CHƯƠNG 2
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Đối tượng là cá chình mun (Anguilla bicolor), cá giống được khai thác tự
nhiên ngày 08/10/2009 từ đầm Châu Trúc huyện Phù Mỹ tỉnh Bình Định, kích
cỡ từ 50 – 90 g/con. Mô hình nuôi được xây dựng tại hộ gia đình ở thành phố
Quy Nhơn. Thời gian thực hiện từ ngày 08/10/2009 đến ngày 08/04/2010.
2. XÂY DỰNG QUY TRÌNH NUÔI
Quy trình nuôi được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu các đặc điểm sinh
thái và sinh học cá chình (Anguilla) tham khảo một số gia đình nuôi tại các ao hồ
tự nhiên ở quanh khu vực Quy Nhơn.
Sơ đồ quy trình nuôi:
+ Chuẩn bị bể nuôi: Bể nuôi có diện tích 4m
2
(2m x 2m) có mái che phía
trên cao 1,8m; đáy lát gạch men để dễ quan sát, có đặt các ống nhựa tròn làm nơi
cá trú ẩn, có hệ thống dẫn nước vào và tháo nước ra. Xử lý vô khuẩn trước khi
thả, ngăn 2 ô bằng khung lưới sắt lổ nhỏ. Mỗi ô 2m
2
. Mực nước luôn đảm bảo
0,9 - 1,2m. Nước đưa vào bể nuôi là nước sạch lấy từ nước giếng khoan.
+ Cá giống: 50 con giống nguồn gốc tự nhiên, kích cỡ không đều, khối
lượng từ 50 – 90 g/con. Vì vậy, chia cá làm 2 lô: lô 1 có 25 con khối lượng từ 50
– 70 g/con; lô 2 có 25 con khối lượng 71 – 90 g/con, mục đích để dễ theo dõi
đánh giá sự sinh trưởng.
+ Quản lý, chăm sóc cá: Cho cá ăn 2 lần/ngày buổi trưa vào lúc 11h00 và
buổi chiều vào lúc 17h00. Cho thức ăn vào một vị trí nhất định trên sàn ăn. Thức
ăn là cá, tép và giun đất. Buổi trưa cho ăn theo tỷ lệ 1 phần giun: 5 phần cá vụn,
buổi chiều cho ăn theo tỷ lệ 1 phần giun: 5 phần tép. Mục đích xác định tính ăn
của cá đối với 3 loại thức ăn trên. Cứ 3 ngày thay nước 1 lần đồng thời vệ sinh
bể sạch sẽ.
3. XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ SINH THÁI MÔI TRƯỜNG NUÔI
Xác định nhiệt độ nước bể nuôi 1 ngày 1 lần vào lúc 9h00 sáng bằng nhiệt
kế bách phân.
Xác định độ trong của nước bằng đĩa Secchi, 1 ngày 1 lần vào lúc 9h00
sáng.
Xác định độ pH, hàm lượng oxy hòa tan và NH
3
bằng test thử của Đức
sản xuất, ngày 1 lần vào lúc 9h00 sáng.
5
Chuẩn bị
bể nuôi
Thả cá
Quản lý,
chăm sóc cá
Thu
hoạch
4. XÁC ĐỊNH CÁC CHỈ TIÊU HÌNH THÁI CÁ CHÌNH MUN
Dựa vào phương pháp của PRAVDIN [5]:
- Quan sát, ghi chép và mô tả hình dạng, màu sắc của cá chình mun.
- Xác định chiều dài toàn thân (L) bằng thước dây Trung Quốc độ chính
xác ± 1mm.
- Xác định vòng ngực 1 đo quanh thân ngay sau mang; vòng ngực 2 đo
quanh thân nơi cá có chiều cao thân lớn nhất.
- Khoảng cách giữa các vây: đo bằng thước dây Trung Quốc độ chính xác
± 1mm.
+ Khoảng cách từ vây ngực đến vây lưng: đo từ mép trước vây ngực
đến mép trước vây vây lưng.
+ Khoảng cách từ vây ngực đến vây hậu môn: đo từ mép sau vây ngực
đến mép trước vây hậu môn.
- Đếm các tia vây ngực, tia vây lưng, đuôi và hậu môn: bằng kính lúp và
kim mũi mác.
5. XÁC ĐỊNH CHỈ TIÊU SỨC SỐNG
Tỷ lệ nuôi sống (S%) theo công thức:
Trong đó: S: Tỷ lệ nuôi sống.
S
1
: Tổng số cá thể còn sống đến cuối thời kì khảo sát.
S
0
: Tổng số cá thể ban đầu.
6. XÁC ĐỊNH CÁC CHỈ TIÊU SINH TRƯỞNG
- Xác định giá trị sinh trưởng tích lũy:
+ Sinh trưởng tích lũy khối lượng: xác định bằng cân điện tử có độ
chính xác ± 0,1gam.
+ Sinh trưởng tích lũy dài toàn thân (L): xác định bằng thước dây độ
chính xác ± 1mm.
- Xác định giá trị sinh trưởng tuyệt đối khối lượng và dài toàn thân (L)
theo công thức:
Trong đó : A: hệ số sinh trưởng tuyệt đối khối lượng (gam/ngày) hay
dài toàn thân (cm/ngày).
W
0
: khối lượng (gam) hay dài toàn thân (mm) ở thời điểm
khảo sát ban đầu.
W
1
: khối lượng (gam) hay dài toàn thân (mm) ở thời điểm
kết thúc khảo sát.
6
t
1
- t
0
: là khoảng cách thời gian khảo sát.
- Xác định giá trị sinh trưởng tương đối (R) theo công thức:
Trong đó: R(%): hệ số sinh trưởng tương đối.
W
0
: khối lượng (gam) hay dài toàn thân (mm) ở thời điểm
khảo sát ban đầu.
W
1
: khối lượng (gam) hay dài toàn thân (mm) ở thời điểm
kết thúc khảo sát.
7. XÁC ĐỊNH MỐI TƯƠNG QUAN KIỂU HÌNH (rp) GIỮA KHỐI
LƯỢNG VÀ CIỀU DÀI TOÀN THÂN
Mối tương quan kiểu hình giữa khối lượng cơ thể và chiều dài toàn thân
được xác định theo công thức:
Trong đó: r
p
: hệ số tương quan kiểu hình giữa hai tính trạng.
n: số cá thể khảo sát.
: khối lượng trung bình.
: chiều dài trung bình.
X
i
, Y
i
: các giá trị khác nhau đo được trên các cá thể thứ i.
8. XÁC ĐỊNH CHỈ SỐ TIÊU TỐN THỨC ĂN
Chỉ số tiêu tốn thức ăn được xác định theo công thức (a)
Trong đó: a: hệ số tiêu tốn thức ăn.
P: tổng khối lượng thức ăn đã cung cấp (gam).
W
1
: khối lượng cá khảo sát đầu kỳ (gam).
W
2
: khối lượng cá khảo sát cuối kỳ (gam).
9. XÁC ĐỊNH CÁC GIÁ TRỊ
Các giá trị ,S
x
, C
v
%, m theo công thức toán học thống kê [11]
7
Trong đó: n: số cá thể khảo sát.
S
x
: độ lệch chuẩn.
: giá trị trung bình.
C
v
(%): hệ số biến động của mẫu.
m: sai số của trung bình số học.
8
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. CÁC ĐIỀU KIỆN SINH THÁI BỂ NUÔI
Được xác định tại 2 vị trí khác nhau thuộc 2 lô nuôi, trên cùng 1 bể nuôi.
Mỗi ngày đo 1 lần vào lúc 9h00 sáng.
1.1. Nhiệt độ
Kết quả xác định nhiệt độ nước bể nuôi được trình bày ở bảng 3.1.
Bảng 3.1. Nhiệt độ trung bình trong bể nuôi (
o
C ).
Qua bảng 3.1 cho thấy nhiệt độ nước ở 2 lô nuôi trong cùng 1 bể là hoàn
toàn giống nhau và biến động từ 25,67 - 26,67
0
C nằm trong khoảng nhiệt độ
thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá chình. Như vậy, trong suốt quá
trình nuôi từ tháng 10/2009 đến tháng 03/2010 nhiệt độ trong 2 bể nuôi là như
nhau và khá ổn định, chênh lệch trung bình giữa tháng cao nhất (tháng 10/2010)
với tháng thấp nhất (tháng 11/2009 và tháng 01/2010) chỉ 1
0
C. Điều này cho
thấy mái che trên bể nuôi có ý nghĩa làm ổn định nhiệt độ nước trong bể nuôi.
1.2. Độ trong
Kết quả được thể hiện qua bảng 3.2
Bảng 3.2. Trị số trung bình độ trong của hồ nuôi (cm).
9
Bảng 3.2 cho biết: độ trong của nước ở cả 2 lô nuôi trong cùng 1 bể là
hoàn toàn giống nhau, dao động từ 59 - 60 cm, thấy ở thang 11/2009 đạt 59 cm,
cao ở tháng 12/2009 và tháng 03/2010 đạt 60 cm, nằm trong khoảng thích hợp
cho sự sinh trưởng và phát triển của cá chình mun (Anguilla bicolor). Trên thực
tế quan sát chúng tôi thấy, nước sử dụng cho bể nuôi là nước sạch lấy từ giếng
khoan có độ trong cao. Tuy nhiên khi xác định độ trong chỉ đạt mức 59 - 60 cm,
điều này có thể do hạn chế của mái che trên bể nuôi do đó độ trong đo được
giảm. Như vậy, việ sử dụng mái che trên bể nuôi sẽ làm giảm cường độ ánh
sáng, phù hợp với tập tính ưa bóng tối của cá chình.
1.3. Độ pH
Độ pH trong bể nuôi được xác định tại 2 vị trí khác nhau của 2 nửa hồ,
thuộc 2 lô nuôi. Kết quả đo được thể hiện qua bảng 3.3
Bảng 3.3. Trị số pH trong hồ nuôi.
Kết quả bảng 3.3 cho biết: trị số pH ở cả 2 lô nuôi là hoàn toàn giống nhau
qua các tháng nuôi dao động từ 7,58 - 7,75; thấp ở tháng 11/2009 và tháng
01/2010 với giá trị là 7,58; cao ở tháng 12/2009 với giá trị 7,75. Đây là khoảng
thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cá chình. Điều này chứng tỏ
nguồn nước sử dụng của chúng tôi là phù hợp.
1.4. Hàm lượng oxy hòa tan
Hàm lượng oxy hòa tan được xác định tại 2 điểm khác nhau thuộc 2 lô
nuôi trên cùng 1 bể. Kết quả được trình bày ở bảng 3.4.
10
Bảng 3.4. Hàm lượng oxy hòa tan trong hồ nuôi ( mg O
2
/lít ).
Bảng 3.4 cho biết, hàm lượng oxy hòa tan là hoàn toàn như nhau ở cả 2 lô
nuôi, đạt các giá trị từ 5,33 - 6,33 mg O
2
/lít. Cao ở tháng 11/2009 và tháng
03/2010 với giá trị 6,33 mg O
2
/lít. Thấp ở tháng 12/2009 và tháng 01/2010, nằm
trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của cá.
Tuy nhiên trên quan sát thực tế, chúng tôi thường thấy một số ít cá nổi đầu
vào buổi sáng sớm lúc 5 - 6h sáng của ngày thứ 3 trước khi thay nước, điều này
có thể là do ban đêm có hiện tượng thiếu oxy ở bể. Vì vậy, trong quá trình nuôi
cá có thể phải xả nước vào tối hoặc sáng sớm mỗi ngày, tạo dòng chảy tăng
cường oxy hòa tan vào ban đêm.
2. CÁC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÁ CHÌNH MUN
2.1. Đặc điểm hình thái
2.1.1. Hình dạng ngoài
Cá có thân dài, dạng lươn, thân trước tròn, thân sau hơi dẹp, da trơn. Vây
lưng và hậu môn mềm, dài và nối liền dải với vây đuôi. Không có gai tia cứng.
Dọc thân phần lưng màu xám đen, phần bụng màu trắng.
2.1.2. Số tia vây
Không giống với các loài cá khác, cá chình mun có vây lưng, vây đuôi và
vây hậu môn nối liền nhau thành dải liên tục khó phân biệt. Vì vây, chúng tôi
xác định tổng số tia vây chung cho cả 3 loại: vây lưng, vây đuôi, vây hậu môn;
còn vây ngực tính riêng. Kết quả xác định tại thời điểm 180 ngày nuôi được
trình bày ở bảng 3.5.
Bảng 3.5. Số tia vây của cá chình mun.
11
Kết quả bảng 3.5 cho biết: Số tia vây ở 2 lô là khác nhau: ở lô 1 tia ngực
là 22 tia, tia vây lưng, đuôi, hậu môn là 405; ở lô 2 tương ứng là 30 và 416. Như
vậy, có sự biến động số tia vây ở cá chình. Với các giá trị đặc trưng số vây ngực
từ 22 – 30 tia; tia vây lưng, đuôi, hậu môn từ 405 – 416 tia, tại thời điểm 180
ngày nuôi.
2.1.3. Khoảng cách giữa các vây của cá chình mun (đơn vị cm)
Giá trị khoảng cách (K/C) giữa các vây của cá chình mun được xác định
tại thời điểm 180 ngày nuôi. Kết quả được trình bày ở bảng 3.6.
Bảng 3.6. Khoảng cách (K/C) các vây của cá chình mun (đơn vị cm).
Kết quả bảng 3.6 cho biết, tại thời điểm 180 ngày nuôi ở cả 2 lô cá thí
nghiệm có khoảng cách từ vây ngực đến vây lưng và khoảng cách từ vây ngực
đến vây hậu môn là bằng nhau: ở lô 1, cả 2 khoảng cách đều là 10,33 cm; ở lô 2
đều bằng 13,67 cm. Kết quả trên có thể là một đặc trưng về hình thái của cá
chình mun. Nó biểu hiện tính đối xứng của vây lưng và vây hậu môn, khởi điểm
của vây lưng và khởi điểm của vây hậu môn có cùng khoảng cách với vây ngực,
khoảng cách này thay đổi lớn dần theo thời gian và độ lớn của cá nhưng luôn
bằng nhau.Điều này phù hợp với mô tả của Nguyễn Hữu Dực cho rằng, ở cá
chình mun “khởi điểm của vây lưng hơi trước khởi điểm của vây hậu môn một
chút” [9;26].
2.1.4. Chiều dài toàn thân, vòng ngực 1 và vòng ngực 2
Kết quả được trình bày ở bảng 3.7.
Bảng 3.7. Chiều dài toàn thân, vòng ngực 1, vòng ngực 2.
Qua bảng 3.7, sau 180 ngày nuôi cá ở lô có kích thước nhỏ thì chiều dài
thân trung bình là 42,96cm với vòng ngực 1 là 8,53cm và vòng ngực 2 là
12
9,07cm. Còn ở lô 2, cá có chiều dài trung bình là 45,77cm với vòng ngực 1 là
8,86cm và vòng ngực 2 là 9,25cm. Như vậy, trong quá trình nuôi cá càng lớn thì
độ đồng đều cao hơn cá có kích thước nhỏ.
2.1.5. Tỷ lệ chiều dài đầu (T) và chiều dài toàn thân (L)
Tỷ lệ chiều dài đầu (T) và chiều dài toàn thân (L) được xác định tại thời
điểm 180 ngày nuôi. Kết quả được trình bày ở bảng 3.8.
Bảng 3.8. Tỷ lệ chiều dài đầu/ dài toàn thân (%).
Kết quả bảng 3.8 cho biết, tỷ lệ chiều dài đầu / dài toàn thân ở lô 1 là
10,87 %, ở lô 2 là 13,24 %. Như vậy đặc trưng giá trị dài đầu (T)/ dài toàn thân
(L) của cá chình mun tại 180 ngày nuôi đạt giá trị từ 10,87 – 13,24 % trong đó ở
lô 2 có giá trị cao hơn lô 1. Điều này chứng tỏ ở 180 ngày nuôi, cá kích thước
lớn có tỷ lệ dài đầu / dài toàn thân cao hơn cá có kích thước nhỏ hơn.
2.2. Đặc điểm sức sống
2.2.1. Tỷ lệ nuôi sống
Kết quả khảo sát tỷ lệ nuôi sống qua 6 tháng nuôi được trình bày ở
bảng 3.9.
Bảng 3.9. Tỷ lệ nuôi sống của cá chình mun trong 6 tháng (%).
Giai đoạn
Lô 1 Lô 2
Số lượng
kỳ đầu
(con)
Số lượng
cuối kỳ
(con)
Tỷ lệ sống
(%)
Số lượng
kỳ đầu
(con)
Số lượng
cuối kỳ
(con)
Tỷ lệ sống
(%)
Khởi đầu - 30
25 25 100 25 25 100
30 - 60
25 23 92 25 23 92
60 - 120
23 23 100 23 23 100
120 - 180
23 23 100 23 23 100
Tính chung
23 23 92 23 23 92
Kết quả bảng trên cho biết, tỷ lệ nuôi sống ở cả 2 lô là cao. Tính chung
toàn bộ quá trình nuôi tỷ lệ nuôi sống đạt 92%. Xét riêng từng giai đoạn nuôi
chúng tôi thấy, toàn bộ số cá thể chết tập trung ở tháng nuôi đầu tiên, có lẽ thời
gian này cá chưa quen với môi trường sống mới, bị sốc mạnh, bỏ ăn và chết. Từ
tháng nuôi thứ 2 trở đi, tỷ lệ nuôi sống 100%. Như vậy, có thể sử dụng cỡ cá
giống nhỏ như trên sẽ đảm bảo tỷ lệ nuôi sống cao.
13
2.2.2. Tình hình bệnh cá
Trong suốt quá trình nuôi thử nghiệm, chúng tôi thấy có 2 hiện tượng
đáng lưu ý:
Một là, do sự giành thức ăn và đánh nhau nên có một số cá thể bị trầy
xước. Chúng tôi đã tiến hành tắm nước muối nồng độ 5% cho những cá thể này.
Kết quả vết trầy xước lành nhanh, không ảnh hưởng gì đến sức khỏe của cá.
Hai là, có một số ngày chuyển thời tiết, trời trở lạnh vào tháng 11 và
12/2009 và trời chuyển nóng vào tháng 03/2010 cá có hiện tượng giảm ăn, thức
ăn dư thừa nhiều. Sau những ngày này, chúng tôi thực hiện tẩm thức ăn vơi dầu
ăn cùng vitamin B
1
, vitamin C mục đích nhanh chóng cho cá ăn trở lại bình
thường. Kết quả sau 1 ngày sử dụng thức ăn thêm, lượng thức ăn tiêu thụ trở lại
bình thường, cá hoạt động nhanh nhẹn hơn.
2.3. Các đặc điểm sinh trưởng cá chình mun
2.3.1. Sinh trưởng tích lũy khối lượng
Kết quả xác định sinh trưởng tích lũy khối lượng qua các giai đoạn nuôi
được trình bày ở bảng 3.10.
Bảng 3.10. Sinh trưởng tích lũy về khối lượng (gam).
Kết quả bảng 3.10 cho biết: ở 180 ngày nuôi cá chình mun lô 1 đạt khối
lượng trung bình 180,51 g/ con gấp 3,18 lần khối lượng ban đầu; cá chình mun ở
lô 2 đạt khối lượng trung bình 209,22 g/ con gấp 2,52 lần khối lượng ban đầu.
Như vậy trong cùng một thời giannuooi, cá chình mun có khối lượng bé (lô 1)
có khả năng sinh trưởng tích lũy cao hơn cá chình mun có khối lượng lớn (lô 2).
Vì vậy trong quá trình chọn cá giống để nuôi, người nuôi cần chọn cá giống có
khối lượng ban đầu bé sẽ có hiệu quả hơn về khả năng sinh trưởng tích lũy so
với cá giống có khối lượng lớn.
2.3.2. Tốc độ sinh trưởng tương đối và tuyệt đối về khối lượng
Kết quả khảo sát tốc độ sinh trưởng tương đối và tuyệt đối về khối lượng
được trình bày ở bảng 3.11.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét