Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Phân tích tính tất yếu khách quan, đặc điemt kinh tế thị trường XHCN ở Việt Nam và các giải pháp phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
giữa các đơn vị kinh tế vì vậy kinh tế tự nhiên là nền kinh tế hiện vật và khép
kín ,với công nghệ , kỹ thuật lạc hậu ,thủ công phụ thuộc nhiều vào tự nhiên .
sản xuất phân tán , đời sống còn bấp bênh . ngày nay ở các nớccó nền KT
nông nghiệp là chủ yếu vãn còn mang nặng của nền kinh tế tự nhiên .
Thứ hai : Kinh tế hàng hoá với cơ chế thị trờng .
Kinh tế hàng hoá kà một kiểu tổ chức KT-XH mà trong đó hình thái
phổ biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm để bán ,để trao đổỉ . Kinh tế
hàng hoá đối lập với kinh tế tự nhiên , nó là loại hình kinh tế tiến hành sản
xuất sản phẩm để bán trên thị trờng . Kinh tế hàng hoá cũng dối lập với kinh
tế chỉ huy . nếu nền kinh tế chỉ huy là nền kinh tế đợc điều tiết bởi cơ chế kế
hoạch hoá tập trung thì kinh tế hàng hoá đợc điều tiết bởi cơ chế thị trờng ,hay
vận động theo cơ chế thị trờng . sự phân công lao động xã hội và chế độ t hữu
về t liệu sản xuát là điều kiện ra đời và đảm bảo sự tồn tại của kinh tế hàng
hoá .
Trong kinh tế hàng hoá thị trờng có vai trò quan trọng
Trớc hết thị trờng là điều kiện , môi trờng của sản xuất hàng hoá .
Thông qua thị trờng các chủ thẻ kinh doanh có đợc các yếu tố đảm bảo sản
xuất ,đảm bảo tiêu thụ sản phẩm , mua các hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ .
Đây chính là điều kiện thực hiện quá trình tái sản xuất ,. Thông qua thị trờng
các nhà sản xuất thấy đợc cần phải sản xuất cái gì , sản xuất nh thế nào và sản
xuất cho ai để đạt đợc hiệu quả cao nhất Sự cạnh tranh của thị trờng sẽ đòi
hỏi các doanh nghiệp tính năng động , sáng tạo trong sản xuất kinh doanh ,
thúc đẩy cải tiến kỹ thuật ,đổi mới công nghệ là động lực thúc đẩy lực lợng
sản xuất phát triển nhanh chóng . Ngoài ra thị trờng còn thực hiện chức năng
phân phối và đảm bảo sự liên hệ giữa nền kinh tế đất nơc với nến kinh tế thế
giới và sự cân bằng giữa hai thị trờng đó. Với vai trò và ý nghĩa nh vậy của thị
trờng , để phát triển kinh tế hàng hoá ở nớc tacần chú trọng đẩy mạnh sự phát
triển của các loại thị trờng .
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ở nớc ta nền kinh tế mà Đảng ta chủ trơng xây dựng và phát triển trong
thời kỳ quá độ lên CNXH là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động
theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN
Kinh tế hàng hoá là mô hình kinh tế tồn tại trong xã hội TBCN và
thời kỳ đầu của xã hội XHCN . Trong thời đại ngày nay bất kỳ quốc gia nào
phát triển kinh tế thị trờng đều có sự đièu tiết của nhà nớc nhng theo những
mức độ và định hớng khác nhau : Kinh tế thị trờng TBCN gắn với giai cấp T
Sản , kinh tế thị ttrờng XHCN định hớng theo mụctiêu CNXH CNCS .
3. Kinh tế thị trờng :
Với sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất kinh tế tự nhiên bị
đẩy lùi và thay thế cho nó là nền kinh tế hàng hoá . Sự ra đời của kinh tế hàng
hoá với những mặt tích cực lại là để thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển và
cùng với quá trình này cơ chế thị trờng xuất hiện điều tiết nền kinh tế nhằm
đảm bảo thoả mãn tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của con ngời cũng nh những
mối quan hệ phc tạp vốn có của nền kinh tế .
Kinh tế thị trờng phát triển ở các nớc với những trình độ , tính chất
akhông giống nhau nhng nhìn chung nó có những u điểm là:
Một là: Kinh tế thị trờng là một nền kinh tế mở , hoạt động theo quan
hệ cung cầu, cạnh tranh , giá cả do đó thúc đẩy quá trình xã họi hoá sản xuất
nhanh chóng , làm cho sự phân công lao động , chuyên môn hoá sản xuất
ngày càng sâu sắc , hình thành các mối liên hệ kinh tế và sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa các doanh nghiệp , ngời tiêu dùng và thị trờng tạo tiền đề cho sự
hợp tác lao động ngày càng chặt chẽ .
Hai là: Sự cạnh tranh để giành lợi nhuận trên thị trờng đã thúc đẩy sự
phat triển của lực lợng sản xuất, biểu hiện ở chỗ thúc đẩy các cơ sở kinh tế
ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phân
công lao động xã hội phát triển, buộc ngời sản xuất hàng hoá phải nâng cao
trình độ chuyên môn, từ đó nâng cao năng suất chất lợng, hiệu quả, gắn ngời
sản xuất với thị trờng, đáp ứng tốt mọi nhu cầu của đời sống xã hội
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ba là: Thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất. Mơ rộng giao lu
kinh tế trong nớc và hội nhập với nền kinh tế thế giới tranh thủ các điều kiện
thuận lợi về vốn, KHKT, công nghệ quản lý để thực hiện công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nớc.
Bốn là: Giải phóng các mối quan hệ kinh tế ra khỏi sự trói buộc của nền
sản xuất khép kín đã từng kìm hãm của lực lợng sản xuất tạo những điều
kiện cần thiết cho việc tổ chức và quản lý nền kinh tế phat triển ơ trình độ cao
thực hiện dới hình thức quan hệ hàng hoá tiền tệ.
Bên cạnh những u điểm của nền kinh tế thị trờng còn tồn tại những
khuyết tật nh tình trạng khung hoảng, thất nghiệp, nó cho phép không chỉ mua
và bán các mặt hang thông dụng mà bán cả sức lao động chân tay và trí óc để
bóc lột giá trị thặng d, cả những giá trị quý giá nhất thuộc về nhân phẩm nhân
cách con ngời, thậm chí cả các bí mật quân sự, bí mật quốc gia, quyền lực và
luật pháp nếu con ngời bị đồng tiền mua chuộc mà tha hoá biến chất.
Cơ chế thị trờng thúc đẩy sự phân hoá giau nghèo, cho phép làm giàu
không chỉ bằng nguồn vốn và năng lực kinh doanh mà cả bằng các thủ đoạn
lừa gạt, xảo trá. Cơ chế thị trờng với tâm lý sùng bái đồng tiền có thể đặt xã
hội vào nguy cơ lũng đoạn làm băng hoại mọi giá trị đạo đức và nhân phẩm
con ngời. Bên cạnh đó kinh tế thị trờng chạy theo lợi nhuận có thẻ dẫn đến
phân hoá giàu nghèo, bất bình đẳng và huỷ hoại môi trờng sống
Vì vậy không đợc lý tởng hoá hoặc tuyệt đối một chiều những thành tựu
hay các khuyết tật của nó. Để phát huy những mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu
cực của kinh tế thị trờng cần có sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc.
II. Kinh tế thị trờng định hớng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
1. Tính tất yếu khách quan:
Cách mạng tháng Mời Nga thanh công đã mở ra một chế độ xã hội mới
với những mặt u việt của nó. Liên bang Xô Viết và hệ thống các nớc Xã hội
chủ nghĩa ở Đông Âu đã đạt đợc những thành tựu to lớn với việc áp dụng mô
hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung và đa chủ nghĩa xã hội trở thành hệ thống
đối lập, phát triển song song với hệ thống T Bản Chủ Nghĩa.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Việt nam trớc bối cảnh kinh tế thế giới phát triển theo hai chiều hớng
Xã hội chủ nghĩa và T bản chủ nghĩa. Mặt khác tình hình kinh tế chính trị
trong nớc có nhiều khó khăn do đó Đảng Nhà nứơc va nhân dân đã thống nhất
đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, gắn nhiệm vụ độc lập dân tộc với xây dựng
Xã hội chủ nghĩa.
Việc ap dụng mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, đặt dới sụ lãnh
đạo thông nhất của Đảng và Nhà nớc theo kế hoạch tập trung nguồn lực để
giải phóng dân tộc và phát triển đất nứơc. Trong tinh hình hình ấy mô hình kế
hoạch hoá tập trung đã tỏ ra khá hiệu quả, giải quyết đợc những khó khăn đặc
biệt góp phần vào thắng lợi giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nớc.
Song do việc duy trì quá lâu và áp dụng một cách máy móc mô hình
kinh tế kế hoạch hoá tập trung của các nớc làm cho nền kinh tế suy thoái
khủng hoảng trầm trọng kéo dài trong suốt thập niên 70, 80, lạm phát gia tăng
giá cả đắt đỏ nền sản xuất đình trệ.
Trớc tình hình đó Đảng và Nhà nớc đã có những chính sách hợp lý,
khởi xớng công cuộc đổi mới chuyển đổi mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập
trung sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng
XHCN.
Từ Đại hội Đảng VI tháng 12/1986 trên cơ sở khẳng định nền kinh tế
nớc ta phát triển theo hớng nhiều thành phần, đa dạng hoá các loại hình sở hữu
gắn với các loại hình sản xuất kinh doanh. Đảng ta đã chỉ rõ kinh tế xã hội chủ
nghĩa bao gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thể cùng với bộ phận kinh
tế gia đình gắn liền với thành phần kinh tế đó.
Các thành phần kinh tế khác bao gồm: kinh tế t bản t nhân, kinh tế t bản
nhà nớc, kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc.
Việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế
thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta
là tất yếu do trong nội tại nền kinh tế đất nớc còn tồn tại những điều kiện
khách quan.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Đi lên xây dựng đất nớc từ một nền kinh tế kém phát triển kỹ thuật thủ
công lạc hậu, năng xuất , hiệu quả thấp do chúng ta đã có thời kỳ dài chịu sự
đô hộ của thực dân đế quốc với sự khai thác bóc lột đến cạn kệt cả sức ngời và
nguồn tài nguyên lại chịu sự tài phá nặng nề của hai cuộc chiến tranh ác liệt
cả về nhân lực và vật lực. Công cuộc đổi mới tuy đã đạt đợc những thành tựu
đáng kể song nền kinh tế vẫn tồn tại sự phân công lao động, sự t hữu về t liệu
sản xuất khá mạnh mẽ và sâu sắc, còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều
hình thức sản xuất kinh doanh.
Trên cơ sở xem xét quá trình vận động và phát triển các thành phần
kinh tế ở nớc ta qua việc thực hiện nhất quán chính sách về kinh tế nhiều
thành phần Đảng và nhà nớc đã tiếp tục khẳng định sự phát triển của kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của
nhà nớc, hiện nay chúng ta đã xác định có các thành phần kinh tế sau:
Kinh tế nhà nớc, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế t bản t
nhân, kinh tế t bản nhà nớc và thành phần kinh tế có vốn đầu t của nớc ngoài.
Song song với việc phát triển kinh tế nhiều thành phần là sự tồn tại
nhiều hình thức sở hữu: sở hữu nhà nớc, sở hữu t bản t nhân, sở hữu hỗn hợp
Vấn đề sở hữu có liên quan đến các thành phần kinh tế, vì nó là cơ sở kinh tế -
một căn cứ để xác định thành phần kinh tế. Thời kỳ quá độ mỗi phơng thức
sản xuất chỉ tồn tại với t cách là một bộ phận hợp thành kết cấu kinh tế xã hội,
chúng vừa có tính độc lập tơng đối vừa tác động lẫn nhau, vừa hợp tác vừa đấu
tranh với nhau. Hơn nữa ở nớc ta trình độ xã hội hoá giữa các ngành các đơn
vị sản xuất kinh doanh trong cùng một thành phần kinh tế vẫn ch a đồng đều.
Do vậy việc hạch toán kinh doanh phân phối và trao đổi sản phẩm lao động tất
yếu phải thông qua hình thái hàng hoá tiền tệ, để thực hiện các mối quan hệ
kinh tế, đảm bảo lợi ích kinh tế giữa các tổ chức kinh tế thuộc các thành phần
với nhau.
ở nớc ta phân công lao động xã hội với t cách là cơ sở kinh tế của sản
xuất hàng hoá chẳng những không mất đi trái lại ngày càng phát triển cả về
chiều rộng lẫn chiều sâu. Nớc ta thuộc khối các nớc đang phát triển do đó
ngày càng có nhiều ngành nghề mới ra đời và phát triển. Bên cạnh đó những
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ngành nghề truyền thống có tiếng không chỉ trong nớc mà cả trên thế giới, có
tiềm năng lớn mà trớc đâybị cơ chế kinh tế cũ làm mai một nay đợc khôi phục
và phát triển. Trong nội bộ từng ngành, từng khu vực địa phơng phân công lao
động ngày càng chi tiết hơn. Điều đó đợc phản ánh tính phong phú, đa dạng
và chất lợng cao hơn của sản phẩm lao động đa ra thị trờng. Sự chuyên môn
hoá và hiệp tác lao động đã vợt khỏi phạm vi quốc gia, trở thành phân công
lao động trên phạm vi quốc tế. Việc phát triển kinh tế hàng hoá - kinh tế thị tr-
ờng là điều kiện, cơ hội để giao lu, trao đổi tiếp thu khoa học công nghệ thu
hút vốn đồng thời thị trờng thế giới là điều kiện để nớc ta thực hiện chiến lợc
hớng ra xuất khẩu.
Nh vậy nếu xuất phát từ ý muốn chủ quan thu hẹp hay cản trở quá trình
tiền tệ hoá các mối quan hệ kinh tế trong giai đoạn lịch sử hiện nay bằng
những hình thức khác nhau sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế nớc ta.
Do đó chúng ta cần chủ động có những chính sách hợp lý để khuyến khích sự
phát triển của các thành phần kinh tế đúng mức, đúng hớng, theo nguyên tắc
tự nhiên của kinh tế: có nhu cầu xã hội thì tất yếu có ngời đáp ứng yêu cầu đó
và ngời nào thoả mãn tốt hơn, tốt nhất nhu cầu xã hội sẽ tồn tại phát triển.
Việc chuyển đổi mô hình kinh tế hợp lý đa đất nớc thoát khỏi khủng
hoảng:
Trớc đây chúng ta đã thực hiện kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ,
thuần khiết và cho rằng chủ nghĩa xã hội càng cần thiết càng tốt trong khi mà
chúng ta cha đạt đợc sự phát triển cần thiết của lực lợng sản xuất do đó việc
áp dụng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa: sở hữu phân phối (sở hữu toàn
dân, tập thể; phân phối bao cấp bằng hiện vật) đã làm triệt tiêu mọi quan hệ
trao đổi hàng hoá trên thị trờng. Việc sản xuất kinh doanh đợc thực hiện theo
chỉ tiêu, xác lệnh thống nhất từ trung ơng đến dịa phơng. Các cơ sở sản xuất
hoạt động với sự đầu t trực tiếp của nhà nớc, lãi nộp nhà nớc, lỗ nhà nớc bù đã
làm mất đi tính sáng tạo, năng động, hiệu quả của quan hệ sản xuất do đó
trong một thời gian dài các cơ sở sản xuất của nớc ta hoạt động không có hiệu
quả và thờng xuyên bị thâm hụt ngân sách. Điều này trái với quan điểm của
Lênin khi ngời đã rút ra kết luận quan trọng: chính bản thân cuộc sống đã làm
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
phá vỡ việc trao đổi trực tiếp và thay vào đó là việc mua bán. Trong chính sách
kinh tế mới ngời đã cho rằng nhà nớc phải tập trung sức mạnh để nắm lấy
khâu trao đổi và lu thông hàng hoá - đây là một mắt xích quan trọng và cũng
trong chính sách này ngời đã cho thiết lập lại các quan hệ buôn bán trao đổil;
sự phát triển kinh tế tiểu t sản ở nớc Nga mà trong chính sách cộng sản thời
chiến trớc đây bác bỏ
Nớc ta đi lên từ sản xuất nhỏ tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa thực
hiện bớc quá độ bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa với t cách là một chế độ chính
trị, một phơng thức sản xuất thống trị chứ không phải quá trình phủ định sạch
trơn. Với ý nghĩa nh vậy chúng ta cần phải kế thừa và phát huy những mặt tích
cực. Kinh tế thị trờng không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa t bản mà
đã trở thành thành tựu công nghệ chung của nhân loại. Nhng vấn đề đặt ra là
chúng ta phải thực hiện nh thế nào để vừa phát triển đất nớc vừa đảm bảo định
hớng xã hội chủ nghĩa.
Thực tế qua nhiều năm đổi mới kinh tế nớc ta đã có bớc chuyển biến rõ
nét: trớc năm 1985 Việt Nam căn bản là một nớc nông nghiệp và sản xuất
nông nghiệp đợc xem là mặt trận hàng đầu. Qua những năm 1985-1990 mặc
dầu đã có những đổi mới kinh tế trong nền kinh tế nhng cơ cấu kinh tế trong
phạm vi cả nớc vẫn cha có chuyển dịch đáng kể. Từ năm 1990 đến nay cơ cấu
kinh tế của Việt Nam đã có xu hớng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp,
dịch vụ: tỷ trọng công nghiệp và xây dựng cơ bản trong GDP từ 22,7% năm
1990 lên 30,7% năm 1996, tỷ trọng dịch vụ từ 38,6% lên 42,1% về nông -
lâm- ng nghiệp giảm từ 38,7% xuống 27,2%. Đến năm 1997 cả nớc đã hình
thành 33 khu công nghiệp và khu chế xuất. Đến cuối của thập niên 90 Việt
Nam đã mở rộng quan hệ ngoại giao với 156 quốc gia, trao đổi hàng hoá th-
ơng mại với hơn 120 nớc, gần 60 nớc có quan hệ đầu t trực tiếp vào Việt Nam.
Đặc biệt là việc tham gia vào tổ chức ASEAN, bình thờng hoá quan hệ Việt
-Mỹ, và dự định tham gia tổ chức AFTA vào năm 2006.
Quy mô GDP của Việt Nam đến cuối năm 1996 đã đạt gần 20 tỷ USD.
Quy mô vốn đầu t nớc ngoài vào Việt Nam đợc cấp đến tháng 8/1997 đã vợt
trên 3 tỷ USD. Trong vài năm 1986 - 1996 mức gia tăng xuất khẩu bình quân
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
gần 25% mỗi năm (xuất khẩu gạo đã vợt 3 triệu tấn năm 1996, ngoài ra còn
dầu thô, cà phê, cao su, hàng dệt may xuất khẩu với khối lợng lớn nằm trong
số những mặt hàng xuất khẩu chủ lực).
Nh vậy từ nhận thức và thực tiễn phát triển cho thấy việc phát triển kinh
tế hàng hoá - kinh tế thị trờng là phù hợp với thực tế khách quan của đất nớc
và việc đòi hỏi cần có sự điều tiết của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ
nghĩa là tất yếu.
2. Đặc điểm về kinh tế thị trờng ở các nớc trên thế giới.
Kinh tế thị trờng đã xuât hiện từ xa xa trong lịch sử kinh tế nhng chỉ
thực sự phát triển mạnh mẽ phong phú trong vài trăm năm gần đây. Gần nh
hầu hết các nớc trên thế giới ngày nay đều theo mô hình kinh tế thị trờng với
những đặc trng và màu sắc riêng của mỗi quốc gia. Kinh tế thị trờng của các
nớc Tây âu có những nét đặc trng riêng không giống mô hình của Mỹ và Nhật.
Trung Quốc ngay nay cũng phát triển kinh tế thị trờng nhng mang màu sắc
Trung Quốc.
Song trên bình diện tổng quát , kinh tế thị trờng đều có điểm tơng đồng:
vừa có bàn tay vô hình của thị trờng tác động, tự điều chỉnh, vừa có sự can
thiệp điều tiết của nhà nớc. Trên thế giới ngày nay hầu nh không nớc nào
không có sự can thiệp, quản lý của nhà nớc đối với kinh tế thị trờng. Thực tiễn
cuộc sống cũng đã chỉ rõ phải có bàn tay của Nhà nớc đối với kinh tế thị tr-
ờng dù phát triển theo khuynh hớng nào, mục tiêu nào. Mặt khác một điều
cầnphải khẳng định là mô hình kinh tế của các nớc trên thế giới ngày nay dù
phát triển và hoàn hảo đến mức nào cũng không phải là thiên đờng mà không
có khuyết tật nhất định. Ngay các nhà kinh tế của các nớc phơng tây cũng phải
thừa nhận nhợc điểm trong các mô hình kinh tế là: bất kham, không kiểm soát
đợc hai tính chất hoang dã, man rợ của nó. Theo thời gian kinh tế thị trờng
ngày càng bộc lộ nguyên hình những mặt trái của nó: nạn thất nghiệp, bất
công xã hội, phân hoá giai cấp sâu sắc, tình trạng tội phạm và cũng từ đó
cho thấy kinh tế thị trờng không phải là thiên đờng trên thế giới ngày nay.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Khái quát lại có thể nói kinh tế thị trờng hiện đại ở các nớc trên thế giới
ngày nay mặc dù có những nét cơ bản (sự can thiệp của nhà nớc , kết hợp thị
trờng và nhà nớc ) tuy rất phong phú, đa dạng, muôn hình muôn vẻ và không
có mô hình lý tởng chung cho tất cả các nớc. có nớc tăng trởng với tốc độ cao,
nớc khác tăng trởng thấp hơn, có nớc sau một khoảng thời gian lịch sử vợt nên
các nớc khác, có nớc lại thuận lợi phía sau nh trờng hợp Thái Lan và
Philipphins, có nớc chuyển sang kinh tế thị trờng thành công, nhng nớc khác
lại không thành công hay thành công với những mức độ khác nhau.
Kinh tế thị trờng hiện đại phát triển vào khoảng những năm 50 của thế
kỷ 20 với đặc trng: nhà nớc can thiệp tích cực mạnh mẽ vào kinh tế và mở
rộng giao lu kinh tế với nớc ngoài, trong khi ở các giai đoạn trớc đó ( khoảng
cuối thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20), kinh tế thị trờng cũng do phát triển theo
tinh thần tự do, nhà nớc không can thiệp vào kinh tế mà chỉ làm các chức năng
truyền thống của nhà nớc pháp quyền:
- Bảo vệ quyền sở hữu đối với nhà kinh doanh (ngời canh gác trong
kinh tế thị trờng ).
- Nhà nớc bảo đảm an ninh chính trị, quốc phòng, an toàn xã hội, tạo
môi trờng thuận lợi cho các doanh nghiệp.
- Xử lý các tranh chấp kinh doanh và vi phạm pháp luật.
3. Đặc điểm kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Vấn đề định hớng xã hội chủ nghĩa trong cơ chế thị trờng.
Sự phát triển của lực lợng sản xuất đã kéo theo những biến đổi sâu rộng
trong cơ cấu xã hội - giai cấp đang tạo ra xu hớng phát triển mới của nhân
loại, xu hớng này tồn tại khách quan ngay trong lòng mỗi xã hội, bên ngoài ý
chí của các lực lợng cầm quyền. Ngày nay việc phát triển kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan.
Thứ nhất: thế giới ngày nay do phát triển về lực lợng sản xuất, khoa học
công nghệ mà giàu có rất nhanh, nhng đi liền đó làm bất công xã hội cũng mở
rộng cùng với sự phát triển của kinh tế thị trờng.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Trong cuốn chống lại thời cơ chính cố tổng thống Mỹ Nich- Xơn đã
phải thừa nhận nớc Mỹ giàu nhất thế giới, chi phí y tế cao nhất thế giới tính
theo bình quân đầu ngời là 38 triệu ngời không đợc chăm sóc sức khoẻ vì
không có tiền; nớc giàu nhất thế giới mà lớp hạ đảng tồn tại lâu dài làm cho
những thành phố lớn của chúng ta mất an toàn và không sống yên ổn đợc.
Trong kinh tế thị trờng sự giàu có tăng lên đã không giảm đi sự bất công mà
trái lại trong chủ nghĩa t bản bất công là biểu hiện. Giải quyết mâu thuẫn này
không có cách nào khác là khi tăng trởng kinh tế phải đi liền với tiến bộ xã
hội. Công bằng xã hội đã trở thành đòi hỏi tất yếu của chính bản thân sự phát
triển kinh tế. Công bằng để phát triển và phát triển để thực hiện công bằng
không chỉ là khẩu hiệu mang tính đạo đức mà còn là động lực mạnh mẽ, thành
tố lợi sinh của sự phát triển kinh tế. Đây không chỉ là khát vọng lý tởng phấn
đấu của ngời cộng sản mà cònlà đòi hỏi tất yếu của sự phát triển kinh tế hiện
đại. Tất nhiên không phải sự công bằng lực lợng theo cách cào bằng sự siêng
lăng và biếng nhác, tích cực và tiêu cực, làm ăn có hiệu quả và kém cỏi Đều
hởng nh nhau, điều đó đã triệt tiêu động lực phấn đấu của con ngời mà một
thời chúng ta mắc phải ở mức độ này hay mức độ khác.
Thứ hai, kinh tế thị trờng với sự tăng trởng và phát triển của xã hội nói
chung.
Rất nhiều quốc gia t bản tăng trởng kinh tế đã kèm theo khủng hoảng
xã hội về đạo đức và đời sống tinh thần. Ngay ở Mỹ một nghịch lý đã diễn ra
là nớc giàu nhất thế giới mà tội phạm cao nhất thế giới. Tăng trởng kinh tế
không có mục đích tự thân, tăng trởng kinh tế nhằm phát triển xã hội, phát
triển con ngời. Yêu cầu khách quan của cuộc sống hiện đại là tăng trởng kinh
tế gắn liền với tiến bộ xã hội. Tiến bộ xã hội là kết quả nhng đồng thời cũng là
động lực, yếu tố nội tại của sự phát triển kinh tế. Vì vậy việc vận dụng kinh tế
thị trờng và phát triển kinh tế sao cho đạt đợc hiệu quả thích hợp giữa tăng tr-
ởng kinh tế và tiến bộ xã hội.
Thứ ba, thời đại ngày nay tăng trởng kinh tế đòi hỏi phải bảo vệ môi tr-
ờng sinh thái.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét