đó để cho vay thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phơng tiện thanh
toán.
Luật các tổ chức tín dụng (luật số 02/1997/QH10) điều 20: NHTM là
loại hình tổ chức tín dụng đợc thc hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh khác có
liên quan. Trong đó Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và
dịch vụ ngân hàng với nội dung thờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền
này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Thông thờng, các nớc có thể sử dụng các loại mô hình NHTM nh sau: mô
hình truyền thống và mô hình hiện đại.
Mô hình truyền thống: gồm có các ngân hàng đa năng và các
ngân hàng chuyên doanh.
Mô hình phổ biến hiện nay (mô hình hiện đại): gồm có các
ngân hàng thơng mại - các định chế tài chính lớn, các ngân hàng
phát triển, các ngân hàng có quy chế chuyên môn hoá, các ngân
hàng có quy chế đặc biệt.
Việt Nam, theo luật các tổ chức tín dụng, mỗi loại ngân hàng đều
mang những nét đặc trng phù hợp với điều kiện cuả thời kỳ đầu chuyển đổi
của nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc. Cụ thể Việt Nam có
các loại hình ngân hàng sau:
NHTM quốc doanh: Loại ngân hàng này đợc coi là chiếm vị thế
trong hệ thống tổ chức tín dụng của nớc ta. Hình thức sở hữu là doanh
nghiệp Nhà nớc, thành lập, cấp vốn chịu sự quản lý cuả Nhà nớc, hoạt động
trong tất cả các lĩnh vực ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, đối với mọi thành
phần kinh tế, mọi lĩnh vực sản xuất lu thông, xây dựng trong và ngoài nớc.
Hiện nay có 6 ngân hàng quốc doanh là: Ngân hàng công thơng, Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng đầu t và phát triển, Ngân
hàng ngoại thơng, Ngân hàng ngời nghèo, Ngân hàng phát triển nhà ở
Đồng bằng sông Cửu Long.
NHTM cổ phần: là loại hình ngân hàng phải đợc thành lập theo luật
công ty cổ phần, thuộc sở hữu của các cổ đông, ngời góp vốn, trên cơ sở tự
5
nguyện của các cổ đông trong việc góp vốn và hoạt động theo luật pháp quy
định.
Ngân hàng liên doanh: là loại hình ngân hàng đợc thành lập trên cơ
sở hợp đồng liên doanh, vốn điều lệ là vốn góp của ngân hàng Việt Nam và
ngân hàng nớc ngoài có trụ sở chính tại Việt Nam, chịu sự điều chỉnh của
pháp luật Việt Nam.
Chi nhánh ngân hàng liên doanh: là một bộ phận của ngân hàng n-
ớc ngoài hoạt động tại Việt Nam chịu sự điều tiết của luật pháp Việt Nam.
Ngân hàng đầu t: là những ngân hàng tập trung huy động vốn trung,
dài hạn và đầu t trung dài hạn vì sự phát triển, hoạt động đầu t chủ yếu
thông qua các dự án.
Ngân hàng chính sách: thông thờng là những NHTM 100% vốn Nhà
nớc hoặc NHTM cổ phần (sở hữu Nhà nớc và các tổ chức kinh tế quốc
doanh) đợc thành lập để phục vụ một hoặc một số chính sách của Nhà nớc,
nó hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, chênh lệch giữa chi phí huy
động vốn và sử dụng vốn sẽ đợc Nhà nớc bù đắp.
Ngân hàng hợp tác: là những tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể,
đợc các thành viên tự nguyện thành lập lên không phải vì mục tiêu lợi
nhuận mà vì mục tiêu tơng trợ lẫn nhau về vốn và các dịch vụ ngân hàng.
Nguyên tắc thành lập và hoạt động của loại hình này là tự nguyện, dân chủ,
bình đẳng, tự trang trải mọi chi phí và tự chịu trách nhiệm.
1.1.2. Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM.
Ngân hàng là một trung gian tài chính, thông qua các nghiệp vụ của mình
nhằm điều hoà, cung cấp vốn cho hoạt động của cả nền kinh tế. Với trình độ
phát triển của khoa học hiện đại hiện nay, hoạt động của ngân hàng đã ngày
càng trở nên phong phú hơn song ngân hàng vẫn luôn duy trì 3 mảng nghiệp vụ
cơ bản sau:
6
a. Nghiệp vụ huy động vốn.
Đây là nghiệp vụ cơ bản, đầu tiên quan trọng nhất của một ngân hàng.
Vốn đợc ngân hàng huy động dới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng (sau
khi đảm bảo một tỷ lệ dự trữ bắt buộc) với trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi.
Nguồn vốn của NHTM gồm vốn tự có (vốn chủ sở hữu), vốn vay, vốn khác.
Ngân hàng thờng sử dụng các nghiệp vụ huy động vốn sau:
Vốn tự có của ngân hàng: là nguồn vốn thuộc sở hữu của riêng các
NHTM. Thực tế nguồn vốn này không ngừng tăng lên từ kết quả động kinh
doanh của bản thân NHTM, nó đóng góp một phần đáng kể vào hoạt động
kinh doanh cuả các NHTM.
Nghiệp vụ tiền gửi: phản ánh các khoản tiền gửi từ các doanh nghiệp
vào để thanh toán hoặc nhằm mục đích bảo quản tài sản qua đó NHTM có
thể huy động đợc. Ngoài ra các ngân hàng còn huy động các khoản tiền
nhàn rỗi của các cá nhân hay hộ gia đình gửi vào ngân hàng với mục đích h-
ởng lãi.
Nghiệp vụ tiền vay: phản ánh quá trình tạo ra nguồn vốn bằng cách
vay các tổ chức tín dụng trên thị trờng tiền tệ và vay ngân hàng trung ơng
(NHTW) dới các hình thức tái chiết khấu, vay có bảo đảm mục đích tạo
sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM khi họ không tự cân
đối đợc trên cơ sở khai thác tại chỗ.
Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá: Ngân hàng sử dụng nghiệp vụ
này để thu hút các khoản vốn có tính chất dài hạn của ngân hàng vào nền
kinh tế. Ngoài ra, nghiệp vụ này còn giúp NHTM tăng cờng tính ổn định
vốn trong hoạt động kinh doanh của mình.
Nghiệp vụ huy động vốn khác: Thông qua nghiệp vụ này NHTM có
thể tạo vốn cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho
các tổ chức cá nhân trong và ngoài nớc.
b. Nghiệp vụ sử dụng vốn.
7
Ngân hàng là một tổ chức tài chính trung gian đi vay để cho vay. Do
vậy mối quan tâm hàng đầu của ngân hàng sau khi đã huy động đợc một lợng
vốn là làm sao sử dụng nguồn vốn mà không bị rơi vào tình trạng kẹt vốn. Ngân
hàng cần phải nghiên cứu và đa ra chiến lợc sử dụng vốn của mình.
Một là, ngân hàng tiến hành cho vay
Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM. Theo thống
kê, nhìn chung thì khoảng 60%- 75% thu nhập của ngân hàng là từ các hoạt
động cho vay. Thành công hay thất bại của một ngân hàng tuỳ thuộc chủ
yếu vào việc thực hiện kế hoạch tín dụng và thành công của tín dụng xuất
phát từ chính sách cho vay của ngân hàng. Các loại cho vay có thể phân loại
bằng nhiều cách, bao gồm: mục đích, hình thức bảo đảm, kỳ hạn, nguồn
gốc và phơng pháp hoàn trả
Theo mục đích việc cho vay bao gồm: cho vay bất động sản, cho vay
thơng mại, cho vay cá nhân, cho vay nông nghiệp, cho vay thuê mua và
khác.
Theo kỳ hạn: ngân hàng cung cấp các loại cho vay ngắn hạn (loại
cho vay này nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán tạm thời, tiêu dùng và đầu t
ngắn hạn, thời hạn dới 1 năm); cho vay trung và dài hạn (loại cho vay này
phục vụ mục tiêu đầu t trung và dài hạn của khách hàng, thời hạn thờng trên
1 năm).
Theo hình thức bảo đảm, khoản mục cho vay sẽ bao gồm:
Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay có bảo đảm bằng tài sản thế
chấp; tài sản cầm cố; đợc sự bảo lãnh của của ngời thứ ba.
Cho vay không có bảo đảm (tín chấp): là loại cho vay không có
tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của ngời thứ ba, mà việc cho
vay chỉ dựa trên uy tín của bản thân khách hàng.
Theo phơng pháp hoàn trả, khoản mục cho vay sẽ bao gồm:
Cho vay trả góp (khách hàng phải trả vốn gốc và lãi theo định
kỳ).
8
Cho vay phi trả góp (khách hàng thanh toán một lần theo kỳ hạn
đã thoả thuận).
Cho vay hoàn trả theo yêu cầu (khách hàng vay có thể hoàn trả
bất cứ lúc nào khi có thu nhập).
Hai là tiến hành đầu t
Đi đôi với sự phát triển của xã hội là sự xuất hiện của hàng loạt
những nhu cầu khác nhau. Với t cách là một chủ thể hoạt động trong lĩnh
vực dịch vụ dịch vụ, đòi hỏi Ngân hàng phải luôn nắm bắt đợc thông tin, đa
dạng các nghiệp vụ để cung cấp đầy đủ kịp thời nguồn vốn cho nền kinh tế.
Ngoài hình thức phổ biến là cho vay, ngân hàng còn sử dụng vốn để đầu t.
Có 2 hình thức chủ yếu mà các ngân hàng thơng mại có thể tiến hành là:
Đầu t vào mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu t góp
vốn vào các doanh nghiệp, các công ty khác.
Đầu t vào trang thiết bị TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng.
Ba là nghiệp vụ ngân quỹ.
Lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng mà các chủ thể khi tham gia
tiến hành sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, đằng sau mục tiêu lớn lao ấy là
hàng loạt các nhân tố cần quan tâm. Một trong những nhân tố đó là tính an
toàn. Nghề ngân hàng là một nghề kinh doanh đầy mạo hiểm, trong hoạt
động của mình, ngân hàng không thể bỏ qua sự an toàn. Vì vậy, ngoài
việc cho vay và đầu t để thu đợc lợi nhuận, ngân hàng còn phải sử dụng một
phần nguồn vốn huy động đợc để đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán
và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do Trung ơng đề ra.
c. Nghiệp vụ khác.
9
Là trung gian tài chính, ngân hàng có rất nhiều các lợi thế. Một trong
những lợi thế đó là hình thức ngân hàng đóng vai trò trung gian tiến hành các
hoạt động thanh toán cho khách hàng thông qua các hình thức nh séc, thẻ thanh
toán uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thẻ tín dụng hoặc dựa trên việc hạch toán vào
các tài khoản có liên quan đến đối tợng đó. Cụ thể:
Dịch vụ thanh toán hộ: trên cơ sở khách hàng gửi tiền và mở tài
khoản giao dịch tại ngân hàng, ngân hàng có thể đứng ra thanh toán hộ cho
khách hàng của mình về các khoản tiền mua bán, dịch vụ thông qua việc
thu hộ, chi hộ khách hàng bằng các hình thức trên.
Dịch vụ môi giới, mua, bán chứng cho khách hàng và làm đại lý phát
hành chứng khoán cho công ty.
Các nghiệp vụ trung gian khác: dịch vụ uỷ thác, bảo quản hộ các
chứng từ có giá cho khách hàng thuê két sắt. Ngoài ra, ngân hàng còn thực
hiện một số dịch vụ trung gian khác.
Tóm lại, ba nghiệp vụ trên nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo cho ngân hàng
tồn tại và phát triển vững mạnh trong môi trờng cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Vì các nghiệp vụ trên có mối liên hệ chặt chẽ thờng xuyên tác động qua lại với
nhau. Nguồn vốn huy động ảnh hởng tới quyết định sử dụng vốn, ngợc lại nhu
cầu sử dụng vốn ảnh hởng tới quy mô, cơ cấu của nguồn vốn huy động. Các
nghiệp vụ trung gian tạo thêm thu nhập cho ngân hàng nhng mục đích chính là
thu hút khách hàng, qua đó tạo điều kiện cho việc huy động và sử dụng vốn có
hiệu quả.
1.1.3. Vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế.
NHTM ra đời do yêu cầu của sự phát triển của nền kinh tế: cơ sở nền sản
xuất và lu thông hàng hoá, và nền kinh tế ngày càng phát triển càng cần đến
hoạt động của các NHTM. Thông qua việc thực hiện các chức năng, vai trò của
mình nhất là chức năng trung gian tín dụng NHTM đã trở thành một bộ phận
thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Sự đóng góp này thể hiện nh sau:
Thứ nhất ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế.
10
Vốn đợc tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân,
doanh nghiệp và Nhà nớc trong nền kinh tế. Theo sự suy luận này, muốn có
nhiều vốn phải tăng thu nhập quốc dân, giảm nhịp độ tiêu dùng. Tăng thu
nhập quốc dân đồng nghĩa với việc mở rộng quy mô về cả chiều rộng lẫn
chiều sâu của sản xuất và lu thông hàng hoá, song khi đẩy mạnh sự phát
triển của các ngành trong nền kinh tế cần thiết phải có vốn. Khi nền kinh tế
ngày càng phát triển sẽ tạo ra càng nhiều nguồn vốn. Ngân hàng huy động
các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần
kinh tế (vốn tạm thời nhàn rỗi đợc giải phóng từ quá trình sản xuất, từ
nguồn tiết kiệm của dân c ) thông qua các nghiệp vụ đặc biệt là tín dụng,
ngân hàng thơng mại đã cung cấp vốn cho nền kinh tế, đáp ứng đầy đủ kịp
thời cho quá trình tái sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả của cả nền kinh
tế. Vì vậy, chúng ta có thể khẳng định chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn
cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính là ngân hàng thơng mại.
Thứ hai, ngân hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trờng .
Nh chúng ta đã biết, nền kinh tế thị trờng là nền kinh tế trong quá
trình vận động chịu tác động của rất nhiều các quy luật kinh tế khách quan
nh quy luật cung, cầu, cạnh tranh. Các doanh nghiệp hoạt động trong nền
kinh tế này cũng không thoát khỏi sự tác động mạnh mẽ của các quy luật
kinh tế khách quan đó. Họ không những phải đáp ứng nhu cầu thị trờng về
phơng diện giá cả, khối lợng, chất lợng, chủng loại mà còn đòi hỏi phải thoả
mãn trên phơng diện thời gian, địa điểm. Do vậy, nâng cao chất lợng lao
động, củng cố và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, cải tiến máy móc trang
thiết bị, tìm tòi sử dụng các nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất
một cách thích hợp chính là nhân tố quan trọng giúp doanh nghiệp đáp ứng
một cách tốt nhất các yêu cầu của thị trờng. Vì những hoạt động này đòi hỏi
khối lợng vốn lớn (thông thờng vợt quá khả năng vốn tự có của doanh
nghiệp). Giải quyết khó khăn này, doanh nghiệp có thể tìm đến với ngân
hàng xin vay vốn. Hoạt động tín dụng đã khiến ngân hàng trở thành chiếc
11
cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trờng, tạo chỗ đứng vững chắc trong cạnh
tranh của ngân hàng.
Thứ ba, NHTM là công cụ để Nhà nớc điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trờng, hoạt động của NHTM
nếu có hiệu quả sẽ thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để Nhà nớc điều tiết vĩ
mô nền kinh tế. Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM
trong hệ thống, các NHTM đã góp phần mở rộng hay thu hẹp lợng tiền trong
lu thông. Hơn nữa, bằng việc cấp các khoản tín dụng cho nền kinh tế, NHTM
thực hiện việc dắt dẫn các luồng tiền, tập hợp, phân chia vốn của thị trờng
điều khiển chúng một cách có hiệu quả, thực thi vai trò điều tiết vĩ mô đúng
theo phơng châm Nhà nớc điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị tr-
ờng.
Thứ t, NHTM là cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với nền tài
chính quốc tế.
Xu thế chung hiện nay là toàn cầu hoá, khu vực hoá, sự phát triển của
các quốc gia không thể tách rời, độc lập riêng biệt mà luôn cần phải có sự gia
lu hợp tác tơng trợ lẫn nhau. Chính xu thế đó đã khiến các quốc gia tuy cách
xa nhau về mặt địa lý vẫn xích lại gần nhau hơn. Xu thế này xuất hiện trong
nền kinh tế thị trờng, khi mà các mối giao lu quan hệ hàng hoá tiền tệ ngày
càng đợc mở rộng thì nhu cầu giao lu kinh tế xã hội giữa các nớc trên thế giới
lại ngày càng trở nên bức bách. Bởi sự phát triển của nền kinh tế mỗi quốc
gia luôn gắn với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận
không thể thiếu, cấu thành nên sự phát triển đó. NHTM với các hoạt động
nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các
nghiệp vụ khác nó đã góp phần thúc đẩy ngoại thơng mở rộng, thực hiện vai
trò điều tiết nền tài chính trong nớc phù hợp với sự vận động của nền tài
chính quốc tế.
1.2. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thơng
mại.
12
Nh trình bày ở phần trên sự ra đời và phát triển của ngân hàng là tất yếu
đối với nền sản xuất và lu thông hàng hoá. Vậy những yếu tố nào cấu thành nên
điều tất yếu đó? Mọi sự vật hiện tợng luôn tồn tại trong mối quan hệ biện
chứng, tác động qua lại lẫn nhau, sự vật này tồn tại đợc là nhờ có sự tồn tại của
sự vật khác mà theo nh các quy luật của lĩnh vực triết học là cái chung và cái
riêng. Bản thân ngân hàng, để đợc coi là bà đỡ cho nền sản xuất hàng hoá,
hay trái tim cung cấp máu cho mọi tế bào của đời sống kinh tế xã hội, thì
hoạt động huy động vốn không thể đứng ngoài.
1.2.1. Khái niệm về vốn của ngân hàng th ơng mại.
NHTM là một trung gian tài chính, ở mỗi nớc khác nhau các trung gian
tài chính lại đợc phân chia khác nhau. Tuy nhiên, luôn tồn tại một điểm chung
là vai trò chủ đạo của các ngân hàng thơng mại đóng góp khối lợng tài sản và
tầm quan trọng đối với nền kinh tế. Để có đợc vị trí đó NHTM phải đặt yếu tố
lợi nhuận lên hàng đầu và công cụ duy nhất mà các NHTM phải có trớc tiên là
vốn.
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng thơng mại tạo lập
hoặc huy động đợc, dùng để cho vay, đầu t hoặc để thực hiện các dịch vụ kinh
doanh khác.
Về thực chất, thì nguồn vốn của ngân hàng là một bộ phận thu nhập quốc
dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất phân phối và tiêu dùng, mà ngời
chủ sở hữu để thực hiện các mục đích khác nhau gửi vào ngân hàng. Nh vậy
ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn dới hình thức tiền
tệ, tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ kích thích mọi hoạt động
kinh tế phát triển.
1.2.2. Phân loại nguồn vốn của ngân hàng th ơng mại.
Một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, thu đợc lợi nhuận cao là một
doanh nghiệp biết tận dụng mọi khả năng, nắm bắt thông tin chớp mọi thời
cơ. Với ngân hàng, khả năng hàm chứa những nhân tố bản thân ngân hàng
13
sẵn có và đi khai thác. Vốn chính là khả năng của ngân hàng. Trong tổng
nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, mỗi loại lại có những tính chất và vai trò
riêng, do vậy nhiệm vụ của ngân hàng là phải biết phân loại vốn đầu vào, trên
cơ sở đó sẽ phân bổ đầu ra một cách hợp lý. Xét về kết cấu và tính chất vốn
kinh doanh của ngân hàng thơng mại bao gồm: vốn tự có, vốn huy động, vốn đi
vay, vốn khác. Thông thờng nguồn vốn của NHTM đợc phân chia nh sau:
a. Vốn tự có (Vốn CSH)
Đây là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của ngân hàng, chỉ chiếm một tỷ
trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn, có 3 chức năng quan trọng khiến nó không
thể thiếu trong hoạt động của mỗi ngân hàng: chức năng bảo vệ, chức năng điều
chỉnh, chức năng hoạt động. Ba chức năng này đã giúp ngân hàng có thể đi vào
hoạt động và đảm bảo an toàn cho quá trình hoạt động. Vốn tự có gồm:
Vốn tự có ban đầu:
Vốn này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ và là điều kiện pháp lý bắt buộc khi
bắt đầu thành lập ngân hàng. Nó đợc hình thành từ cá nhân (NHTM t nhân),
do ngân sách Nhà nớc cấp (NHTM quốc doanh), do bán cổ phần, cổ phiếu
(NHTM cổ phần), từ sự đóng góp giữa các bên (NHTM liên doanh).
Vốn tự có bổ sung trong quá trình hoạt động:
Vốn này có thể là đợc cấp thêm (bổ sung không mang tính chất th-
ờng xuyên vì nó chỉ có đợc khi cấp thêm, bán thêm cổ phần, cổ phiếu), bổ
sung từ lợi nhuận (mang tính chất thờng xuyên và chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong vốn tự có của ngân hàng thơng mại). Ngoài ra, vốn tự có còn đợc bổ
sung từ quỹ phúc lợi, khen thởng, dự phòng rủi ro (mỗi ngân hàng khác
nhau sẽ quy định một tỷ lệ trích lập riêng), quỹ thặng d vốn (phần chênh
lệch đánh giá lại tài sản mang lại, nó phụ thuộc vào khả năng đầu cơ của
mỗi hoạt động của mỗi NHTM).Tuy nguồn gốc hình thành của vốn tự có
khác nhau nhng chúng đều có điểm chung sau:
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét