Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014
Bước đầu tìm hiểu về tiếng Hà Nội trong phương ngữ bắc theo chiều dài lịch sử
5
tả), đối lập từng đơi về âm vực và âm điệu. Hệ thống phụ âm đầu có hai mươi
âm vị, khơng có những phụ âm ghi trong chính tả là“ s, r, gi, tr“ tức là khơng
phân biệt s/ x, r/ d/ gi, tr/ ch.
Hệ thống âm cuối có đủ các âm cuối ghi trong chính tả. Có ba cặp âm
cuối ở thế phân bố bổ túc. Phương ngữ Bắc có thể chia làm ba vùng nhỏ hơn:
a) Phương ngữ vòng cung biên giới phía Bắc nước ta. Phần lớn người Việt
ở đây mới đến từ các tỉnh đồng bằng có mật độ cao như Thái Bình, Hà Nam
Ninh. Do q trình cộng cư xảy ra trong thời gian gần đây, nên phương ngữ phát
triển theo hướng thống nhất với ngơn ngữ văn học, mang những nét khái qt
chung của phương ngữ Bắc, và khơng chia manh mún thành nhiều thổ ngữ làng
xã như phương ngữ Bắc ở các vùng đồng bằng, cái nơi của người Việt cổ.
b) Phương ngữ vùng Hà Nội và các tỉnh xung quanh( Hà Bắc, Vĩnh Phú,
Hà Sơn Bình, Hải Hưng, Hải Phòng) mang những nét đặc trưng tiêu biểu của
phương ngữ Bắc.
c) Phương ngữ miền hạ lưu sơng Hồng và ven biển( Thái Bình, Hà Nam
Ninh, Quảng Ninh) còn giữ lại cách phát âm khu biệt“ d“ với“ gi, r“,” s“ với“
x“,” tr“ vơí“ ch“ mà ở các phương ngữ Bắc khác khơng còn phân biệt nữa.
ở Bắc bộ thực tế có những chữ cái đã mất cách phát âm phân biệt, cho nên
người ta đặt cho nó những cái tên gọi khác nhau như ” s” là” xờ nặng”,” x ”là ”
xờ nhẹ ”,” d ” là” dê trên ”,” gi” là” dê dưới ”,” tr ” là” chờ nặng ”,” ch” là” chờ
nhẹ ”,” l” là” nờ( hay lờ) cao ”;” n ” là” nờ( hay lờ) thấp ”…
Hệ thống đại từ chỉ trỏ và nghi vấn:
Phương ngữ Bắc Phương ngữ Trung Phương ngữ Nam
Này ni nầy
Thế này ri vầy
ấy nớ đó
Thế (ấy ) rứa vậy
Kia tê đó
Kìa tề đó
đâu, nào mơ đâu, nào
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
sao, thế nào răng sao
Hệ thống đại từ xưng hơ:
Phương ngữ Bắc Phương ngữ Trung Phương ngữ Nam
Tơi tui tui
Tao tau tao, qua
Chúng tơi bầy tui tụi tui
…
ở phương ngữ Bắc chỉ duy nhất từ “ nhiều“ là có từ phát sinh: bao nhiêu,
bấy nhiêu. ở phương ngữ Bắc chỉ nói“ từ rày“ với nghĩa“ từ nay trở đi“, ở
phương ngữ Nam còn nói“ hổm rày“ có nghĩa là“ từ hơm ấy đến nay“.
ở Bắc bộ và Trung bộ nói một câu đơn giản là:” Hơm nay tơi ăn cơm rất
no“, thì người Nam bộ thường nói là: Hơm nay tơi ăn cơm no q chừng q
đỗi, hoặc no q trời q đất …
Trong phương ngữ Nam có nhiều từ gần đây vay mượn từ tiếng Chàm,
tiếng Khơ me, trong phương ngữ Bắc lại có nhiều từ vay mượn từ tiếng Thái; có
những từ Hán Việt này đi vào phương ngữ Bắc, nhưng khơng dùng trong
phương ngữ Nam, trái lại ở trường hợp khác thì phương ngữ Bắc giữ ngun từ
thuần Việt, còn phương ngữ Nam lại vay mượn từ Hán Việt v. v…
Biến thể cổ b, đ ở phương ngữ Trung tương ứng với v, z ở phương ngữ
Bắc:
- bui/ vui, bá/ vá…
- đa/ da, đưới/ dưới…
Biến thể cổ ở phương ngữ Trung tương ứng với biến thể mới ở phương
ngữ Bắc:
a) ph, th, kh/ v, z ( d),( g)
- ăn phúng/ ăn vụng, phở đất/ vỡ đất…
- nhà thốt/ nhà dột, mưa thâm/ mưa dầm…
- khải/ gãi, khở/ gỡ…
b) ch, k/ j #( gi),( g)
- chi/ gì, chừ/ giờ…
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
Những từ có phụ âm đầu khác với ngơn ngữ văn học có thể tìm thấy trong
phương ngữ Bắc nhưng khơng nhiều hiện tượng như ở phương ngữ Trung: dăn
deo/ nhăn nheo, duộm/ nhuộm…
Ngồi ra còn có sự đối ứng giữa ngun âm khép hơn ở phương ngữ
Trung, phương ngữ Nam với ngun âm mở hơn ở phương ngữ Bắc: u/ ơ, ư/ â
- chủi/ chổi, túi/ tối…
- chưn/ chân, nhứt/ nhất…
Có thể nhận ra sự khác nhau về tiếng giữa ba miền ở giọng. Thí dụ, người
Hà Nội nghe người Sài Gũn núi cú cảm giỏc họ khụng cú sự phõn biệt giữa -ac
với ỏt( mỏt- mỏc; mắc- mắt); giữa -ai với ay( tai- tay; hai– hay); phỏt õm v
thành dz( tức là khụng phõn biệt v với d: vụ– dụ).
Người Hà Nội nghe người Huế nói cũng có cảm giác họ khơng có sự phân
biệt giữa thanh hỏi( ?) với thanh ngó( ~): mũ- mủ; cũ- củ. Trong khi đó, người
Huế nghe người Hà Nội nói lại có cảm giác người Hà Nội khơng có sự phân biêt
giữa s và x: xơi trong xa xơi với sơi trong nước sơi v. v
Một sự so sánh từ vựng Việt Nam với từ vựng các ngơn ngữ khác ở Đơng
Nam á cho thấy những sự thay thế nhau của các từ trong các phương ngữ khơng
phải ngẫu nhiên.“ Hoa“ và“ đầu“ là những từ gốc Hán đã được thay thế những
từ Nam á, Nam Đảo như“ trốc“( Mường),” bơng“( Mã Lai: bonga) ở phương
ngữ Bắc trong khi hai từ này vẫn tồn tại ở các phương ngữ phía Nam,” quả“
thay“ trái“ cũng theo qui luật ấy.
Đồng thời trong vốn từ miền Bắc có nhiều từ Thái hơn, trái lại trong vốn
từ phái Nam có nhiều yếu tố Chàm, Khơme hơn. Trong ba phương ngữ chính,
phương ngữ Bắc tiếp thu nhiều từ Hán Việt hay nhiều từ gốc Hán hơn cả.
Phương ngữ Bắc vì trải qua sự xây dựng của ngơn ngữ văn học trong đó
các nhà nho biết chữ Hán đóng một vai trò khơng nhỏ cho nên dĩ nhiên nó tiếp
thu nhiều từ Hán Việt và gốc Hán hơn.
Những yếu tố gốc Hán vào tạo nên những sự xê dịch về mặt nghĩa có thể
đi xa đến nỗi ta có những từ đồng âm khác nghĩa ở trong hai phương ngữ Bắc và
Trung- Nam. Về mặt từ vựng cũng vậy, có những từ chỉ đặc trưng cho vùng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
phương ngữ này mà khơng đặc trưng cho vùng phương ngữ kia.
Thí dụ, các từ“ má, ổng, cổ, ảnh, chỉ, ngoải“ v. v là đặc trưng cho tiếng
Sài Gũn;“ miềng, o, rày, rứa“ v. v là đặc trưng cho tiếng Huế. Người Hà Nội
bấy lâu nay cũng có thể nói“ mắc“( giá mắc),“ nhí“( bồ nhí) v. v nhưng dường
như chúng vẫn chưa ăn nhập lắm với giọng Hà Nội( nếu so sánh các phát ngơn
có những từ này bằng giọng Sài Gũn).
So sỏnh tiếp hai cõu sau cú thể thấy rừ điều này:( 1)“ Anh nhớ viết thư
cho em nghen!- Dạ” và( 2)“Anh nhớ viết thư cho em nhé– vâng”. Tuy giá trị
thơng tin như nhau nhưng thử hỏi nếu đổi câu( 1) là giọng Hà Nội và( 2) là
giọng Sài Gũn thỡ chắc chắn là một sự gượng gạo khó mà chấp nhận.
ở đa số các phương ngữ Bắc hiện nay, mà tiêu biểu là phương ngữ Hà Nội
đã mất đi dãy phụ âm tiền ngạc c, z, s và phụ âm rung r. Ngồi ra phụ âm ngạc,
nổ, vơ thanh ch được phát âm như một phụ âm tắc– xát đầu lưỡi– răng ở các thế
hệ trung và thanh niên Hà Nội.
Nếu ta sắp xếp những sự biến đổi ngữ âm ở các vùng phương ngữ nói trên
vào chung một q trình chuyển hố ngữ âm thì sẽ thấy được lịch sử phát triển
tiếng Việt là tiến từ phương ngữ Trung sang phương ngữ Bắ rồi tiếp tục với
phương ngữ Nam.
Nêú so sánh tiếng Việt của Hà Nội với tiếng Việt từ Nghệ Tĩnh trở vào thì
người ta thấy ngay hai thanh( ?) và( ~) ở Bắc lại có sự chuyển mã, khi đối chiếu
với tiếng Nghệ Tĩnh, hay tiếng Bình Trị Thiên.
Một người Huế nghe người Bắc nói thì chỉ cần chuyển mã thanh( ~) của
Bắc thành thanh( ?) của Huế, ngược lại người Bắc nghe( ?) của Huế thì phải
giải thích thanh này có thể vừa là( ~) vừa là( ?) và căn cứ vào đó mà xét nội
dung của câu nói.
Dĩ nhiên khi một người miền Trung nghe một người Hà Nội nói thì về
mặt thanh điệu sự chuyển mã khá dễ dàng: anh ta chỉ cần gộp lại làm một hai
thanh khu biệt ở Hà Nội là( ?) và( ~) hay gộp( ~) và( .) làm một.
Trái lại sự phân biệt về phụ âm đầu thì khó hơn bởi vì anh ta phải tách
cùng một âm đầu của Hà Nội như “ ch“ ra thành“ tr“ và“ ch“ và chọn trong hai
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
biểu hiện cái nào phù hợp nhất với thơng báo.
Trường hợp người Hà Nội giao tiếp với người Huế hay người Nghệ Tĩnh
cũng thế. Trong hệ thống thanh điệu truyền thống, thanh( ?) ở âm vực cao,
thanh( ~) ở âm vực thấp, nhưng trong phương ngữ Hà Nội hiện nay thì ngược
lại, thanh( ?) cao và thanh( ~) thấp.
Hệ thống thanh điệu ở Hà Nội :
Thanh khơng có âm điệu bằng phẳng, cường độ khơng thay đổi, ở âm vực
trung bình của lời nói, khơng có hiện tượng thanh quản hố hay tắc thanh hầu,
tương đối thống nhất trong tất cả các phương ngữ.
Thanh huyền có âm điệu hơi đi xuống, có âm vực thấp, cường độ khơng
đổi, khơng có hiện tượng thanh quản hố hay tắc thanh hầu. Chỉ khu biệt với
thanh khơng về âm vực: thấp hơn thanh khơng từ qng ba đến qng năm.
Thanh ngã có âm điệu biến thiên theo hai chiều: đi xuống với đi lên như
hình chữ V với nhánh đi lên cao gấp đơi. Cường độ thay đổi: thanh yếu đi ở
khoảng giữa âm tiết và có khi tắt hẳn rồi lại xuất hiện.
Chính ở điểm này có hiện tượng tắc thanh hầu. Về âm vực, thanh ngã bắt
đầu ở mức thanh huyền. Khoảng cách về âm vực giữa mức bắt đầu và mức kết
thúc trung bình bằng một qng sáu, giữa hai mức thấp nhất và cao nhất có thể
đến hai qng tám.
ở lứa tuổi thiếu niên– nhi đồng, thanh ngã được phát âm gần như thanh
sắc, nghĩa là sau giai đoạn bắt đầu hơi bằng phẳng, thanh điệu vút lên ngay,
khơng có đoạn trũng xuống.
Thanh hỏi có âm điệu biến thiên hai chiều xuống- lên, nhưng khơng chia
hai giai đoạn rõ rệt như ở thanh ngã.
Thanh sắc bắt đầu ở độ cao hơi thấp hơn thanh khơng, đi ngang hay là hơi
chúi xuống ở đoạn đầu, sau đó vút cao lên thơng thường vào khoảng một qng
năm, có khi đến một qng tám ở giọng nữ.
Trong những âm tiết khép( có –p, -t, -ch, -k đứng cuối), thanh sắc nhập
thanh thiếu hẳn phần đi ngang lúc bắt đầu, âm điệu cao vút lên, nhất là ở những
âm tiết ngắn( có ngun âm ngắn) thanh sắc có trường độ rất ngắn và chỉ có
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
đoạn cao vút ở phần cuối.
Hiện tượng thanh quản hố mạnh, làm cho phụ âm cuối vơ thanh đơi khi
trở thành hữu thanh ở giai đoạn đầu.
Thanh nặng bắt đầu ở độ cao khởi điểm của thanh huyền, có âm điệu đi
ngang hay hạ dần như thanh huyền, đến 1/ 3 thanh điệu thì đi xuống với độ dốc
lớn hơn, và kết thúc bằng cái tắc thanh hầu.
Cường độ của thanh điệu tăng dần và hiện tượng thanh quản hố mạnh
dần khi âm điệu tụt xuống. Thanh nặng có trường độ ngắn nhất trong hệ thống. ở
âm tiết khép thanh nặng nhập thanh có âm điệu đi xuống theo một độ dốc lớn,
khơng có đoạn đi ngang lúc bắt đầu, kết thúc đột ngột bằng cái tắc thanh hầu.
Hệ thanh điệu Hà Nội tuy có biến đổi so với hệ thanh điệu truyền thống,
nhưng vẫn duy trì được các cặp đối lập về âm vực và tương liên về âm điệu vơ
cùng cân đối: khơng/ huyền, sắc/ nặng, ngã/ hỏi, cũng vậy, ở các hệ thanh điệu
Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh cũng giữ được các cặp đối lập về âm vực
và tương liên về âm tiết: khơng/ huyền, sắc/ nặng.
Người Bắc có thể nhận ra những khác biệt nổi trội làm nên đặc thù cho
một số tiểu phương ngữ, rừ nhất là ở giọng. Thớ dụ, người Bắc nếu để ý một
chút, sẽ phân biệt được tiếng của một số vùng: tiếng Sơn Tây với thanh huyền
phát âm cao hơn một bậc và sự xích lại của thanh nặng với thanh huyền; tiếng
vùng Hải Phũng, Hải Dương với sự lẫn lộn trong cách phát âm n/ l và cách phát
âm e như ie; tiếng Thái Bỡnh với cỏch phỏt õm với õm r rung mạnh, tr được
phát âm uốn lưỡi nhưng hầu như mất r v. v
Theo cỏch nhỡn nhận kiểu“ loại trừ” này thỡ mặc nhiờn trước hết, những
tiếng nào có những đặc điểm trên sẽ khơng phải là tiếng Hà Nội. Cũn tiếng Hà
Nội cú đặc trưng gỡ để“ hễ nghe đến là biết ngay” vẫn là một câu hỏi.
Đứng về góc độ uy tín trong tồn quốc mà nói thì khơng một phương ngữ
nào sánh nổi với phương ngữ Hà Nội. Hà Nội là nơi hội tụ của văn hố đất nước
từ thế kỉ mười cho đến nay( trừ thời gian kinh đơ ch Nguyễn chuyển về Huế).
Phương ngữ ấy hơn hẳn về mặt số lượng từ, các sắc thái ngữ nghĩa. Trong
thế kỉ này, phong trào tiểu thuyết mới, thơ mới, văn học chủ yếu là phát triển
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
trên cơ sở phương ngữ Hà Nội.
Suốt thời gian sau Cách mạng tháng Tám cũng trên cơ sở này mà ngơn
ngữ có những đóng góp to lớn với trên một triệu thuật ngữ khoa học. Hiện nay,
ngơn ngữ tồn dân là dựa trên phương ngữ Hà Nội.
Chỗ mạnh nhất của phương ngữ này là hệ thống thanh điệu sẽ làm thành
sự đóng góp chính của nó v ngơn ngữ tồn dân. Một người Nghệ Tĩnh sống ở
Hà Nội tất yếu thấy mình cần phải thay đổi đơi chút trong cách phát âm, cụ thể
về thanh điệu chẳng hạn, để cho người Hà Nội nghe dễ hơn, tức là trong cách
phát âm của anh ta đã pha và khơng dùng các từ ngữ địa phương nữa.
Một em bé Nam Bộ sống ở Bắc thường nói một thứ tiếng dễ hiểu đối với
cả miền Nam lẫn miền Bắc, bởi vì ở nhà em nói phương ngữ Nam Bộ với cha
mẹ, ra đường em nói một phương ngữ gần với phương ngữ Hà Nội.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
CHƯƠNG II
Tiếng Hà Nội với tiếng Việt tồn dân
Có lẽ chẳng ai còn giật mình nữa khi có người" cảnh báo" tiếng Hà Nội có
còn khơng khi cơ cấu dân cư Hà Nội trong thời gian mấy chục năm đã phát
triển, xáo trộn đến từng gốc rễ.
Còn nhà văn Hồ Anh Thái của chúng ta viết trong bài" Hà Nội- con
thuyền phù sa"( in trong tạp chí Ngày nay số ra tháng 12- 2004) với rất nhiều
vấn đề" hồn cốt" của Hà Nội- nào là người Hà Nội gốc, ẩm thực kiểu Hà Nội…
nhất là tiếng nói Hà Nội có lẽ vì lòng u mến, tiếc nuối cho sự" bị" pha trộn
của tiếng Hồ Gươm thì chỉ tự hỏi:" Nhưng bây giờ, liệu có thể coi là Hà Nội
đang tràn ngập cái thứ tiếng mà cách đây vài ba chục năm còn là tiếng ngoại
thành, tiếng chợ giời?"
Ai muốn tìm câu trả lời thì nên vào qn bia, chịu khó dừng lại chỗ đám
va chạm xe cộ, thậm chí đứng trước cổng một số trường trung học cơ sở hoặc
phổ thơng trung học. Nhưng nhà văn Hồng Anh Thái vẫn trong bái viết" Hà
Nội- con thuyền phù sa"( in trong tạp chí Ngày nay số ra tháng 12- 2004) với rất
nhiều vấn đề" hồn cốt" của Hà Nội- nào là người Hà Nội gốc, ẩm thực kiểu Hà
Nội… nhất là tiếng nói Hà Nội nói thế rồi lại phải tin:" Tiếng Hà Nội vẫn còn
đó. Hồn Việt tiếng Việt vẫn phải nương vào giọng phát âm Hà Nội để biểu đạt
âm thanh ở mức đẹp nhất. Một thứ tiếng trong trẻo, nhẹ nhõm, nhẹ đến mức
phạm luật phát âm, người nghe khó phân biệt xờ với sờ, chờ với trờ… Nhưng
cái nhẹ nhõm khiếm khuyết vẫn được u, như người ta u cái dịu dàng có
phần yếu đuối của thiếu nữ".
Khỏi niệm tiếng Việt tồn dõn( hay tiếng Việt chuẩn) cũn cú những ý kiến
khỏc nhau. Tuy nhiờn, trờn thực tế, tiếng Việt bấy lõu nay vẫn lấy cỏch phỏt õm
miền Bắc và từ vựng của tiếng Việt miền Bắc mà tõm điểm là tiếng Hà Nội làm
cơ sở.
Điều đáng chú ý là, trong sự cố gắng xây dựng một tiếng Việt chung,
người ta muốn đưa các yếu tố tích cực,“ trội”, của một số cách phát âm từ các
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
phương ngữ khác vào tiếng Hà Nội( chẳng hạn như, phải phân biệt được cách
phát âm tr/ ch; s/ x; r/ d v. v ).
Mặc dự vậy, tiếng Việt như một phương ngữ tiêu biểu vẫn chỉ được thể
hiện ở cách viết mà chưa thể hiện được ở giọng“ chuẩn phát âm”. Điều này thể
hiện ở tiếng Việt( trước hết là giọng) của Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền
hỡnh Việt Nam với tiếng Việt của Đài Phát thanh và Truyền hỡnh Hà Nội khụng
cú gỡ khỏc nhau cả.
Từ đây đặt ra một câu hỏi: phải chăng ở vào những thập niên cuối cùng
của thế kỷ XX, có thể đánh một dấu ngang bằng cách phát âm của tiếng Việt
chung với tiếng Hà Nội?
Một người Thanh Hố có thể nói:” chị“ là“ chậy“ mà ngay đối với bản
thân họ hai cách nói này đều có giá trị như nhau nhưng đối với phương ngữ Hà
Nội chẳng hạn thì“ chị“ và“ chậy“ là hai từ khác nhau khơng phải là hai biến
thể.
Có những trường hợp các biến thể xuất hiện nhưng khơng ở thế phân bố
bổ túc, thí dụ trường hợp lẫn lộn l/ n ở đồng bằng Bắc Bộ, s-> x, r-> z, tr-> ch ở
hầu khắp Bắc Bộ. Tương ứng với những âm“ ă“, người ta sẽ gặp“ â“ trong
phương ngữ Bắc Bộ ở các từ như: tằm– tầm, rằm– rầm, màu– mầu, tàu– tầu,
thày– thầy, bảy– bẩy, mày– mầy,…
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
CHƯƠNG III
Tiếng Hà Nội với vấn đề địa lý và cư dân Hà Nội
Quả đúng là tiếng Hà Nội có cái sai trong phát âm nhưng lại được chấp
nhận một cách hiển nhiên. Thế nên mới có chuyện( theo nhà văn Tơ Hồi nói) là
năm 1979, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước trong Ban văn hố- giáo dục của Quốc hội,
sau khi đi nghiên cứu đã kiến nghị" nên lấy xã Phục Lễ, huyện Thuỷ Ngun,
thành phố Hải Phòng làm trung tâm chuẩn mực cho phát âm và chính tả của
tiếng Việt Nam phổ thơng" thay cho tiếng Hà Nội đã" làm dáng" khơng phát âm
chuẩn?!
Cũng may là điều ấy khơng thành hiện thực, nếu khơng người Hà Nội sẽ
phải tập rung lưỡi, hoặc lưu tâm để cho ra sờ khác xờ… Mà như thế là" sửa
giọng", là" làm dáng"- lối nói khơng phù hợp đã được" lọc" để gần hơn với
phong cách giản dị, lịch thiệp của người Hà thành.
Theo thời gian- lịch sử, Hà Nội có những thay đổi về địa lý. Như vậy, nếu
nhỡn từ phương ngữ địa lý sẽ khụng cú một khỏi niệm tiếng Hà Nội chung
chung mà chỉ cú một tiếng Hà Nội gắn với địa lý Hà Nội ở từng giai đoạn lịch
sử.
Chẳng hạn như, khi nói tiếng Hà Nội ở thập kỷ cuối của thế kỷ XX là phải
gắn với địa lý- hành chớnh của giai đoạn này. Giáo sư Hồng Phê trong khi phát
biểu ý kiến về vấn đề thống nhất và chuẩn hố tiếng Việt cũng chỉ cơng nhận có
hai phương ngữ chủ yếu là tiếng miền Bắc, nơi có thủ đơ Hà Nội và tiếng miền
Nam, nơi có thành phố Hồ Chí Minh, còn ở Trung Bộ là một chuỗi phương ngữ
nhỏ có tính chuyển tiếp.
Trước đây ơng Phan Kế Bính tuy có ý kiến chia tiếng Việt ra làm ba vùng
ứng với Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ, nhưng cũng nhấn mạnh tính chất trung
gian của nhóm phương ngữ ở Trung Bộ.
Chia tiếng Việt thành ba vùng phương ngữ lớn: phương ngữ Bắc, phương
ngữ Trung và phương ngữ Nam cũng là ý kiến chung của nhiều nhà nghiên cứu
và phù hợp với quan niệm trong dân gian.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét