Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
I - Lời mở đầu
Hiện nay, có rất nhiều ngời và thậm chí cả sinh viên - những ngời mà đang đ-
ợc trang bị một cách khá đầy đủ kiến thức về kinh tế, văn hoá, xã hội vẫn không
hiểu rõ một cách chính xác bản chất hình thái Kinh tế - Xã hội (KT - XH) là gì và
có những hình thái KT - XH nào mà thế giới con ngời đã trải qua và có khá hơn thì
chỉ biết rằng xã hội con ngời đã trải qua các chế độ nào.
Ngay chính bản thân em, cũng chỉ biết rằng mình đang sống trong chế độ
XHCN nhng cũng cha hiểu rõ đợc bản chất của hình thái KT - XH. Và khi đợc học
môn Triết về phần hình thái KT - XH em mới thấy hết đợc ý nghĩa của nó, nó
không đơn thuần chỉ là một khái niệm, cũng không là một cái gì cụ thể mà nó nh
là một cái gì đó vận động. Và việc vận dụng học thuyết Mác về học thuyết kinh tế
- xã hội là mục tiêu để nhanh chóng đạt đến trình độ của nớc phát triển. Đây là
mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nớc ta.
Do trình độ phạm vi nghiên cứu còn hạn hẹp với thời gian có hạn nên bài viết
không tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết cũng nh cha đáp ứng đủ yêu cầu
đòi hỏi của đề tài. Em rất mong đợc sự góp ý của các thầy cô để vốn kiến thức của
em đợc hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
I - Hình thái KT - XH
Trớc khi đi vào phân tích Sự phát triển của hình thái KT - XH là quá trình
lịch sử tự nhiên cần phải hiểu hình thái KT - XH là gì, kết cấu của nó nh thế nào?
Hình thái KT - XH là một phạm trù của CNDVLS dùng để chỉ xã hội ở từng giai
đoạn lịch sử nhất định với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trng cho mỗi xã hội đó,
phù hợp với một trình độ nhất định của lực lợng sản xuất và với một kiến thức th-
ợng tầng tơng ứng đợc xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó.
Tất nhiên những mặt trên là cơ bản, ngoài ra hình thái KT - XH còn bao gồm
cả những quan hệ về dân tộc, gia đình, lịch sử và các quan hệ khác. Các quan hệ
trên đây có vai trò độc lập nhất định, đồng thời cũng bị chi phối bởi những điều
kiện vật chất kinh tế cụ thể và những quan hệ cơ bản khác của xã hội.
Nh vậy, cấu trúc của hình thái KT - XH gồm: cơ sở hạ tầng và kiến trúc th-
ợng tầng; lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất; tồn tại xã hội.
1. Tồn tại xã hội.
Tồn tại xã hội là toàn bộ những yếu tố vật chất mà xã hội dựa vào để tồn tại
và phát triển. Nó tồn tại khách quan ngoài ý thức xã hội và quyết định ý thức xã
hội. Tồn tại xã hội bao gồm phơng thức sản xuất, điều kiện tự nhiên (hoàn cảnh
địa lý), dân số, trong đó phơng thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất, quy
định và chi phối hai yếu tố kia.
1.1. Trớc khi lo nghĩ đến những vấn đề chính trị, nghệ thuật, khoa học, thì
nhu cầu tối thiểu của một con ngời là phải ăn, uống, ở, mặc. Đây là những nhu cầu
đơn giản nhất nhng là thiết yếu nhất để con ngời có thể tồn tại. Tại sao lại bàn đến
con ngời ở đây. Bởi con ngời chính là trung tâm, là nguyên nhân, là một trong
những nhân tố tạo nên hình thái KT - XH. Những thứ cơ bản cho nhu cầu tồn tại
của con ngời hoàn toàn không có sẵn trong tự nhiên, mà con ngời muốn sống phải
sáng tạo lại hiện thực, những sản phẩm cần thiết để sống phải đợc tạo ra chứ
không có trong tự nhiên dới dạng trực tiếp sẵn có. Sống là phải sáng tạo và sáng
tạo một cách thực tiễn hay nói cách khác là phải sản xuất để mà sống.
Mỗi một con ngời có sự suy nghĩ sáng tạo khác nhau, nên cách thức sáng tạo
làm việc khác nhau, vì vậy mỗi xã hội lại có phơng thức sản xuất khác nhau. Ph-
ơng thức sản xuất là cách thức sản xuất ra của cải vật chất mà trong đó lực lợng
2
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
sản xuất đạt đến một trình độ nhất định, thống nhất với các quan hệ sản xuất tơng
ứng với nó.
1. Lực lợng sản xuất là mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên đợc hình
thành trong quá trình sản xuất, lực lợng sản xuất bao gồm ngời lao động và t liệu
sản xuất.
T liệu sản xuất gồm có đối tợng lao động và t liệu lao động. Đối tợng lao
động là những cái mà con ngời muốn tác động vào để biến nó trở thành những sản
phẩm con ngời mong muốn. Nó là toàn bộ những tài nguyên thiên nhiên có sẵn mà
con ngời đã, đang và sẽ trực tiếp sử dụng và đa vào sản xuất; nó còn là những sản
phẩm không có sẵn trong tự nhiên mà do con ngời bằng lao động của mình đã tạo
ra nh: các loại hoá chất, sợi tổng hợp, các chất hợp kim, các loại nguyên vật liệu
mới, giống và cây con mới. Con ngời không bao giờ chỉ bằng lòng với những thứ
đang hiện có, việc tìm kiếm ra những đối tợng lao động mới, việc tạo ra những sản
phẩm mới luôn là động lực cuốn hút mọi hoạt động sáng tạo của con ngời. Vì vậy
đối tợng lao động luôn luôn đợc biến đổi, đổi mới không ngừng.
T liệu lao động chính là công cụ lao động (máy móc, thiết bị, hệ thống công
nghệ, ) để con ngời tác động vào đối tợng lao động để tạo ra những sản phẩm mà
mình mong muốn. Ngoài ra, t liệu lao động còn có cả phơng tiện lao động, đó là
những cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho quá trình sản xuất nh: nhà xởng, kho
bãi, bến cảng, sân ga, phơng tiện liên lạc, đờng xá, cầu cống, T liệu lao động
luôn luôn đợc cải thiện, biến đổi theo sự phát triển sáng tạo của con ngời. Chính
công cụ lao động và phơng tiện lao động là cơ sở để đánh giá sự phát triển của mỗi
thời đại kinh tế, mỗi chế độ chính trị xã hội.
Ngời lao động là nhân tố trung gian nối kết t liệu lao động với đối tợng lao
động. Nếu một xã hội dù có t liệu lao động hiện đại đến đâu không có ngời lao
động thì tác dụng tích cực của t liệu lao động cũng chẳng có ý nghĩa gì. Hơn nữa,
t liệu lao động cũng là do con ngời lao động tạo ra. Chính vì vậy con ngời luôn cần
đợc quan tâm giáo dục và đào tạo để phát huy sức mạnh trí tuệ của mình.
2. Quan hệ sản xuất là toàn bộ mối quan hệ giữa ngời với ngời trong quá
trình sản xuất và tái sản xuất vật chất của xã hội. Nó thể hiện ở 3 mặt quan hệ cơ
bản: quan hệ sở hữu đối với t liệu sản xuất; quan hệ trong tổ chức và quản lý sản
xuất; quan hệ phân phối sản phẩm lao động.
3
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ba mặt kinh tế nói trên là một thể thống nhất hữu cơ, tạo thành quan hệ sản
xuất, trớc đó quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định đối với các
mặt quan hệ khác.
Quan hệ sản xuất cũng thay đổi tuỳ thuộc vào trình độ phát triển nhất định
của các lực lợng sản xuất vật chất của con ngời, chứ không phụ thuộc vào ý thức
của con ngời. Sự phụ thuộc và tác động lẫn nhau giữa quan hệ sản xuất với tích
chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất là một trong những quy luật cơ
bản nhất của đời sống xã hội. Tính chất của lực lợng sản xuất là tính chất của t liệu
và sức lao động. Khi công cụ sản xuất đợc sử dụng bởi từng cá nhân riêng biệt để
sản xuất ra một sản phẩm cho xã hội, không cần đến lao động của nhiều ngời thì
lực lợng sản xuất mang tính chất xã hội. Trình độ của lực lợng sản xuất đợc thể
hiện ở trình độ tinh xảo và hiện đại của công cụ sản xuất; trình độ chuyên môn
nghiệp vụ và kỹ năng, kỹ xảo của ngời lao động, trình độ phân công lao động xã
hội, tổ chức quản lý sản xuất và quy mô của nền sản xuất.
Trình độ phát triển của lực lợng sản xuất càng cao thì chuyên môn hoá và
phân công lao động càng sâu. Trình độ phân công lao động và chuyên môn hoá là
thớc đo trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
3. Kiến trúc thợng tầng là toàn bộ những t tởng xã hội, những thiết chế tơng
ứng và những quan hệ nội tại của thợng tầng hình thành trên một cơ sở hạ tầng
nhất định. Toàn bộ t tởng xã hội là chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, khoa
học, trong đó hệ t tởng chính trị, pháp luật là sự phản ánh trực tiếp cơ sở hạ tầng
và có vị trí chi phối toàn bộ đời sống t tởng xã hội. Những tổ chức thiết chế tơng
ứng bao gồm cơ quan quản lý Nhà nớc các cấp từ Trung ơng tới địa phơng, bộ
máy bạo lực, quan đội, cảnh sát, toà án, nhà tù, các Đảng phái chính trị, các tổ
chức tôn giáo, và tổ chức quần chúng khác. Những mối quan hệ nội tại giữa các bộ
phận của kiến trúc thợng tầng với nhau trong đó quan trọng hơn cả là mối quan hệ
giữa hệ t tởng chính trị với bộ máy quản lý Nhà nớc; hệ t tởng chính trị, bộ máy
quản lý Nhà nớc với các tổ chức chính trị xã hội, các lĩnh vực khác nhau của đời
sống tinh thần.
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những mối quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh
tế của một hình thái KT - XH nhất định. Cơ sở hạ tầng chính là tổng hợp các kiểu
quan hệ sản xuất, đó là những quan hệ vật chất, là cơ sở kinh tế của đời sống xã
hội. Trong xã hội có giai cấp, tính chất đối kháng về mặt kinh tế của cơ sở hạ tầng
4
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
chính là cơ sở nảy sinh những đối kháng trong kiến trúc thợng tầng, giai cấp nào
thống trị về kinh tế sẽ thống trị về chính trị và thiết lập cả sự thống trị về mặt tinh
thần đối với xã hội, trong đó hệ t tởng chính trị và bộ máy quản lý Nhà nớc có vị
trí quan trọng nhất. Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thợng tầng có mối quan hệ biện
chứng với nhau. Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thợng tầng. Và kiến trúc thợng
tầng có tính độc lập tơng đối, tác động trở lại cơ sở hạ tầng.
III - Sự phát triển của hình thái KT - XH
Nhân loại đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau tơng ứng với mỗi giai đoạn
ấy là một hình thái KT - XH nhất định. Các hình thái KT - XH vận động, phát
triển và thay thế lẫn nhau đều do tác động của các quy luật khách quan, trong đó
quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lợng sản xuất một trong những quy luật quan trọng nhất đó là quá trình phát triển
tự nhiên của lịch sử.
Trong bộ T bản và các tác phẩm khác của Mác, theo Mác, sự phát triển của
xã hội loài ngời là một quá trình lịch sử tự nhiên, trong đó bản thân con ngời làm
ra lịch sử của mình, nhng không phải con ngời làm ra lịch sử một cách tuỳ tiện,
một sự lựa chọn tuỳ ý, mà làm ra lịch sử phụ thuộc vào toàn bộ sự phát triển đã
qua của sinh hoạt vật chất của xã hội. Ngay cả sinh hoạt tinh thần của xã hội cũng
phản ánh sinh hoạt vật chất của xã hội. Từ đây Mác & Ăng ghen đã nêu lên hàng
loạt những quy luật chi phối xã hội, đó là quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với
tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất, quy luật về tồn tại xã hội quyết định ý
thức xã hội, về cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc hạ tầng.
Trong tác phẩm Góp phần phê phán chính trị kinh tế học, Mác viết: Trong
sản xuất xã hội, để cung cấp cho đời sống của mình, con ngời hình thành những
quan hệ nhất định, tất yếu không phụ thuộc vào ý chí của mình - những quan hệ
sản xuất phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của những lực lợng sản xuất
vật chất của mình. Tập hợp những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế
của xã hội cơ sở hiện thực trên đó dựng lên kiến trúc thợng tầng về pháp lý và
chính trị và phù hợp với cơ sở đó là những hình thái nhất định của ý thức xã hội.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Phơng thức sản xuất đời sống vật chất quyết định quá trình đời sống xã hội, chính
trị và tinh thần nói chung. Nhng trong phơng thức sản xuất thì công cụ lao động
đánh giá trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, còn con ngời - ngời công nhân
giữ vai trò quyết định cho sự phát triển của lực lợng sản xuất. Quan hệ sản xuất ổn
định tơng đối, ngày càng mâu thuẫn với lực lợng sản xuất không ngừng phát triển
đợc biểu hiện về mặt xã hội, là mâu thuẫn giai cấp dẫn đến cuộc đấu tranh giai
cấp. Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội có giai cấp đối kháng.
Do phải duy trì sự sống và bảo đảm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của
mình, con ngời phải phát triển lực lợng sản xuất. Lực lợng sản xuất tuy đợc tạo ra
bằng năng lực thực tiễn của con ngời, song không phải con ngời làm ra theo ý
muốn chủ quan. Ngời ta làm ra lực lợng sản xuất của mình dựa trên những lực l-
ợng sản xuất đã đạt đợc trớc đó. Lực lợng sản xuất phát triển kéo theo quan hệ sản
xuất phải thích ứng với nó. Quan hệ sản xuất do lực lợng sản xuất quyết định, nh-
ng đến lợt nó, quan hệ sản xuất lại quy định các quan hệ khác của xã hội nh quan
hệ về chính trị, t tởng pháp quyền, đạo đức, khoa học, Khi lực lợng sản xuất phát
triển cao, quan hệ sản xuất không phù hợp sẽ dẫn đến cách mạng xã hội thay thế
quan hệ sản xuất cũ và dẫn đến sự thay đổi toàn bộ các quan hệ sản xuất khác.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất
là quy luật chi phối toàn bộ quá trình phát triển của lịch sử. Nó quyết định sự thay
thế của các phơng thức sản xuất, quyết định sự hình thành và biến đổi của các hình
thái KT - XH.
Có thể lấy ví dụ đơn giản về sự phát triển của lực lợng sản xuất và quan hệ
sản xuất. ở những công ty bánh kẹo bây giờ thì hầu hết trớc đây đều sản xuất mì
sợi. Do nhu cầu con ngời, do sự sáng tạo, phát triển của con ngời, do những yếu tố
khách quan thay đổi, công ty chuyển sang sản xuất bánh kẹo. Đây là một lĩnh vực
sản xuất khác vì vậy đòi hỏi phải có phơng thức sản xuất khác, đối tợng lao động
thay đổi yêu cầu t liệu lao động cũng phải thay đổi, và trình độ chuyên môn
nghiệp vụ của con ngời cũng phải đợc thay đổi làm cho quan hệ sản xuất thay đổi
theo.
Hình thái KT - XH cũ bao giờ cũng thai nghén, tạo tiền đề, tổ chức để cho
hình thái KT - XH mới ra đời từ trong lòng nó dới các dạng và mức độ khác nhau.
Đối với triết học biện chứng thì không có hình thái nào là tối hậu, là tuyệt đối, là
thiêng liêng cả, tất cả đều quá độ, đều dẫn đến cái khác theo sự phát triển của tiến
bộ xã hội.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lịch sử nhân loại là lịch sử kế tiếp nhau của các hình thái KT - XH, song
không vì vậy mà cho rằng sự phát triển và thay thế các hình thái KT - XH ở mọi
quốc gia, mọi lục địa đều diễn ra giống nhau và tiến trình nh nhau. Lịch sử không
phát triển theo đờng thẳng và ở mỗi nớc khác nhau có thể sẽ có những hình thái
KT - XH và trình độ phát triển khác nhau. Tuy nhiên mỗi nớc không phải là sự
phát triển riêng biệt, sự tác động và ảnh hởng lẫn nhau giữa chúng đợc diễn ra dới
nhiều hình thức sẽ có tác động quan trọng đến sự phát triển của các dân tộc và của
lịch sử nói chung. Tính chất không đồng đều này biểu hiện ở một số dân tộc tiến
lên phía trớc, một số dân tộc khác lại ngng trệ do rất nhiều nguyên nhân chi phối,
một số nớc do những điều kiện cụ thể lại bỏ qua một hình thái kinh tế đó.
Nh vậy lịch sử là một thể thống nhất, nhng rất đa dạng và nhiều vẻ, chứa
đựng trong các hình thái KT - XH khác nhau. Nó vận động từ thấp tới cao theo
những nguyên nhân nội tại của nó, bởi tính logic khách quan tất yếu của lịch sử
quy định.
IV - Thực trạng KT - XH ở Việt Nam, ph ơng h ớng và giải pháp
Có một số quan điểm cho rằng theo lý thuyết hình thái KT - XH thì Việt
Nam không thể đi lên CNXH đợc. Và có đi lên theo ý nghĩa của Lênin thì những
điều kiện nh Lênin nêu ra Việt Nam hiện cũng không có. Hơn nữa, kinh tế thị tr-
ờng không thể đi đôi với CNXH.
Đây là cách t duy so sánh tình thức không gắn với hiện thực lịch sử. Sự phát
triển của hình thái KT - XH của mỗi nớc là do sự tác động của rất nhiều yếu tố cụ
thể của từng quốc gia dân tộc và thời đại. Không có cái chung nào tồn tại ngoài cái
riêng, do đó mỗi quốc gia dân tộc thể hiện cái chung qua những hoàn cảnh cụ thể
của mình. Các sự kiện diễn ra và các chế độ xã hội hình thành và phát triển là do
sự tác động qua lại giữa lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất và chính trị t tởng trên
quy mô dân tộc và thời đại lúc đó. Việc bỏ qua một số hình thái KT - XH trong
lịch sử của nhiều dân tộc là một khả năng thực tế đợc tạo nên do chính các quy
luật chung nhất của vận động lịch sử cùng tác động trên mọi quy mô đã đợc vạch
ra trong lý luận về hình thái KT - XH của chủ nghĩa Mác. Tách cái trừu tợng khỏi
cái cụ thể là một thứ t duy hình thức thuần tuý do vậy đã không hiểu đúng ý Mác -
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lênin đã khẳng định rằng quy luật chủ yếu không phải là trật tự trớc, sau mà là
quan hệ tác động qua lại. Do đó, nếu ở một nớc lực lợng sản xuất phát triển cha
cao nhng trong những tác động chung của thời đại và hoàn cảnh chính trị trong n-
ớc cho phép, nhân dân lao động có thể nắm lấy chính quyền và từ chính quyền đó
có thể tạo ra các điều kiện văn minh để hình thành chế độ mới.
Theo Lênin, những nớc còn ở trình độ phát triển quá thấp muốn quá độ lên
CNXH phải có 3 điều kiện. Thực tế cho thấy một số nớc phát triển hoặc tơng đối
phát triển xây dựng thành công CNXH và đặc biệt chú ý, những năm gần đây Việt
Nam đã giải quyết thành công các điều kiện trên bằng những mối quan hệ quốc tế
mới cả về vật chất lẫn trí tuệ. Trí tuệ ngời Việt Nam ngày nay không phải chỉ từ
bài học của mình mà từ cả những giá trị chung của nhân loại đã đạt đợc trong nền
văn minh đơng đại.
Tin tởng sắt đá vào nguyên lý phát triển macxit, Hồ Chí Minh đã khẳng định:
Chủ nghĩa xã hội là đờng đi tất yếu của lịch sử nhân loại. Ngời viết: Loài ngời đã
trải qua sự phát triển từ xã hội nguyên thuỷ sang xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội
phong kiến rồi đến xã hội t bản, xã hội t bản với bản chất vô nhân đạo và đầy mâu
thuẫn trong lòng nó, cũng giống nh những quy luật của lịch sử xã hội, xã hội t bản
sẽ chuyển sang xã hội chủ nghĩa - cộng sản chủ nghĩa (Hồ Chí Minh - Toàn tập,
T7 - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội - một996, trang 246). T tởng sâu xa của
HCM không chỉ là ở sự lựa chọn hớng đi của dân tộc phù hợp với quy luật phát
triển của lịch sử. Giá trị nhân văn trong cách nhìn mới của HCM là ở chỗ ngời
xem xã hội XHCN là hớng đi tối u của loài ngời. Chính vì vậy, ngay từ khi đất nớc
còn chìm đắm trong vòng nô lệ, HCM đã quyết chọn con đờng cách mạng dân
quyền để thực hiện dân sinh, tiến lên CNXH. CNXH, với bản chất nhân đạo và
đầy sức sống của nó, nơi thể hiện lý tởng cao đẹp của con ngời, có khả năng tự tạo
ra sức mạnh nội sinh để thúc đẩy xã hội đi lên phù hợp với lý tởng chân chính của
nhân dân Việt Nam. Độc lập dân tộc & CNXH đã trở thành nhân lõi xuyên suốt lý
tởng xây dựng XH mới và triết lý phát triển xã hội Hồ Chí Minh.
Xã hội XHCN với bản chất và sức sống của nó thì chỉ có thể thực hiện đợc
trên cơ sở một Nhà nớc vững mạnh của dân, do dân và vì dân. Đó là một Nhà nớc
do nhân dân làm chủ. Chính phủ là cơ quan Nhà nớc cao nhất tập trung quyền lực
của nhân dân do nhân dân giao phó vận hành theo cơ chế pháp quyền, thực hiện
mọi trách nhiệm vì cuộc sống của nhân dân. Cán bộ là ngời đại diện cho ý chí của
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nhân dân, là công bộc của dân. Một Nhà nớc nh vậy sẽ là nơi tập trung và thể hiện
toàn bộ sức mạnh của nhân dân, tạo ra sức mạnh xã hội.
Kinh tế quyết định chính trị, chính trị tập trung ở kinh tế. Vì vậy cần phải
tăng cờng phát triển kinh tế cho đất nớc, ngày càng phải quan tâm đến vấn đề hợp
tác hoá nhiều hơn để quy tụ sức mạnh toàn dân trong xây dựng nền kinh tế mới,
cải tạo quan hệ sản xuất, phát triển lực lợng sản xuất, từng bớc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Tóm lại cần
phải có một nền kinh tế vững mạnh, do nhân dân lao động làm chủ đất nớc và làm
chủ kinh tế để bảo đảm cho đất nớc phát triển.
Kinh tế là nền tảng và là yếu tố hàng đầu của phát triển xã hội thì văn hoá -
khoa học - giáo dục là nguồn lực nội sinh từ thợng tầng kiến trúc tác động đến tận
hạ tầng cơ sở, tạo nên sự vận động của tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội. Vì
vậy, cần phải thi đua phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất
lao động, tạo động lực chuyển biến nền KT - XH, thay đổi quan hệ sản xuất, quan
hệ xã hội, góp phần làm chuyển chất xã hội và đa xã hội đi theo con đờng XHCN.
Phát triển khoa học - kỹ thuật tất yếu gắn liền với giáo dục - đào tạo con ng-
ời. Con ngời là nội lực quyết định nhất của lực lợng sản xuất; nó là chủ thể tạo ra,
đồng thời sử dụng khoa học - kỹ thuật, điều hành toàn bộ quá trình xã hội. Vì vậy
mà Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề: Muốn xây dựng CNXH phải có con ngời xã hội
chủ nghĩa - Những con ngời vừa hồng vừa chuyên. Sức mạnh của một dân tộc
là tri thức, là trí tuệ Một dân tộc dốt là dân tộc yếu. Phải diệt giặc dốt, nâng cao
dân trí, bồi dỡng nhân lực, đào tạo nhân tài. Dân trí là điều kiện để thực hiện văn
hoá - xã hội, tạo tiềm năng trí tuệ và sức vơn lên một xã hội nhân văn.
Sức sống của phát triển lâu bền chỉ có đợc khi một xã hội phát huy cao độ
các yếu tố sức mạnh truyền thống và cái mới hiện đại. Sự gắn bó hài hoà truyền
thống - hiện đại là nguyên tắc của phát triển. Bởi ở đó, tơng lai đợc tiếp sức từ
nguồn sống của quá khứ và của hiện tại. Truyền thống là tinh hoa và sức mạnh kết
tụ từ ngàn đời của một dân tộc. Nó làm cơ sở cho xã hội truyền thống đi vào hiện
đại. Hiện đại nâng cao truyền thống - đó là sức mạnh và sức bền của phát triển.
Yếu tố dân tộc và yếu tố quốc tế đợc thể hiện qua quan hệ riêng chung trong
triết lý phát triển xã hội. Dân tộc là bộ phận của quốc tế. Một dân tộc phải nằm
trong và dựa vào nhiều dân tộc khác nh là quan hệ tất yếu tự nhiên mới có thể
cùng tồn tại và trởng thành. Xu thế và hoàn cảnh quốc tế là điều kiện quan trọng
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
cho sự tồn tại và phát triển của một quốc gia. Vì vậy, cần phải học hỏi hợp tác
quốc tế, giao lu văn hoá xã hội với thế giới để đất nớc có điều kiện tiến xa và
nhanh hơn nữa.
Yếu tố tự nhiên cũng hết sức quan trọng đối với sự phát triển đất nớc, nó là
một trong những yếu tố của đối tợng lao động. Vì vậy cần phải biết khai thác hợp
lý các tài nguyên, đảm bảo tái sản xuất, đảm bảo không gây ô nhiễm môi trờng.
Đảm bảo cho sức khoẻ con ngời - điều kiện quan trọng cho sức mạnh của một
quốc gia.
10
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét