hạn chế nhập, nhập theo quata, đến các biện pháp phòng dịch, giá tham chiếu,
các thủ tục hải quan phức tạp v.v )
+ Công nhận quyền kinh doanh xuất nhập khẩu cho mọi loại hình công
ty không phân biệt trong nớc hay ngoài nớc.
- Về thơng mại dịch vụ:
Giảm thiểu các hạn chế đối với thơng mại dịch vụ (bao gồm 12 nhóm
dịch vụ với tổng cộng 155 tiểu ngạch khác nhau) tiến dần tới mở cửa tự do hóa
thị trờng dịch vụ cho nhau theo 4 phơng thức:
+ Cung cấp dịch vụ qua biên giới từ lãnh thổ của nớc thành viên này sang
lãnh thổ nớc thành viên khác.
+ Tiêu dùng ngoài lãnh thổ.
+ Hiện diện thơng mại của công ty một nớc thành viên trên lãnh thổ một
nớc thành viên khác với hình thức lập liên doanh, chi nhánh, công ty 100%
vốn nớc ngoài.
+ Hiện diện thể nhân, di chuyển thể nhân.
- Về đầu t:
Giảm thiểu các hạn chế đối với đầu t để mở đờng cho tự do hóa thơng
mại hơn nữa (vòng đàn phán Uruguay cha đi đến một hiệp định chung, mà
mới chỉ thông qua đợc một số quy định về đầu t liên quan đến thơng mại).
- Tạo môi trờng kinh doanh bình đẳng và thống nhất.
Nhằm tạo ra môi trờng kinh doanh bình đẳng và tơng đối thống nhất bởi
những quy tắc và luật chơi chung quốc tế (đặc biệt là các vấn đề liên quan đến
giao dịch thơng mại) ở mọi quốc gia cho các chủ thể kinh doanh có quyền
hoạt động toàn cầu, các nớc thành viên tiến hành những điều chỉnh chính sách
kinh tế, thơng mại của mình theo nguyên tắc cạnh tranh công bằng, không
phân biệt đối xử, nguyên tắc đối xử quốc gia, nguyên tắc công khai và minh
5
bạch, nguyên tắc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, nguyên tắc cho phép các nớc có
hành động tự vệ trong các trờng hợp cần thiết để bảo vệ cán cân thanh toán,
bảo vệ một ngành công nghiệp non trẻ bị bên ngoài tấn công; đồng thời cho
dành chế độ u đãi đợc kéo dài lộ trình, chậm thực hiện cam kết (khoảng
5 năm) và các u đãi cùng các sự hợp tác, trợ giúp khác cho các nớc đang phát
triển và những nớc có nền kinh tế chuyển đổi để nâng cao năng lực cạnh tranh
trong quá trình hội nhập.
Hiện nay, những nội dung và nguyên tắc hội nhập nêu trên ở các mức độ
khác nhau đang chi phối nội dung các hiệp nghị thơng mại, các khối kinh tế
thơng mại song phơng và khu vực. Trong thời gian tới, những nội dung,
nguyên tắc và lĩnh vực hội nhập trên đây chắc chắn sẽ đợc nâng cao và mở
rộng hơn.
4. Tác động hai mặt của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến các
nớc đang phát triển.
Nhu cầu tổ chức lại thị trờng trong phạm vi toàn thế giới trớc hết bắt
nguồn từ các nớc công nghiệp phát triển, do họ ở thế mạnh nên thờng áp đặt
các luật chơi. Các nớc đang phát triển vừa có yêu cầu tự bảo vệ, vừa có yêu
cầu phát triển nên cũng tham gia tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Lợi
ích ở đây là: tìm đợc thị trờng cho hàng xuất khẩu, tiếp nhận vốn và công nghệ
thông qua đầu t trực tiếp, nhờ đó tạo ra công ăn việc làm, đảm bảo tăng trởng
kinh tế, học tập đợc kinh nghiệm quản lý
Đơng nhiên, đối với những nớc đang phát triển, kinh tế còn yếu kém,
doanh nghiệp nhỏ bé, sức cạnh tranh còn thấp, trình độ quản lý nhà nớc và
kinh doanh còn hạn chế, thì hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực không chỉ có
cơ hội mà còn có cả khó khăn, thách thức thậm chí khó khăn, thách thức là
lớn, nhng nếu cứ đứng ngoài cuộc, khó khăn có thể còn lớn hơn nhiều. Trong
bối cảnh toàn cầu hóa, quan niệm độc lập tự chủ theo kiểu tự cấp tự túc, xây
dựng một cơ cấu kinh tế hoàn chỉnh của nền kinh tế hớng nội đợc thể hiện qua
6
kinh nghiệm của nhiều nớc đã cho thấy đây không phải là xu thế phù hợp với
sự phát triển chung của thời đại và không có hiệu quả, đẩy đất nớc vào tình
trạng chậm phát triển, hoặc khủng hoảng kinh tế - xã hội. Vì vậy ngày nay,
hầu hết các nớc trên thế giới đều thực hiện chính sách hội nhập (ngay cả
Trung Quốc, một nớc có thị trờng 1,2 tỷ dân, lớn hơn bất cứ một khu vực mậu
dịch tự do nào, lại có khả năng tự sản xuất đợc gần nh mọi thứ, từ đơn giản
đến phức tạp, nhng vẫn kiên trì chủ trơng hội nhập vào nền kinh tế thế giới).
Đặc biệt là chủ động hội nhập gắn với chủ động điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo
hớng phát huy lợi thế so sánh, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế quản lý,
cải cách hành chính trên cơ sở đó phát huy nội lực, v ợt qua khó khăn, thách
thức, tận dụng cơ hội để phát triển đất nớc.
Nhiều nớc đang phát triển sau một thời gian tham gia vào hội nhập nền
kinh tế thế giới đã thu đợc những kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế -
xã hội, nâng cao vị thế của mình trên trờng quốc tế các nớc này đã thu hút và
sử dụng một khối lợng vốn nớc ngoài khá lớn kết hợp với việc phát huy và sử
dụng có hiệu quả nội lực trong nớc, nhiều nớc thực hiện chiến lợc công nghiệp
hớng về xuất khẩu một cách linh hoạt, hiệu quả, do vậy tiềm lực kinh tế không
ngừng đợc nâng cao. Nhiều nớc đã có đầu t ra nớc ngoài hoặc đầu t vào các n-
ớc phát triển, điển hình nh NICs Châu á.
Theo báo cáo của UNCTAD năm 1996, trớc khi nổ ra khủng hoảng kinh
tế tài chính ở Châu á, các nớc đang phát triển đã tiếp nhận 129 tỷ USD FDI và
đầu t ra nớc ngoài 51 tỷ USD. Đến năm 199, FDI vào các nớc này tiếp tục tăng
lên mức kỷ lục 198 tỷ USD, trong đó vào Mỹ la tinh 97 tỷ USD (riêng Braxin
chiếm 31 tỷ USD), Châu á chiếm 91 tỷ USD (riêng Trung Quốc chiếm 40 tỷ
USD). Cơ cấu kinh tế của nớc nớc này đã có nhiều biến đổi theo hớng giảm tỷ
trọng các ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Trong
lĩnh vực xuất khẩu (chỗ dựa kinh tế ở các nớc này), cơ cấu hàng xuất khẩu đợc
cải thiện, chất lợng hàng hóa đợc nâng cao hớng tới các tiêu chuẩn quốc tế, tỷ
trọng thành phẩm trong xuất khẩu đã tăng từ 5,65% năm 1980 lên 77,7% năm
1994. Cơ sở hạ tầng về kinh tế đợc phát triển, thu nhập của ngời dân đợc tăng
lên, đời sống đợc cải thiện trên một số mặt.
7
Tuy nhiên, đằng sau những tác động tích cực của hội nhập kinh tế quốc
tế, ngời ta vẫn nhận thấy mặt trái của nó đối với các nớc đang phát triển, nhất
là tính phụ thuộc, dễ bị tổn thơng rất lớn của nền kinh tế vào nớc ngoài nên sự
phát triển tỏ ra cha chắc chắn. Có thể minh chứng rõ điều này trên một số khía
cạnh.
Một là, sau một số năm tham gia toàn cầu hóa, nợ nần của các nớc đang
phát triển càng thêm chồng chất. Khoản nợ quá lớn (trên 2000 tỷ USD), thậm
chí ở một số nơi xảy ra khủng hoảng nợ, là gánh nặng kéo lùi tốc độ tăng tr-
ởng kinh tế. Theo báo cáo của WB về tình hình tài chính toàn cầu năm 1999,
tỷ lệ nợ nớc ngoài so với GNP: của Braxin là 24%, Mêhicô: 38%, Inđônêxia:
65%, Philippin: 53%, Thái Lan: 63%, Malaixia: 51%
Hai là, tốc độ tăng trởng kinh tế của nhiều nớc đang phát triển phụ thuộc
phần lớn vào xuất khẩu, nhng khối lợng xuất khẩu lại tùy thuộc vào lợi ích của
các nớc nhập khẩu, vào độ mở cửa thị trờng các nớc lớn, vào sự ổn định của
thị trờng thế giới, nên chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn, khó lờng trớc.
Ba là, cùng với sự phát triển của kỹ thuật sử dụng công nghệ cao tiết
kiệm lao động, tài nguyên, sự lớn mạnh của kinh tế tri thức trong đó sở hữu trí
tuệ mới là sở hữu mang lại sự giàu có, thì những cái đợc coi là lợi thế của các
nớc đang phát triển nh tài nguyên, lực lợng lao động dồi dào, chi phí lao động
thấp sẽ mất dần đi, còn u thế về công nghệ, vốn của các nớc phát triển lại tăng
lên.
Bốn là, nền kinh tế cha đủ sức để chịu đựng cái gọi là "chu kỳ kinh
doanh". Các nớc có nền kinh tế phát triển cao có thể sử dụng nhiều cơ chế
phúc lợi khác nhau để đối phó với thất nghiệp, tỷ lệ xí nghiệp phá sản cao
trong thời kỳ kinh tế suy thoái. Trong khi đó, đối với hầu hết các nớc đang
phát triển, do thực lực t bản trong nớc và kết cấu của nó còn thấp kém, cha
thật thích hợp với cơ chế thị trờng, lại dựa nhiều vào vốn nớc ngoài (trong đó
vốn ngắn hạn chiếm 60%) thì "chu kỳ kinh doanh" đôi khi có nghĩa là nạn
đói, các nhu cầu thiết yếu về lơng thực, thuốc men không đợc đáp ứng mất ổn
định về an ninh, chính trị, xã hội. Chẳng hạn, cuộc khủng hoảng tài chính -
8
tiền tệ Châu á năm 1997 đã làm cho hơn 1000 tỷ USD sức mua của các nớc
Châu á bị tàn phá. Các khoản tiền tiết kiệm đợc tung ra để chống đỡ với
những chấn động về tài chính đã kéo lùi tốc độ tăng trởng kinh tế của các nớc
này xuống dới số 0. ở Inđônêxia, một năm sau cuộc khủng hoảng, số ngời
nghèo tăng từ 30 triệu lên trên 80 triệu ngời.
Năm là, nhiều nớc đang phát triển đang và sẽ vấp phải những vấn đề về ô
nhiễm môi trờng, tài nguyên bị khai thác quá mức, sự bất bình đẳng trong
chuyển giao công nghệ, gia tăng thất nghiệp và tệ nạn xã hội, v.v
5. Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế.
Nền kinh tế thế giới trong hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX đợc khắc
họa bởi rất nhiều những đặc điểm phát triển mới: chu kỳ kinh tế ngày càng
không rạch ròi với những chấn động ngắn và thời gian tăng trởng kéo dài; các
nền kinh tế quốc gia, lớn nhỏ ngày càng tơng thuộc chặt chẽ với nhau và đang
kết nối thành một mạng thống nhất trên quy mô toàn cầu; các nền kinh tế
quốc gia và khu vực đang xúc tiến tích cực các quá trình liên kết, hội nhập và
mở cửa theo hớng tự do hóa và theo đó làm xuất hiện hàng loạt các thể chế
kinh tế khu vực và quốc tế dới nhiều cấp đọ; làn sóng "sáp nhập" của các tập
đoàn xuyên quốc gia với quy mô khổng lồ đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ.
Theo xu thế đó hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển không chỉ về nội
dung nh đã nêu trên, mà còn cả về các hình thức của chúng. Cho đến nay, có
thể kể ra một số hình thức chủ yếu sau:
(1) Các hiệp định kinh tế thơng mại song phơng.
Đây là hình thức hội nhập kinh tế quốc tế mang tính nền tảng, phổ biến
nhất và quan trọng nhất dù là với các nớc phát triển hay đang phát triển. Trong
đa số trờng hợp, các hiệp định kinh tế thơng mại song phơng đợc ký kết và
thực hiện trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên và tuân thủ nguyên tắc bình
đẳng, "có đi có lại", cùng có lợi, không làm trở ngại đến quan hệ của mỗi bên
đối với nớc thứ ba.
9
(2) Các khối kinh tế khu vực và liên khu vực.
Cho đến nay đã có hàng chục khối kinh tế khu vực các nhau về số lợng
thành viên và mức độ cam kết hợp tác nội bộ. Có khối hoạt động theo quy chế
khu vực mậu dịch tự do nh AFTA của ASEAN, NAFTA của Bắc Mỹ (những
thành viên thuộc khu vực này sẽ thực hiện giảm thiểu thuế quan cho nhau.
Việc thành lập khu vực mậu dịch tự do nhằm thúc đẩy thơng mại giữa các nớc
thành viên. Những hàng rào phi thuế quan cũng đợc giảm bớt hoặc loại bỏ
hoàn toàn. Tuy nhiên, khu vực mậu dịch tự do không quy định mức thuế quan
chung áp dụng cho những nớc ngoài khối, thay vào đó từng thành viên vẫn có
thể duy trì chính sách thuế quan khác nhau đối với các nớc không phải thành
viên), hoặc quy chế liên minh thuế quan (ngoài việc thực hiện tự do hóa mậu
dịch thông qua cắt giảm thuế quan và các biện pháp phi thuế quan nh ở khu
vực mậu dịch tự do, các thành viên còn cùng nhau xây dựng biểu thuế quan
chung áp dụng cho các nớc ngoài liên minh.
ở đây quá trình nhất thể hóa về thuế quan bắt đầu đợc thực hiện. Khối
cộng đồng chung Châu Âu (EC) trớc đây thuộc dạng này và quy chế thị trờng
chung (ngoài việc tự do hóa thơng mại hàng hóa ở khu vực mậu dịch tự do,
các yếu tố khác nh vốn, nhân lực, dịch vụ, v.v cũng đ ợc dự do lu thông giữa
các nớc thành viên trong thị trờng chung. Thị trờng chung đầu tiên trên thế
giới là thị trờng chung Châu Âu, chính thức hoạt động từ ngày 01/01/1993.
Ngoài ra còn một số thị trờng chung Châu Phi, thị trờng chung Arập ), quy
chế liên minh kinh tế (kiểu EU) là nấc thang phát triển cao nhất của hình thức
hội nhập theo khối kinh tế hiện nay (theo quy chế này, trong khối thực hiện
chính sách tài chính, tiền tệ, thơng mại, công nghệ, an ninh, và chính trị
chung, thậm chí EU đã có quốc hội chung, tòa án chung và một đồng tiền
chung).
Đặc biệt, hiện nay đang manh nha một hình thức hội nhập mới, mang
tính chất khối kinh tế liên khu vực mở. Tiêu biểu cho hình thức hội nhập này
là diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng (APEC) (ra đời năm
1989) và diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM) ra đời năm 1996. Đặc trng của các
10
diễn đàn này là tiến trình đối thoại với những nguyên tắc linh hoạt và tự
nguyện để thực hiện tự do hóa và thuận lợi hóa thơng mại, đầu t, góp phần
thúc đẩy nhanh hơn tiến trình tự do hóa trên bình diện toàn cầu. Mặc dù vẫn
còn dừng lại ở hình thức diễn đàn, song APEC đang có xu hớng định hình
thành cơ cấu tổ chức mang tính thể chế thờng xuyên hơn, để chuyển hóa dần
thành một khối kinh tế mở có sự tham gia của các nớc thuộc cả Châu á và
Châu Âu (liên khu vực). Trong tơng lai không xa, có thể nhiều khối kinh tế
khu vực khác trên thế giới cũng áp dụng quy chế thành viên mở, kết nạp các
nớc không chỉ thuộc khu vực địa lý; và giữa các khối kinh tế khu vực ngày
càng có sự gần gũi nhau về mô thức, quy chế cam kết, môi trờng đầu t hơn,
nghĩa là các khối kinh tế khu vực sẽ ngày càng hội tụ và trở thành "phòng
chờ" để các nớc thành viên tham gia vào các tổ chức kinh tế toàn cầu chung,
thúc đẩy quá trình tự do hóa cả ở cấp khu vực và toàn cầu.
(3) Các tổ chức kinh tế toàn cầu.
Các tổ chức kinh tế toàn cầu với t cách là hình thức và cũng là công cụ
thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế đợc chia thành 2 loại: Thứ nhất, những tổ
chức kinh tế liên chính phủ nh WTO, IMF, WB, G7 trớc kia mới thêm Nga
thành G8 hiện nay, OECD hoặc UNDP Những tổ chức này đang đóng vai
trò thiết kế và chi phối các "luật chơi chung" mang tính toàn cầu, trớc hết đối
với các dòng chảy thơng mại, tiền tệ và đầu t chính thức. Đồng thời chúng
đang và sẽ dần cải tổ và chuyển hóa thành các tổ chức có chức năng, phạm vi
điều tiết rộng hơn (ví dụ WTO có thể sử dụng đợc chuyển hóa thành tổ chức
kinh tế thế giới và IMF, WB sẽ có thêm chức năng điều tiết dòng vốn đầu t t
nhân). Thứ hai, các tổ chức kinh doanh toàn cầu mà trớc hết và phổ biến hơn
cả hiện nay là các công ty xuyên quốc gia. Các công ty này đang có xu hớng
phình lên nhanh chóng về quy mô thông qua sáp nhập và bao quát hoạt động
trong hầu hết các lĩnh vực, các quốc gia dù đang phát triển hay phát triển. Đặc
biệt, đang có xu hớng các nớc đang phát triển tích cực phát triển các công ty
xuyên quốc gia của mình thông qua liên doanh, liên kết với các công ty xuyên
quốc gia nớc ngoài hoặc hỗ trợ nhà nớc để phát triển công ty quốc gia thành
công ty xuyên quốc gia. Có thể nói các công ty xuyên quốc gia cổ phần chính
11
là hình thức doanh nghiệp cơ bản của nền kinh tế toàn cầu thống nhất tơng lai.
Ngoài những hình thức hội nhập kinh tế quốc tế chủ yếu trên đây, thế
giới đang xuất hiện ngày càng nhiều hơn những hình thức đặc thù nh thành
phố cảng tự do, các đặc khu kinh tế quốc gia và cả những"tam giác", "tứ giác"
vùng (nghĩa là những vùng kinh tế giáp biên giới của 3-4 nớc liên kề nhau, bổ
sung cho nhau về những lợi thế. Và mở cửa tự do cho tất cả mọi doanh nghiệp
trên thế giới .)
Tóm lại, các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế này càng phát triển
phong phú hơn và một quốc gia có thể lựa chọn tham gia các hình thức thích
hợp với điều kiện và định hớng phát triển của mình. Hơn nữa, mỗi nớc cần sử
dụng đồng thời nhiều hình thức để khai thác tối đa các lợi thế, hạn chế thấp
nhất tác động trái chiều của hội nhập kinh tế quốc tế.
Với sự phát triển của nền kinh tế thế giới ngày nay, các nớc nói chung và
Việt Nam nói riêng không thể nào bóc tách nền kinh tế của mình ra khỏi vòng
xoáy chung của hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong thời gian qua với chính sách mở cửa nền kinh tế Việt Nam đã tích
cực tham gia hội nhập làm cho nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực,
khởi sắc cho một nền kinh tế đầy tiềm năng. Hội nhập kinh tế quốc tế trở
thành vấn đề sôi động, nóng bỏng thu hút đợc sự quan tâm của chính phủ của
nhân dân là đề tài cho nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết.
Tuy nhiên, nghiên cứu về hội nhập kinh tế quốc tế cần phải chú ý đến
tính đa dạng về hình thức hội nhập, với một mục đích chung là tự do hóa th-
ơng mại nhng lịch trình, tính ràng buộc và mức độ cam kết của các tổ chức
kinh tế khu vực và thế giới có nhiều điểm khác nhau. Vì vậy, với khả năng,
kiến thức có hạn nghiên cứu vấn đề hội nhập kinh tế thế giới với quá trình phát
triển kinh tế Việt Nam em xin đi sâu vào đề tài "Những giải pháp nhằm thúc
đẩy tiến trình ra nhập tổ chức thơng mại thế giới (WTO) cho Việt Nam" Trở
thành quốc gia thành viên của WTO sẽ là một sự kiện vô cùng quan trọng
trong công cuộc phát triển kinh tế của Việt Nam chắc chắn nó sẽ tạo ra những
12
động lực giúp Việt Nam khắc phục có hiệu quả tình trạng kém phát triển hiện
nay, từ đó thu hẹp dần khoảng cách với các nớc trên thế giới về trình độ phát
triển với ý nghĩa đó, rõ ràng là chỉ tới khi đợc công nhận là hội viên WTO,
Việt Nam mới thực sự hoàn thành mục tiêu hòa nhập với cộng đồng quốc tế.
Nh vậy gia nhập tổ chức thơng mại thế giới (WTO) của Việt Nam là cần
thiết, sự cần thiết đợc thể hiện trên những mặt nh thế nào? đó là vấn đề mà
chúng ta cần tiếp tục giải quyết.
II. Sự cần thiết gia nhập tổ chức thơng mại thế giới (-
WTO-) của Việt Nam.
1. Tính tất yếu phải hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Bức tranh kinh tế thế giới năm 2002 tiếp tục khó khăn sẽ tiếp tục suy
thoái, trì trệ, dự báo hồi phục diễn ra sớm nhất vào nữa cuối năm 2002. Khoa
học và công nghệ phát triển rất nhanh tác động đến sản xuất và nhu cầu ngời
tiêu dùng đòi hỏi hệ thống kinh tế phải rất năng động mới không bị tụt hậu.
Kinh tế nớc ta đã tham gia vào cuộc đua kinh tế toàn cầu, diễn ra với tốc độ
ngày càng gay gắt hơn. Năm 2001, Việt Nam đạt mức tăng trởng kinh tế là
6,8% cao thứ 2 ở châu á. Cùng với sự ghi nhận là một trong những quốc gia
có nền chính trị ổn định nhất thế giới, thành tựu này càng khẳng định vị thế
mới của Việt Nam trong quá trình hội nhập khu vực và trên toàn thế giới.
Với xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, Việt Nam
khẳng định hội nhập kinh tế quốc tế là con đờng tất yếu của đất nớc. Tính tất
yếu ở đây có cả nhân tố chủ quan lẫn nhân tố khách quan.
Về mặt chủ quan thì nhờ công cuộc đổi mới nền kinh tế nớc ta đã phát
triển nhanh chóng trạng thái của nền kinh tế đã thay đổi một cách cơ bản. Nếu
nh trong những năm 70-80 của thế kỷ trớc hầu nh cái gì cũng khan hiếm thì
ngày nay nền kinh tế đã đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nên
kinh tế về nhiều mặt hàng, tỷ suất hàng hóa khá cao. Tình hình đó đặt ra yêu
cầu cấp bách phải tiêu thụ đợc mới tái sản xuất mở rộng đợc. Nói một cách
khác, nhân tố "đầu ra" có ý nghĩa hết sức quan trọng, trong nhiều trờng hợp
13
thậm chí có ý nghĩa quyết định. Một mặt phải rất quan trọng việc thúc đẩy
tiêu thụ trong nớc vì, với gần 80 triệu dân thị trờng nội địa nớc ta không phải
là nhỏ, mặt khác, do thu nhập của các tầng lớp dân c còn cha cao, sức mua
cha lớn, điều tất yếu là phải thúc đẩy xuất khẩu ra thị trờng bên ngoài.
ở đầu vào, mặc dù khả năng tích lũy của nền kinh tế nớc ta ngày càng
lớn, trình độ, khoa học - công nghệ và quản lý kinh tế ngày càng đợc nâng
cao, song trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nớc ta vẫn cần tranh
thủ vốn đầu t công nghệ và kỹ năng quản lý từ bên ngoài. Đồng thời có đẩy
mạnh xuất khẩu mới có ngoại tệ để nhập máy móc, thiết bị nguyên vật liệu
cần thiết.
Toàn bộ nhu cầu nói trên đòi hỏi chúng ta phải chủ động hội nhập để mở
cửa thị trờng tiêu thụ sản phẩm tranh thủ những thứ ta cần để đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Muốn vậy ta phải chấp nhận các luật chơi chung trên
cơ sở "có đi có lại". Vả lại chính trong sự cạnh tranh các sản phẩm và doanh
nghiệp của nớc ta sẽ phải vơn lên nâng cao chất lợng và hiệu quả.
Nói tóm lại nớc ta chủ động hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới vì
lợi ích của chính bản thân nớc ta.
Về mặt khách quan chúng ta đang sống trong một thế giới mà xu thế
toàn cầu hóa đang phát triển nhanh chóng, gia tăng mạnh mẽ quy môvà phạm
vi giao dịch hàng hóa, dịch vụ xuyên quốc gia, dòng vốn đầu t lan tỏa ra toàn
cầu, công nghệ, kỹ thuật, truyền bá nhanh chóng, và rộng rãi. Cục diện ấy vừa
tạo ra những khả năng mới để mở rộng thị trờng, thu hút vốn, công nghệ, vừa
đặt ra những thách thức mới về nguy cơ tụt hậu ngày càng xa và sự cạnh tranh
rất gay gắt nền kinh tế nớc ta là một bộ phận không tách của nền kinh tế nớc
ta là một bộ phận không tách rời của nền kinh tế thế giới nên không thể không
tính đến những xu thế của thế giới, tận dụng những cơ hội do chúng đem lại
đồng thời ứng phó với những thách thức do chúng đặt ra.
Vấn đề đặt ra ở đây không còn là cân nhắc xem nên tham gia vào quá
trình hội nhập hay không mà là hội nhập thế nào, theo lộ trình nào để lợi ích
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét