chơng I
con ngời - cơ sở lý luận
Con ngời là sinh vật có tính xã hội. Đối với Mác con ngời không phải là một
tồn tại trừu tợng, ẩn náu đâu đó ngoài thế giới
(4)
. Đó là những con ngời sống
trong một thời đại nhất định, một môi trờng xã hội nhất định, có những quan hệ xã
hội phong phú, phức tạp và ngày càng phong phú với sự phát triển của văn minh.
Các Mác viết Bản chất con ngời không phải là một cái trừu tợng cố hữu cá
nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngời là tổng hoà những
quan hệ xã hội
(5)
. Qua luận đề nổi tiếng đó, chúng ta thấy Mác muốn nói bản chất
con ngời, một sự trừu tợng khoa học, là sự khái quát từ đời sống cụ thể, từ thuộc
tính của con ngời hiện thực, thế hệ này qua thế hệ khác, bản chất con ngời đợc thể
hiện và chỉ có thể đợc thể hiện thông qua tổng thể các quan hệ xã hội. Muốn tìm
bản chất con ngời thì phải tìm ở bên trong chứ không phải ở bên ngoài đời sống
hiện thực của con ngời. Luận đề của Mác không làm mất đi tính cá nhân, khẳng
định sự kỳ diệu, sự phong phú vô hạn của tính cách con ngời. Nếu đứng trên quan
điểm sinh vật học mà xét thì không thể hiểu đợc chẳng những thực chất của con
ngời, mà ngay cả ý nghĩa của cơ thể con ngời, từ khi quá trình nguồn gốc loài ngời
kết thúc thì những biến đổi trong cơ thể đều đợc hớng dẫn bởi ảnh hởng quyết định
của văn hoá: khả năng đối xử có tính ngời đối với thế giới và đối với những ngời
khác, khả năng lao động, giao tiếp với những ngời chung quanh, khả năng t duy, có
những tình cảm đạo đức và những xúc cảm thẩm mỹ, tất cả những cái đó đều
không phải là đặc tính của cơ thể mà là những nét đã hình thành trong quá trình
thực tiễn lịch sử xã hội, tiêu biểu cho thực chất của con ngời trong cách biểu hiện
và bộc lộ cá thể của nó. Những nét ấy đợc hình thành nhờ chỗ con ngời tham gia
vào hệ thống các quan hệ xã hội, vào quá trình hoạt động lao động, đi liền với sự
tham gia của con ngời vào quá trình nắm vững và tái tạo nền văn hoá xã hội (lao
động, hoạt động). Chính trong quá trình này con ngời đã tự sáng tạo ra bản thân
mình một cách lịch sử và không ngừng tái hiện bản thân mình, tự giáo dục bản
thân với t cách là con ngời. Tiêu chuẩn lịch sử cho phép ngời ta phân biệt con ngời-
đó là sản xuất ra công cụ lao động cũng bằng chính công cụ. Đồng thời tiền đề
tuyệt đối và điều kiện của văn hoá con ngời là giới tự nhiên mà con ngời dùng để
xây dựng nền văn hóa của mình bằng cách chinh phục tự nhiên một cách sáng tạo.
Con ngời xã hội là kẻ sáng tạo ra lịch sử, sáng tạo ra bản thân mình. Chính vì vậy,
con ngời hoàn toàn mang tính xã hội.
Vậy thì trong đời sống xã hội con ngời có vai trò gì?
Hơn một trăm năm trớc, khi khẳng định tiến trình phát triển lịch sử của xã hội
loài ngời là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội, Các Mác đã nói
tới việc lấy sự phát triển toàn diện của con ngời làm thớc đo chung cho sự phát
triển xã hội. Các Mác cho rằng, xu hớng chung của tiến trình phát triển lịch sử đợc
quy định bởi sự phát triển của lực lợng sản xuất bao gồm con ngời và những công
cụ lao động do con ngời tạo ra. Sự phát triển của lực lợng sản xuất tự nó đã nói lên
trình độ phát triển của xã hội qua việc con ngời chiếm lĩnh và sử dụng ngày càng
nhiều lực lợng tự nhiên với t cách là cơ sở vật chất cho hoạt đoọng sống của chính
con ngời. Chúng ta biết rằng sản xuất là quá trình hoạt động thực tiễn cơ bản của
con ngời nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình. Sản xuất quyết định nhu cầu
nhng không có nhu cầu thì cũng không có sản xuất. Nhu cầu của con ngời tăng lên
không ngừng, do đó mà con ngời luôn luôn phát triển sản xuất vì muốn nâng cao
năng suất, chất lợng, hiệu quả của sản xuất, giảm nhẹ lao động. Vì vậy có thể nói,
trong quá trình hoạt động, trớc hết và quan trọng hơn cả là hoạt động lao động sản
xuất, bộ óc và bàn tay con ngời không ngừng hoàn thiện. Sự hoàn thiện của bộ óc
là cơ sở, là nguồn vật chất vô tận cho những hoạt động ngày càng phức tạp, tinh vi,
đa dạng, phong phú của con ngời, đa đến sự thay đổi liên tục cơ sở vật chất và kỹ
thuật của xã hội. Sự phát triển hoàn thiện không ngừng của trí tuệ con ngời đã đợc
thể hiện bằng việc truyền đạt, tàng trữ những tri thức lý luận và kinh nghiệm từ thế
hệ này sang thế hệ khác và đợc ghi nhận nhân cách cụ thể, trớc hết ở sự biến đổi
của công cụ sản xuất. Hay nói cách khác, sức mạnh trí tuệ con ngời không ngừng
đợc vật thể hoá trong công cụ sản xuất, trong lực lợng sản xuất nói chung. Tính vô
tận của trí tuệ con ngời đợc biểu hiện ở sự biến đổi không ngừng ở tính đa dạng,
phong phú vô cùng tận của công cụ sản xuất trong quá trình phát triển của xã hội.
Những cuộc cách mạng lực lợng sản xuất đã và đang diễn ra trong lịch sử xã hội
loài ngời là những nấc thang đánh dấu sự phát triển ngày càng cao hơn của công cụ
sản xuất: từ lửa đến công cụ sản xuất thủ công, rồi công cụ cơ khí máy móc và
công nghệ trí tuệ ngày nay Tất cả những điều đó chứng tỏ rằng con ngời với bàn
tay và khối óc của mình là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của lực lợng sản xuất.
Nhng bên cạnh vai trò con ngời là chủ thể của hoạt động sản xuất, là yếu tố
hàng đầu đóng vai trò quyết định trong lực lợngsản xuất của xã hội, con ngời còn
là chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử. Thông qua hoạt động sản xuất vật chất,
cc sáng tạo ra lịch sử của chính mình, sáng tạo ra lịch sử của xã hội loài ngời. Kết
quả là xã hội loài ngời đã bớc từ thời đại văn minh này sang thời đại văn minh
khác cao hơn, trong quá trình lịch sử tự nhiên.
Mặt khác khi sản xuất ngày càng phát triển, tính chất xã hội hóa của sản xuất
ngày càng gia tăng, việc tiến hành sản xuất tập thể bằng lực lợng của toàn xã hội
và sự phát triển mới của nền sản xuất do việc đó mang lại sẽ cần đến những con
ngời hoàn toàn mới. Các Mác đã khẳng định: sự phát triển của lực lợng sản xuất xã
hội trớc hết có ý nghĩa là sự phát triển phong phú của bản chất con ngời, coi nh là
một mục đích tự thân
(6)
. Bởi vậy theo Các Mác, ý nghĩa lịch sử, mục đích cao cả
của sự phát triển xã hội là phát triển con ngời toàn diện, nâng cao năng lực và
phẩm giá của con ngời, giải phóng con ngời, loại trừ ra khỏi cuộc sống con ngời
mọi sự tha hoá để con ngời sống với cuộc sống đích thực của mình.
Thực tế đã chứng minh, trong công cuộc đổi mới đất nớc, chỉ có con ngời-yếu
tố quan trọng nhất trong lực lợng sản xuất của xã hội mới là nhân tố chính, là
nguồn lực mang tính quyết định sự thành công hay thất bại. Nhng con ngời cũng là
mục tiêu, là cái đích của sự phát triển, sự đổi mới này. Hay nói cách khác, công
cuộc đổi mới đất nớc mà cụ thể là công nghiệp hoá, hiện đại hoá là do con ngời,
phụ thuộc vào con ngời và vì con ngời.
chơng II
con ngời việt nam trong sự nghiệp
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc
Quan niệm đơn giản nhất về công nghiệp hoá cho rằng công nghiệp hoá là đ-
a đặc tính công nghiệp cho một hoạt động, trang bị ( cho một vùng, một nớc), các
nhà máy, các loại công nghiệp Quan niệm mang tính triết tự này đợc hình thành
trên cơ sở khái quát quá trình hình thành lịch sử công nghiệp hoá ở các nớc Tây
Âu, Bắc Mỹ.
Nghiên cứu định nghĩa phạm trù công nghiệp hoá của các nhà kinh tế Liên Xô
(cũ) ta thấy trong cuốn giáo khoa kinh tế chính trị của Liên Xô đợc dịch sang tiếng
Việt Nam 1958, ngời ta đã định nghĩa công nghiệp hoá XHCN là phát triển đại
công nghiệp, trớc hết là công nghiệp nặng, sự phát triển ấy cần thiết cho việc cải
tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân trên cơ sở kỹ thuật tiên tiến.
Quan điểm công nghiệp hoá là quá trình xây dựng và phát triển đại công nghiệp,
trớc hết là công nghiệp nặng của các nhà kinh tế học Liên Xô đã đợc chúng ta tiếp
nhận thiếu sự phân tích khoa học đối với điều kiện cụ thể của nớc ta. Cuốn Từ
điển tiếng Việt đã giải thích công nghiệp hoá là quá trình xây dựng nền sản xuất
cơ khí lớn trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân và đặc biệt công nghiệp
nặng, dần tới sự tăng nhanh trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động và nâng cao
năng suất lao động. Trên thực tế, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc
những năm 60, ta đã mắc phải sai lầm đó, kết quả là nền kinh tế vẫn không thoát
khỏi nền công nghiệp lạc hậu, nông nghiệp lạc hậu, kết cấu hạ tầng yếu kém Mặc
dù không đạt đợc mục tiêu nhng cũng chính nhờ công nghiệp hoá mà nớc ta đẫ xây
dựng đợc một số cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định, tạo ra tiềm lực về kinh tế-quốc
phòng, phục vụ chiến tranh, đảm bảo đợc phần nào đời sống nhân dân.
Năm 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc ( UNIDO) đã đa
ra một định nghĩa: công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá
trình này, một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân đợc động viên
để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nớc với kỹ thuật hiện đại. Đặc
điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận luôn thay đổi để sản xuất ra t liệu
sản xuất, hàng tiêu dùng và có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế phát
triển với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ của nền kinh tế và xã hội. Theo
quan điểm này, quá trình công nghiệp hoá nhằm thực hiện nhiều mục tiêu chứ
không phải chỉ nhằm một mục tiêu kinh tế-kỹ thuật.
Còn theo quan niệm mới phù hợp với điều kiện nớc ta thì công nghiệp hoá,
hiện đại hoá là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với đổi mới công
nghệ, xây dựng cơ cấu vật chất-kỹ thuật, là quá trình chuyển nền sản xuất xã hội từ
trình độ công nghệ thấp sang trình độ công nghệ cao hơn, nhờ đó mà tạo ra sự tăng
trởng bền vững và có hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Nói tóm lại đó là sự phát triển của lực lợng sản xuất từ thấp đến cao, từ cha
hoàn thiện đến hoàn thiện. Thực hiện công nghiệp hoá là nhằm phát triển kinh tế-
xã hội, đa nớc ta theo kịp các nớc tiên tiến trên thế giới.
Sự thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi ngoài môi
trờng chính trị ổn định, phải có các nguồn lực cần thiết nh: nguồn lực con ngời,
vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý, nguồn lực nớc
ngoài. Các nguồn lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng tham gia vào quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhng mức độ tác động và vai trò của chúng đối
với toàn bộ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá không giống nhau, trong đó
nguồn lực con ngời là yếu tố quyết định.
Vai trò của nguồn lực con ngời quan trọng nh thế nào đã đợc chứng minh trong
lịch sử kinh tế của những nớc t bản phát triển nh Nhật Bản, Mỹ, nhiều nhà kinh
doanh nớc ngoài khi đến tham quan Nhật Bản thờng chỉ chú ý đến kỹ thuật, máy
móc và coi đó là nguyên nhân tạo nên kỳ tích Nhật Bản. Nhng họ đã nhầm,
chính ngời Nhật Bản cũng không quan niệm nh vậy. Ngời Nhật cho rằng kỹ thuật
và công nghệ có vai trò rất to lớn nhng không phải là yếu tố quyết định nhất. Yếu
tố quyết định nhất dẫn đến thành công của họ là con ngời. Cho nên họ đã tập trung
cao độ và có những chính sách độc đáo phát triển yếu tố con ngời.
Ngày nay đối với những nớc lạc hậu đi sau, không thể phát triển nhanh chóng
nếu không tiếp thu những tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công nghệ hiện đại của các
nớcphát triển. Nhng không phải cứ nhập công nghệ tiên tiến bằng mọi giá mà
không cần tính đến yếu tố con ngời. Cần nhớ rằng, công nghệ tiên tiến của nớc
ngoài khi đợc tiếp thu sẽ phát huy tác dụng tốt hay bị lãng phí, thậm chí bị phá
hoại là hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố con ngời khi sử dụng chúng. Nhiều công ty
chỉ chú ý đổi mới kỹ thuật và công nghệ nhng vì không chú ý đến yếu tố con ngời
nên đều thất bại. Ông Victor S.L.Tan, giám đốc của Ohostate University đã viết:
Điều mỉa mai lớn nhất còn là ở chỗ, trong có nhiều công ty đã cố thực hiện đổi
mới, nhng lại có ít công ty thực hiện đủ mức để đạt tới thành công. Nhiều công
cuộc đổi mới đã tiến hành nhng thất bại vì các công ty đó đã không đa vào cấu tạo
của kế hoạch đổi mới hoặc chơng trình đổi mới của họ một nhân tố khó nhất để
thành công- con ngời.
Nh mọi quốc gia khác trên thế giới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở Việt Nam cũng phải phụ thuộc vào nguồn lực con ngời và do nguồn lực
này quyết định. Bởi vì:
Thứ nhất, các nguồn lực khác nh vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý tự
nó chỉ tồn tại dới dạng tiềm năng. Chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích
cực xã hội khi đợc kết hợp với nguồn lực con ngời thông qua hoạt động có ý thức
của con ngời. Bởi lẽ, con ngời là nguồn lực duy nhất biết t duy, có trí tuệ và có ý
chí, biết lợi dụng các nguồn lực khác, gắn chúng kết lại với nhau, tạo thành một
sức mạnh tổng hợp, cùng tác động vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Các nguồn lực khác là những khách thể chịu sự cải tạo, khai thác của con ngời, hết
thảy chúng đều phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con ngời, nếu con ngời biết cách
tác động và chi phối. Vì thế trong các yếu tố cấu thành lực lợng sản xuất, ngời lao
động là yếu tố quan trọng nhất, là lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại.
Chẳng hạn nh vốn cũng là một nguồn lực để tiến hành công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nhng vốn chỉ trở thành nguồn lực quan trọng và cấp thiết của sự phát triển
khi nó nằm trong tay những ngời biết sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả cao.
Tơng tự nh vậy, sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên và những u thế về vị trí
địa lý cũng sẽ mất ý nghĩa nếu chủ nhân của nó không có năng lực khai thác.
Ngày nay trớc xu hớng quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự hợp tác đầu t nớc
ngoài cũng là nguồn lực quan trọng, nó tạo ra cái hích kinh tế, nhất là với các n-
ớc có điểm xuất phát thấp, nhng sức mạnh của cái hích này đến đâu, tác động
tích cực của nó nh thế nào còn tuỳ thuộc vào yếu tố con ngời khi tiếp nhận nguồn
lực đó.
Xét đến cùng nếu thiếu sự hiện diện của trí tuệ và lao động của con ngời thì
mọi nguồn lực đều trở nên vô nghĩa thậm chí khái niệm nguồn lực cũng không
còn lý do gì để tồn tại
Thứ hai, các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, trong khi
đó nguồn lực con ngời lại là vô tận. Nó không chỉ tái sinh và tự sản sinh về mặt
sinh học mà còn tự đổi mới không ngừng, phát triển về chất trong con ngời xã hội,
nếu biết chăm lo, bồi dỡng và khai thác hợp lý. Đó là cơ sở làm cho năng lực nhận
thức và hoạt động thực tiễn của con ngời phát triển nh một quá trình vô tận xét trên
bình diện cộng đồng nhân loại. Nhờ vậy con ngời đã từng bớc làm chủ tự nhiên,
sáng tạo, khám phá ra nhiều nguồn tài nguyên mới, nhiều công cụ sản xuất có hiệu
quả hơn, đa xã hội chuyển qua các nền văn minh từ thấp đến cao.
Thứ ba, trí tuệ con ngời có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó đợc vật thể hoá,
trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp. Dự báo vĩ đại này của C.MáC đã và đang trở
thành hiện thực. Sự phát triển nh vũ bão của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật và
công nghệ hiện đại đang dẫn nền kinh tế của các nớc công nghiệp phát triển vận
động đến nền kinh tế của trí tuệ. Giờ đây sức mạnh của trí tuệ đã đạt đến mức mà
nhờ nó con ngời có thể sáng tạo ra những ngời máy bắt chớc hay phỏng theo
những đặc tính trí tuệ của chính con ngời. Rõ ràng là bằng những kỹ thuật công
nghệ hiện đại do chính bàn tay khối óc con ngời làm ra mà ngày nay nhân loại
đang chứng kiến những biến đổi thần kỳ trong lịch sử phát triển của mình.
Thứ t, kinh nghiệm của nhiều nớc và thực tiễn của chĩnh nớc ta cho thấy sự
thành công của công nghiệp hoá, hiện đại hoá phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch
định đờng lối, chính sách cũng nh tổ chức thực hiện, nghĩa là phụ thuộc vào năng
lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con ngời. Đối với những nền kinh tế nông
nghiệp cha công nghiệp hoá thì mặt số lợng của nguồn nhân lực có tầm quan trọng
đặc biệt vì nó qui định quy mô của thị trờng. Nhng khi tiến hành công nghiệp hoá
thì mặt chất lợng, cơ cấu và cơ chế sử dụng nguồn nhân lực lại quan trọng hơn. Cơ
cấu lao động cần cho quá trình công nghiệp hoá phải bao gồm: các chính khách,
các nhà hoạch định chính sách, các học giả, các nhà kinh doanh, các nhà kỹ thuật
và công nghệ, các công nhân lành nghề không có các chính khách, các học giả
tài ba thì khó có thể có đợc những chiến lợc, chính sách phát triển đúng đắn; không
có các nhà kinh doanh lỗi lạc thì cũng sẽ không có ngời sử dụng một cách có hiệu
quả các nguồn vốn, nhân lực, công nghệ. Sự thiếu vắng hay kém cỏi của một trong
các bộ phận cấu thành nhân lực trên đây sẽ có hại cho quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc.
Qua toàn bộ phân tích trên có thể kế luận rằng nguồn lực con ngời là nguồn lực
có vai trò quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nớc. Do vậy, muốn công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công thì phải đổi mới
cơ bản các chính sách đầu t cho các ngành khoa học, văn hoá, giáo dục, y tế ở Việt
Nam nhằm phát triển nguồn lực con ngời cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đây
là nhiệm vụ lớn nhất và khó khăn nhất trong công cuộc đổi mới hiện nay.
Có rất nhiều nớc trên thế giới đã thực hiện thành công công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc với nguồn lực chủ đạo là con ngời. Vậy trong công cuộc
đổi mới ở Việt Nam hôm nay, Với những thế mạnh và những hạn chế của mình
con ngời Việt Nam có thực hiện đợc vai trò của mình hay không?
Trớc hết ta tìm hiểu xem nguồn nhân lực của Việt Nam có những đặc điểm gì
để phát huy và những hạn chế gì cần phải khắc phục.
Những thế mạnh phải nói đến đó là:
Thứ nhất, theo kết quả điều tra của Bộ LĐ TBXH công bố ngày 25 tháng 10 cả
nớc hiện có 39.489 nghìn ngời từ 15 tuổi trở lên đang có việc làm ổn định, khu vực
thành thị 9.182 nghìn ngời, khu vực nông thôn có 30.307 nghìn ngời. Nh vậy tỉ lệ
lao động có việc làm: 97,24% tỉ lệ thất nghiệp 2,76%
Thứ hai, Việt Nam có tỷ trọng tơng đối cao về lao động trẻ, phần lớn có học
vấn phổ thông, ngay cả ở nông thôn. Đây là một tiền đề quan trọng tạo điều kiện
tiếp thu các kiến thức kỹ năng nghề nghiệp, kể cả những ngành nghề mới. Lực lợng
lao động có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đợc đào tạo tơng đối lớn (so với các n-
ớc có thu nhập nh nớc ta). Tính đến năm 2001 lực lợng lao động có chuyên môn kỹ
thuật lên tới 22,2% có khoảng gần 1 triệu ngời tốt nghiệp Đại học, Cao đẳng đó
còn cha kể tới 120.000 ngời có bằng thạc sỹ và tiến sỹ.
Thứ ba, chúng ta có một lợng tơng đối lớn ngời Việt sống ở nớc ngoài, tập
trung chủ yếu ở châu Âu, châu Mỹ và Ôxtraylia; trong đó tỉ lệ ngời có trình độ cao
về chuyên môn và nghiệp vụ là đáng kể ( trên 300000 ngời). Đây là một nguồn lực
quan trọng góp phần phát triển đất nớc, là cầu nối giữa Việt Nam và thế giới về
mặt chuyển giao tri thức, công nghệ và các quan hệ quốc tế.
Thứ t, đó là bản tính hiếu học, thông minh cần cù lao động của con ngời Việt
Nam. Truyền thống đó cần đợc nuôi dỡng và phát huy làm cơ sở cho việc nắm bắt,
tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng, sáng tạo những phát minh, sáng kiến
khoa học của nhân loại phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất n-
ớc. Tính cộng đồng, ý thức trách nhiệm với cộng đồng đợc phát huy mạnh mẽ sẽ
có thể hỗ trợ đắc lực không chỉ cho việc truyền bá tay nghề, kinh nghiệm nghề
nghiệp mà còn có thể giúp nhau cả về vốn liếng, tạo dựng và phát triển cơ nghiệp,
hỗ trợ nhau tìm kiếm công ăn việc làm, góp phần làm giảm sức ép về lao động hiện
nay. Dân tộc Việt Nam còn có truyền thống biết chịu đựng gian khổ để tiết kiệm,
tích luỹ cho đầu t mở rộng, tạo dựng cơ đồ cho mình và cho nền kinh tế nớc nhà
nói chung.
Nhng bên cạnh đó, nguồn nhân lực ở Việt Nam có những hạn chế,những
điểm yếu kém sau đây:
Thứ nhất, số ngời lao động đợc đào tạo quá ít chỉ chiếm 20% tổng số lao động.
77,71% lao động sản xuất nông nghiệp đồng nghĩa với con số trên là tỷ lệ qua đào
tạo hết sức hạn chế . Ước tính hiện nay nớc ta số lao động cha qua đào tạo chiếm
51,74% (học vấn từ tiểu học trở xuống). Vì vậy trong nông nghiệp một lao động
của ta chỉ nuôi đợc 3 đến 5 ngời, trong khi chỉ số này ở các nớc phát triển là 20
đến 30 ngời. Đây là trở ngại lớn nhất khi tiến hành công nghiệp hoá trong nông
nghiệp trong kinh tế nông thôn nói riêng và trong cả nền kinh tế Việt Nam nói
chung.
Thứ hai, đội ngũ cán bộ khoa học trẻ quá ít. Qua điều tra ở 17 trờng đại học thì
số cán bộ giảng dạy dới 35 tuổi chỉ có 8%. Phần lớn những tri thức có trình độ trên đại
học đang là những chuyên gia đầu ngành đã ở độ tuổi 55 đến 60. Hơn 60% phó tiến sĩ
và tiến sĩ, hơn 70% giáo s và hơn 90% giáo s đều ở độ tuổi này.Trong khi đó sinh viên
giỏi sau khi tốt nghiệp đều không muốn ở lại trờng. Vì vậy việc chuẩn bị cho đội ngũ trí
thức kế cận sẽ gặp không ít khó khăn.
Thứ ba, việc bố trí sử dụng cán bộ còn nhiều việc bất hợp lý giữa các vùng, các
ngành: 80% cán bộ khoa học công nghệ làm việc tại Hà Nội, ở thành phố Hồ Chí
Minh chỉ có 12%. Đa số các cán bộ khoa học của ta làm việc trong các viện nghiên
cứu, các trờng học, còn trong các ngành sản xuất vật chất thì rất ít Chẳng hạn,
trong các ngành nông lâm ng nghiệp chỉ có 8,1% cán bộ có trình độ đại học và
6,49% cán bộ có trình độ sau đại học. Trong khi có tới 34% cán bộ có trình độ đại
học và 55,47% trình độ sau đại học làm việc trong các ngành khoa học tự nhiên và
khoa học xã hội. Nhìn vào một số nớc trong khu vực, cán bộ khoa học làm việc
trong các ngành sản xuất chiếm tỉ lệ rất cao nh Thái Lan: 58%, HànQuốc: 48%,
Nhật Bản: 64%. Chính việc phân bố lực lợng lao động không hợp lý này gây nên
hiện tợng thừa thiếu giả tạo, gây ra nạn thất nghiệp đặc biệt trong lao động tri thức.
Qua điều tra, trên cả nớc số sinh viên ra trờng có việc làm chiếm 70%. Trong khi
đó nhiều vùng, nhiều miền nhất là miền núi vùng sâu vùng xa lại thiếu cán bộ khoa
học kỹ thuật. Nguyên nhân chủ yếu là một mặt do sinh viên ra trờng muốn ở lại
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét