ dài của chuyến du lịch cùng với các dịch vụ du lịch ngày càng
hoàn thiện. Giai đoạn này được một số nhà nghiên cứu gọi là giai đoạn “bành trướng du
lịch”. Du lịch và hoạt động kinh doanh du lịch đã và đang trở thành hiện tượng kinh tế – xã
hội phổ biến, thành ngành kinh tế mũi nhọn của một số nước, ngành “ công nghiệp không
khói”.
Lượng khách du lịch tăng lên nhanh chóng. Năm 1950, cả thế giới có 25 triệu lượt khách
du lịch, đến năm 1995 đã có 567 triệu lượt khách. Các nhà kinh tế dự báo đến năm 2000
lượng khách du lịch sẽ tăng tới khoảng 600 triệu lượt.
Cùng với việc tăng lượng khách, nguồn ngoại tệ thu được từ du lịch cũng tăng lên hàng
trăm lần từ sau chiến tranh thế giới thế 2 đến nay. Điều đó cho thấy nhu cầu du lcịh và khả
năng thanh toán của khách ngày càng cao và các dịch vụ du lịch cũng nagỳ càng đa dạng
hoá, đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển du lịch nói riêng và sự phát triển kinh tế – xã hội nói
chung.
Cùng với việc phát triển du lịch, các tổ chức quốc tế và khu vực về du lịch và dịch vụ du
lịch cũng ra đời, đã tăng cường khả năng liên kết của ngành kinh tế đặc biệt này. Xu hướng
quốc tế hoá du lịch đòi hỏi sự phối hợp giữa các hãng, các công ty du lịch trên phạm vi
toàn thế giới.
Hiện nay, trên thế giới diễn ra những thay đổi quan trọng như hướng đi của các dòng du
khách,mà nét nổi bật là xu hướng tới các nước đang phát triển và mới phát triển với loại
hình du lịch văn hoá và du lịch môi trường sinh thái. Các nước ở vùng châu Á – Thái Bình
Dương đang là những nước giữa vai trò du lịch quốc tế chủ động. Mặc khác, cơ cấu chi
tiêu của khách du lịch cũng thuy đổi theo từng giai đoạn, mà nét nổi bật mà tỷ trọng chi
tiêu của khách du lịch trong các dịch vụ cơ bản (lưu trú,vận chuyển, ăn uống) có xu hướng
giảm trong khi tỷ trọng chi tiêu của khách cho các dịch vụ bổ sung(mua sắm, giải trí, tham
quan…) có xu hướng tăng lên. Một xu hướng nữa là việc sử dụng các dịch vụ du lịch trọn
gói ngày càng ít hơn cùng với việc bớt giảm các thủ tục về xuất nhập khẩu hải quan. Khách
du lịch ngày càng chủ động hơn trong việc lựa chon dịch vụ cho mình,kể cả dịch vụ hướng
dẫn du lịch.
Ở Việt Nam,đi du lịch cũng là nhu cầu từ xa xưa,và các thế hệ người Việt Nam cũng đã có
những chuyến du lịch nổi danh trong lịch sử. Khách du lịch từ đất Việt ra đi chủ yếu thuộc
các tầng lớp trên hoặc thương gia, nhà khoa học, nhà tu hành… Mặc khác, nhiều khách du
lịch nước ngoài cũng có làm những chuyến lữ hành đến Việt Nam. Tuy vậy ngành du lịch
Việt Nam hiện nay có tuổi chưa phải cao nếu kể từ ngày thành lập vào 9/7/1960 theo Nghị
định 26/CP của Chính Phủ. Từ Công Ty Du Lịch Việt Nam ngày ấy đến Tổng cục Du Lịch
Việt Nam bề thế hiện nay, ngành du lịch Việt Nam đã trải qua bao thăng trầm và đã từng
bước trưởng thành. Trong thời kỳ đổi mới và mở cửa nền kinh tế – xã hội, du lịch Việt
Nam cũng có những đóng góp xứng đáng vào sự phát triển nhiều mặt của đất nước. Hiện
nay cả nước có tới hơn 800 doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (không kể các hộ
tư nhân) thamgia vào việc kinh doanh khách sạn và các dịch vụ du lịch, có hơn 254 công ty
lữ hành nội địa và 78 công ty lữ hành quốc tế. Riêng trong lĩnh vực hướng dẫn du
lịch,Tổng cục Du Lịch Việt Nam đã cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch cho gần 3000 người.
Các đơn vị kinh doanh du lịch của Việt Nam đã có mối liên kết,hợp tác với hơn 1000 hãng
công ty Du Lịch từ 60 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Ngành Du Lịch Việt Nam là thành
viên của tổ chức Du Lịch Thế Giới ( WTO) từ tháng 9/1981, thành viên của Hiệp Hôi Du
Lịch châu Á – Thái Bình Dương (PATA) từ 1989, thành viên của Hiệp Hội Du Lịch Đông
Nam Á (ASEANTA) từ 1995…
Trong định hướng phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam,du lịch được coi là một trong
những ngành có tầm quan trọng và có ý nghĩa to lớn. Việt Nam vồn giàu tài nguyên du lịch
và đang từng bước khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên ấy. Loại hình du lịch văn hoá, du
lịch môi trường sinh thái được xác định là quna trọng nhất trong phát triển du lịch Việt
Nam, sức hấp dẫn và khả năng thực hiện các hoạt động du lịch theo định hướng ấy ngày
nay đang được quan tâm.
Với mục tiêu vào năm 2000,Việt Nam sẽ đón tiếp và phục vụ từ 3,5 đến 3,8 triệu lượt
khách du lịch quốc tế và đến năm 2010 sẽ là 9 triệu lượt khách quốc tế; số khách du lịch
nội địa sẽ là 11 triệu lượt vào năm 2000 và 25 triệu lượt vào năm 2010. Để thực hiện được
mục tiêu ấy,Việt Nam phải nổ lực rất lớn. Dự kiến với lượng khách ấy,doanh thu từ du lịch
quốc tế sẽ đạt 2,6 tỷ USD vào năm 2000,và 11,8 tỷ USD vào năm 2010. Đó là con số có ý
nghĩa khẳng định thế mạnh của du lịch trong tương lai. Những biện pháp để thúc đẩy sự
phát triển của du lịch Việt Nam đang được đặt ra vừa cấp thiết vừa lâu dài, nhằm cụ thể
hoá đường lối của Đảng được đề ra trong Đại hội lần thứ VIII là:
“ Triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể du lịch Việt Nam tương xứng với tiềm năng du
lịch của đất nước theo hướng du lịch văn hoá, sinh thái môi trường. Xây dựng các chương
trình và điểm du lịch hấp dẫn về văn hoá, di tích lịch sử và khu danh lam thắng cảnh. Huy
động nguồn nhân lực của nhân dân tham gia kinh doanh du lịch, ưu tiên xây dựng cơ sở hạ
tầng ở những kgu vực du lịch tập trung,ở các trung tâm lớn. Nâng cao trình độ văn hoá và
chất lượng dịch vụ với các loại khách khác nhau. Đẩy mạnh việc huy động vốn trong nước
đầu từ vào khách sạn. Cổ phẩn hoá một số khách sạn hiện có để huy động các nguồn vốn
vào việc đầu tư, cải tạo nâng cấp,liên doanh với nước ngoài, xây dựng các khu du lịch và
các khách sạn lớn , chất lượng,đòi hỏi nhiều vốn. Chuyển các nhà nghỉ, nhà khách từ cơ
chế bao cấp sang kinh doanh khách sạn và du lịch”
Thực hiện đường lối của Đảng, Nhà nước ta đã có những văn bản chỉ đạo hoạt động du
lịch khoa học, thực tiễn và có hiệu quả từ đại hội Đảng lần thứ VIII đến nay. Pháp lệnh du
lịch Việt Nam được ban hành ngày 20/2/99 đã đi vào cuộc sống, tạo điều kiện thuận lợi
cho du lịch Việt Nam trong những năm tới mà trước tiên là những sự kiện du lịch Việt
Nam năm 2000. Với mục tiêu: Việt Nam – điểm đến của thiên niên kỷ mới,du lịch Việt
Nam đang chuẩn bị những điều kiện cả trước mắt cũng như lâu dài để đón và phục vụ
khách du lịch gần xa. Một trong những điều kiện ấy là đào tạo nhân lực cho hoạt động du
lịch, trong đó có đào tạo hướng dẫn viên – những người được ví như sứ giả, người đại diện
đón và phục vụ khách du lịch.
Từ đường lối ấy và từ những biện pháp thích hợp,du lịch Việt Nam đnag chuyển mình,đón
kịp xu thế quốc tế và sự phát triển chung của đất nước. Việc đào tạo nguồn nhân lực cho
ngành du lịch đang là đòi hỏi khách quan trong đó có việc trang bị kiến thức về nghiệp vụ
hướng dẫn du lịch.
2. Vị trí của hoạt động hướng dẫn du lịch
Trong lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển của du lịch,buổi ban đầu, hướng
dẫn du lịch chưa hình thành đồng thời. Khách du lịch chủ yếu tự tìm hiểu để
thoả mãn những nhu cầu của chuyến đi theo mục tiêu đã định. Sau đó,
thường là tại các điểm du lịch những người địa phương đảm nhiệm vai trò
giới thiệu cho khách từ những hiểu biết của mình. Cùng với thời gian, dòng
du khách lớn lên kéo theo sự đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh dịch vụ
du lịch. Hoạt động hướng dẫn du lịch cũng ra đời,ngày càng có vị trí quan
trọng và cần thiết trong kinh doanh du lịch nói chung. Hoạt động này từ chỗ
là hoạt động kết hợp của những chủ dịch vụ,những nhà khoa học hoặc những
người có hiểu biết cụthể về một hay nhiều lĩnh vực nhất định, về một hay
nhiều đối tượng tham quan tại điểm du lịch nhất định được thuê mướn đến
chỗ trở thành hoạt động đặc trưng của ngành du lịch. Hướng dẫn viên du lịch
ra đời từ đòi hỏi khách quan, đòi hỏi nghề nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu
cầu hiểu biết của du khách. Thông thường, hướng dẫn du lịch để thoả mãn
những nhu cầu chủ yếu của khách du lịch,mà vì những nhu cầu đó họ sử
dụng thời gian rảnh rỗi và tiền bạc cho nó.
Chẳng hạn, từ vùng này sang vùng khác trong một quốc gia hày từ quốc gia
này tới một hay nhiều quốc gia khác,khách du lịch hầu như chưa có hiểu biết
gì hay hiểu biết sơ sài qua giới thiệu của người khác, qua quảng cáo, qua
sách báo…về những đối tượng muốn tìm hiểu,những nhu cần được thoả
mãn. Hoạt động hướng dẫn du lịch chính là đáp ứng những nhu cầu ấy một
cách trực tiếp, sinh động và đa dạng trong chuyến du lịch của khách.
Hoạt động hướng dẫn du lịch còn góp phần rất quan trọng vào kinh doanh
du lịch nói chung. Thông qua hoạt động hướng dẫn, các dịch vụ du lịch cơ
bản như dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vận chuyển được thực hiện
chu đáo hơn, phong phú hơn do có sự phối hợp của hướng dẫn viên. Những
nhu cầu của khách du lịch về các dịch vụ này thường được đáp ứng chính
xác, nhanh chóng, đầy đủ hơn. Ngoài ra, từ hoạt động hướng dẫn du lịch,
khách du lịch, cũng góp phần làm cho các dịch vụ bổ sung thêm sôi động.
Bởi lẽ, qua các hướng dẫn viên du lịch các cơ sở kinh doanh du lịch sẽ nắm
bắt thị hiếu, tâm lý, đặc tính và cả tình trạng sức khoẻ…của khách du lịch để
kịp thời có những điều chỉnh đáp ứng tốt hơn cho khách và do đó, dịch vụ du
lịch sẽ phát triển hơn, doanh thu sẽ cao hơn.
Các tổ chức kinh doanh du lịch hiện nay nói chung đều có hoạt động hướng
dẫn du lịch. Các tổ chức kinh doanh lữ hành quốc tế và lữ hành nội địa càng
cần thiết có hoạt động hướng dẫn du lịch. Việc thiết kế tours, bán tours,
quảng cáo,tiếp thị mô giới trung gian… phải gắn với yêu cầu hướng dẫn du
lịch. Vì vậy, hoạt động hướng dẫn du lịch được thực hiện tốt hay không sẽ
góp phần rất cơ bản vào việc bán tours, vào kinh doanh du lịch tại các tổ
chức này và nói chung vào các hoạt động du lịch.
Hoạt động hướng dẫn du lịch không chỉ thoả mãn những nhu cầu của khách
du lịch theo mục đích của chuyến du lịch,của loại hình du lịch họ lựa chọn,
của những đối tượng mà họ cần tìm hiểu, cần sử dụng mà còn góp phần giải
quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình du lịch của họ. Có rất nhiều
vấn đề với nhiều tình huống khác nhau xảy ra trong quá trình thực hiện các
chuyến du lịch của khách tại nơi làm thủ tục xuất nhập cảnh,nơi lưu trú,nơi
nghỉ dưỡng,chữa bệnh, lúc ăn uống, trên phương tiên vận chuyển qua các
vùng, tại điểm du lịch…mà khách du lịch cần tới hoạt động hướng dẫn giúp
khách. Và cũng chính từ những đòi hỏi đó – vốn ngày càng trở nên quen
thuộc trong du lịch – hoạt động hướng dẫn du lịch càng có vị trí không thể
thiếu trong toàn bộ hoạt động kinh doanh du lịch.
Tóm lại, hoạt động hướng dẫn du lịch ra đời sau quá trình tham quan du lịch
trong lịch sử của ngành nhưng đã có vị trí quan trọng trong hoạt động kinh
doanh du lịch. Hoạt động hướng dẫn du lịch đã và luôn là một loại dịch vụ
rất cơ bản và là dịch vụ đặc trưng của du lịch. Hoạt động hướng dẫn du lịch
là một trong những nhân tố thúc đẩy sự phát triển của du lịch và góp phần to
lớn vào doanh thu từ du lịch.
Với sự bùng nổ của thông tin và sự phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật tin
học,hoạt động hướng dẫn du lịch có được sự trợ giúp của nhiều yếu tố nên
thuận lợi hơn, đặc biệt là các thông tin tới khách du lịch. Song, hoạt động
hướng dẫn du lịch vẫn rất cần thiết và đòi hỏi nghiệp vụ hướng dẫn ngày
càng cao hơn.
II- NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1. Hướng dẫn du lịch và những hoạt động chủ yếu
Hướng dẫn du lịch là hoạt động nhằm thoả mãn những nhu cầu nhất định
của khách du lịch trong quá trình thực hiện chuyến du lịch.
Hoạt động hướng dẫn du lịch là hoạt động của các tổ chức kinh doanh du
lịch, đảm bảo cho việc phục vụ khách du lịch được chu đáo, có kế hoạch,có
tổ chức. Hoạt động này cung cấp cho khách du lịch các kiến thức,các thông
tin cần thiết và khác nhau,liên quan tới mục đích của chuyến du lịch,loại
hình du lịch mà khách du lịch lựa chọn.
Hoạt động hướng dẫn du lịch là một hoạt động phức tạp bao gồm các mặt
như cung cấp các thông tin cho quảng cáo,tiếp thị du lịch, đón tiếp khách và
phục vụ khách; giới thiệu các đối tượng tham quan du lịch trong chuyến du
lịch (cả trên lộ trình và ở điểm du lịch); phục vụ khách về các dịch vụ lưu
trú, ăn uống, vận chuyển, mua sắm, giải trí, y tế… Những vấn đề phát sinh
trước, trong và chuyến du lịch của khách cũng có sự tham gia của hoạt động
hướng dẫn.
Do đó, hoạt động hướng dẫn du lịch là một loại dịch vụ đặc trưng của hoạt
động du lịch nói chung, và do các tổ chức du lịch tiến hành. Đó là công
ty,hãng,trung tâm, xí nghiệp, phòng du lịch, đại lý du lịch…Bằng hoạt động
hướng dẫn,các tổ chức kinh doanh du lịch sau khi đã có hợp đồng,thoả thuận
đảm bảo phục vụ khách du lịch, thoả mãn nhu cầu khách đòi hỏi theo
chương trình nhất định. Hoạt động này cuốn hút các bộ phận chức
năng,nghiệp vụ có liên quan tới các mặt công tác khác nhau song chủ yếu
vẫn là thông qua các hướng dẫn viên du lịch. Phần lớn các hoạt động hướng
dẫn du lịch được thực hiện bởi hướng dẫn viên. Chất lượng phục vụ hướng
dẫn du lịch cho khách phụ thuộc chủ yếu vào khả năng,nghiệp vụ, tri thức,
phẩm hạnh của hướng dẫn viên du lịch mặc dù sự tham gia của các bộ phận
tham gia của các bộ phận liên quan là không thể thiếu,dù trực tiếp hay gián
tiếp. Chỉ từng hướng dẫn viên du lịch thì không thể thực hiện được hàng loạt
công việc liên quan tới hoạt động hướng dẫn du lịch,tổ chức hoạt động của
hướng dẫn viên,phối hợp hoạt động giữa các hướng dẫn viên,thu thập thông
tin và xây dựng chương trình hướng dẫn, chuẩn bị các điều kiện cho hoạt
động hướng dẫn,giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện
hướng dẫn du lịch.
Do đó, hoạt động hướng dẫn du lịch có thể hiểu là:
Hướng dẫn du lịch là hoạt động của các tổ chức kinh doanh du lịch, thông
qua các hướng dẫn viên và những người có liên quan để đón tiếp, phục vụ,
hướng dẫn khách du lịch thực hiện các dịch vụ theo các chương trình được
thoả thuận và giúp đỡ khách giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá
trình thực hiện chuyến du lịch.
Khái niệm trên đây đã chỉ rõ những hoạt động chủ yếu của hướng dẫn du
lịch mà vai trò quan trọng nhất là của hướng dẫn viên, những người thay mặt
cho tổ chức kinh doanh du lịch thực hiện các hợp đồng giữa đơn vị mình và
khách du lịch. Các hoạt động hướng dẫn du lịch bao gồm nhiều mặt công tác
và đòi hỏi về nghiệp vụ tuy mức độ không giống nhau. Nhưng những hoạt
động sau đây là không thể thiếu:
Trước hết là việc tổ chức đón khách và tiễn khách du lịch, sắp xếp nơi nghỉ
lưu trú và ăn uống cho khách, tổ chức chuyến tham quan du lịch đến những
nơi có tài nguyên du lịch được khai thác, sắp xếp các chương trình vui chơi
giải trí, mua sắm cho khách du lịch. Hoạt động này có vai trò của hướng dẫn
viên du lịch và sự tham gia của các bộ phận chức năng liên quan. Hoạt động
này của hướng dẫn viên du lịch káhc với những hướng dẫn viên của các lĩnh
vực nghề nghiệp khác (hướng dẫn viên tại các di tích lịch sử – văn hoá,bảo
tàng, hướng dẫn viên địa chất, hướng dẫn viên giao thông…)
Hoạt động cung cấp thông tin cũng là một hoạt động bắt buộc nhằm giúp
khách du lịch có được những hiểu biết cần thiết từ các quy định về xuất nhập
cảnh, các thủ tục, tập quán, các quy chế về hoạt động tham quan,chương
trình an ninh cho đến những thông tin về đất nước, con người, cảnh quan,
các giá trị văn hoá – lịch sử, kinh tế – xã hội, các đối tượng tham quan…theo
mục đích chuyến du lịch của khách đã được thoả thuận hay phát sinh trong
chuyến du lịch. Hoạt động này được coi là hoạt động chủ yếu nhất của
hướng dẫn du lịch, phục vụ đắc lực nhất cho nhu cầu của khách du lịch mà
vì đó, họ tiêu tiền và sử dụng thời gian rảnh rỗi.
Hoạt động theo dõi,kiểm tra việc phục vụ khách du lịch của các cơ sở kinh
doanh dịch vụ du lịch – gồm cả dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ sung – cũng rất
cần thiết. Thông thường, việc phục khách du lịch đã được thoả thuận
(thường là bằng hợp đồng, nhất là theo tours). Song việc kiểm tra sẽ bảo
đảm cho khách được phục vụ đúng,đủ (cả số lượng, chất lượng, chủng loại)
các dịch vụ như đã mua. Khách du lịch sẽ yên tâm và thoải mái hơn khi có
sự theo dõi kiểm tra của hướng dẫn viên hay nhân viên của công ty du lịch
đảm nhiệm vai trò hướng dẫn.
Ngoài ra, hoạt động hướng dẫn còn thực hiện việc làm cầu nối giữa các cơ
sở kinh doanh du lịch với khách du lịch nhằm cung cấp những dịch vụ du
lịch đúng vơi sở thích,tâm lý,túi tiền của khách. Việc phối hợp hoạt động
giữa các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch nếu có sự tham gia của hướng dẫn
viên sẽ tạo thêm cơ sở thực tiễn choviệc thoả mãnnhu cầu của khách một
cách đầy đủ nhất. Trong những điều kiện nhất định hoạt động hướng dẫn du
lịch trở thành động lực cho các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác phục vụ
khách du lịch.
Một số hoạt động thông thường có thể hoặc không nhất thiết nằm trong
phạm vi hướng dẫn du lịch, không trở thành nhiệm vụ bắt buộc của hướng
dẫn viên như thanh toán, đổi tiền, đặt chỗ, thị thực, quảng cáo…Tuy vậy
những hoạt động này nếu được thực hiện hay phối hợp thực hiện một cách
đồng bộ,nhanh chóng do hướng dẫn viên hay các bộ phận chức năng của tổ
chức kinh doanh du lịch đảm nhiệm thì hoạt động hướng dẫn sẽ chu đáo
hơn,hiệu quả hơn.
2. Hướng dẫn viên du lịch
a. Quan niệm nghề nghiệp
Trước hết phải thấy rằng, hoạt động hướng dẫn du lịch bao gồm một số mặt
công tác và không chỉ do hướng dẫn viên đảm nhiệm, song hoạt động này có
hiệu quả đến mức nào phụ thuộc rất lớn vào hoạt động của hướng dẫn viên
du lịch.
Từ những hoạt động nghiệp dư, kiêm nhiệm, hướng dẫn du lịch đã trở thành
một nghề như nhiều nghề khác trong xã hội. Song điều đáng chú ý là nghề
hướng dẫn du lịch thể hiện sự chuyên biệt hoá rất cao trong các loại hình lao
động ở ngành du lịch.
Trong quá trình hình thành gnhềnghiệp với yêu cầy nghiệp vụ rất rất riêng
biệt đòi hỏi cao về nghề, đã có những quan niệm khác nhau về nghề nghiệp
của hướng dẫn viên du lịch. Những quan niệm này thường bắt nguồn từ
những hiện tượng không đầy đủ,hình thức …của hoạt động hướng dẫn du
lịch mà người hướng dẫn thực hiện. Chẳng hạn, đã từng có quan niệm được
lưu truyền (không thành văn) cả trong và ngoài ngành du lịch rằng hướng
dẫn viên du lịch chỉ cần có ngoại ngữ để làm nhiệm vụ của người phiên dịch
cho khách du lịch là người nước ngoài. Hướng dẫn viên du lịch cũng được ví
như nghề ngoại giao.
Một quan niệm khác cho rằng hướng dẫn viên du lịch phải là người có tài
nói năng, tức là phải lợi khẩu, lém lỉnh mới có thể trình bầy không cần giấy
tờ trước khách du lịch phần lớn là mới gặp lần đầu (có lẽ vì điều đó mà
người ta thường nói vui “môi cá chép, mép hưỡng dẫn” hay “mép cá
trôi,môi hướng dẫn”).
Quan niệm nghề nghiệp khá phổ biến từ những người ngoài cuộc cho rằng
hướng dẫn viên du lịch phải là những người có ngoại hình cân đối,ưa
nhìn,duyên dáng, xinh đẹp…mới có sức thu hút khách du lịch.
Những quan niệm này đều đúng từ những khía cạnh nhất định nhưng chưa
chính xác và không đầy đủ nếu xét một cách toàn diện cả về nội dung công
việc và những yêu cầu cơ bản của hướng dẫn viên du lịch. Quan niệm về sự
nhàn hạ, sung sướng thông thường cũng không phải không có trong xã
hộihiện nay nếu xét tương quan với một số nghề nghiệp khác. Song thực tế
lại không phải như vậy.
Thực tế là hướng dẫn viên du lịch có sức hấp dẫn nhất định. Đó là người
được trả tiền cao để thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn cho khách du lịch. Càng
vất vả, nguy hiểm, dài ngày,tiền công càng cao. Ngoài tiền công, hướng dẫn
viên còn được tiền thưởng của khách du lịch nếu khách hàng hài lòng về
công việc của hướng dẫn viên (tiền “tip”, “pourboire”). Hướng dẫn viên là
người được đi đến nhiều nơi kỳ thú, độc đáo, thưởng thức những sản phẩm
của nhiều miền với thời gian khác nhau. Hướng dẫn viên du lịch cũng là
người luôn được chú ý của nhiều đối tượng khách khác nhau, trở thành trung
tâm của các chuyến du lịch, có kiến thức sâu về một số lĩnh vực và rộng về
nhiều lĩnh vực. Họ cũng như những hướng dẫn viên của một số ngành khác
đòi hỏi một tác phong, thái độ nghề nghiệp, tạo nên sự trẻ trung trong tâm
tính và hành vi như một nghệ sĩ diễn xuất. Mặc khác, hướng dẫn viên du lịch
do yêu cầu lao động và đặc điểmnghề nghiệp,tích luỹ được tri thức và kinh
ngiệm nên thường có điều kiện trưởng thành cả về phương diện khoa học và
cương vị xã hội.
Song, hướng dẫn viên du lịch cũng gặp những khó khăn từ chính nghề
nghiệp đòi hỏi. Do phải đi nhiều, tiếp xúc nhiều, họ cần phải tạo được sự
cảm thông từ nhiều phía hoặc ít nhất từ phía gia đình nhỏ (chồng hoặc vợ,
con cái). Nếu không giải quyết hài hoà giữa yêu cầu nghề nghiệp với quan
hệ gia đình sẽ dẫn tới sự triệt tiêu một vế. Nghề nghiệp đòi hỏi hướng dẫn
viên những chuyến đi không định trước hay không thể thông tin vào những
thời gian cố định những địa điểm cố định…cũng là một trở ngại không nhỏ.
Những yêu cầu nghề nghiệp đôi khi cũng là những ràng buộc hướng dẫn
viên,tạo nên thói quen mà người ngoài nghề có thể không chấp nhận.
Tất cả các ưu thế và hạn chế có thực đó cho thấy quan niệm nghề nghiệp của
hướng dẫn viên du lịch cần được hiểu một cách toàn diện.
b. Khái niệm và phân loại
Đã có nhiều định nghĩa,nhiều khái niệm về hướng dẫn viên du lịch được đưa
ra. Trải qua thực tế tồn tại và phát triển của ngành du lịch, khái niệm đó
ngày càng được hoàn thiện và chính xác hơn, phù hợp với thực tế và bản
chất công việc hướng dẫn du lịch.
Trường Đại Học British Columbia của Canađa,một địa chỉ đào tạo nhân lực
du lịch có uy tín lớn đã đưa ra khái niệm được nhiều người chấp nhận:
“ Hướng dẫn viên du lịch là các cá nhân làm việc trên các tuyến du lịch trực
tiếp đi kèm hoặc di chuyển cùng với các cá nhân hoặc các đoàn khách theo
một chương trình du lịch nhằm đảm bảo việc thực hiện lịch trình theo đúng
kế hoạch, thuyết minh cho khách về các điểm du lịch đồng thời tạo ra những
ấn tượng tích cực cho khách du lịch”
Năm 1994,Tổng cục du lịch Việt Nam đưa ra khái niệm hướng dẫn viên du
lịch như sau:
“Hướng dẫn viên du lịch là cán bộ chuyên môn làm việc cho các doanh
nghiệp lữ hành (bao gồm các doanh nghiệp du lịch khác có chức năng kinh
doanh lữ hành) thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn du lịch khách tham quan theo
chương trình du lịch đã được ký kết”.
(Qui chế hướng dẫn viên du lịch – Ban hành theo quyết định số 235/DL –
HTĐT ngày 04 tháng 10 năm 1994 của Tổng cục trưởng Tổng cục Du Lịch).
Năm 1997, đã có tác giả Việt Nam đưa ra khái niệm “Hướng dẫn viên du
lịch là một người nào đó hướng dẫn một nhóm người thực hiện chuyến tham
quan trong một thời gian nhất định”
( Tổng cục Du Lịch: Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch – Tài liệu bồi dưỡng
hướng dẫn viên du lịch – Lưu hành nội bộ – Hà Nội 1997 trang 48)
Những khái niệm trên đã phản ánh nội dung công việc của một hướng dẫn
viên du lịch. Tuy nhiên theo chúng tôi,chưa phản ánh đầy đủ khái niệm
hướng dẫn viên du lịch và chưa phân biệt được với những hướng dẫn viên
khác hay người giới thiệu tại điểm du lịch đơn thuần mà không phải là
hướng dẫn viên du lịch thực sự.
Vì vậy, khái niệm hướng dẫn viên du lịch cần được hiểu như sau:
- Hướng dẫn viên du lịch (thuật ngữ nước ngoài quen dùng là Tour Guide,
Tour Manager,Tour Leader, (Tiếng Anh),Guideur Touristque,Courier
Touristque(Tiếng Pháp) là người thực hiện hướng dẫn khách du lịch trong
các chuyến tham quan du lịch hay tại các điểm du lịch nhằm đáp ứng những
nhu cầu được thoả thuận của khách trong thời gian nhất định và thay mặc tổ
chức kinh doanh du lịch giải quyết những phát sinh trong chuyến du lịch với
phạm vi và khả năng của mình
Cũng lưu ý là,trong “ Pháp lệnh du lịch” được Chủ tịch nước Cộng Hoà Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam công bố ngày 20/02/1999 có điều 32 chương V
qui định người được cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch phải có đủ các điều kiện
sau đây:
a) Là công dân Việt Nam.
b) Có phẩm chất đạo đức tư cách tốt.
c) Có sức khoẻ phù hợp.
d) Sử dụng thành thạo ít nhất một ngoại ngữ.
e) Có bằng tốt nghiệp đại học về chuyên ngành lữ hành, hướng dẫn viên du
lịch hoặc có bằng tốt nghiệp đại học về chuyên ngành khác và có chứng chỉ
đào tạo, bồi dưỡng về hướng dẫn du lịch do cơ sở đào tạo có thẩm quyền
cấp.
f)
Theo tính chất công việc hướng dẫn viên du lịch được phân loại như sau:
- Hướng dẫn viên chuyên nghiệp (Tour Guide) là người hướng dẫn đoàn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét