Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

kỹ năng giao tiếp của kiểm soát viên khi tham gia phiên tòa hình sự

Tuy nhiên ở phạm vi khoá luận này, chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu khái
niệm giao tiếp theo khuynh hớng thứ nhất đó là xem xét khái niệm giao tiếp
thông qua việc xác định những khía cạnh tâm lý khác nhau chứa đựng trong nội
hàm khái niệm giao tiếp. Đó là:
a) Nhóm các tác giả chỉ nhấn mạnh một khía cạnh trong nội hàm khái niệm
Các tác giả E.E.Acquyt, M.A.Acgain, K.K.Platonov, A.L.Kolominxki,
G.Thines, J.P.Grueve nhấn mạnh khía cạnh thông tin. Chẳng hạn, tác giả
G.Thines cho rằng, giao tiếp là sự truyền đạt thông tin, trong đó trạng thái của hệ
thống phát thông tin ảnh hởng tới trạng thái của hệ nhận tin [10, tr.7]. Các tác giả
E.E.Acquyt, M.A.Acgain cho rằng, giao tiếp là sự tác động sự truyền và tiếp
nhận thông báo, sự trao đổi thông tin của con ngời [23].
Tác giả L.O.Retnhicov nhấn mạnh khía cạnh tri giác trong giao tiếp và cho
rằng: Giao tiếp là sự tri giác hiểu biết lẫn nhau.
Tác giả I.Stecxon nhấn mạnh khía cạnh cảm xúc của sự giao tiếp, ông xem
giao tiếp là sự trao đổi ý nghĩ, tình cảm và cảm xúc giữa con ngời với nhau [26,
tr.21].
Các tác giả J.Chuccon (Mỹ), P.Oathanit, G.Bvanh, D.Giacson (Pháp) nhấn
mạnh khía cạnh hoạt động, hành vi của giao tiếp. Họ đã coi giao tiếp là một tổ
hợp nhiều hành vi khác nhau: Hành vi ngôn ngữ, hành vi điệu bộ, hành vi cử chỉ
[2, tr.11].
Tác giả Nguyễn Khắc Viện đã nhấn mạnh: Giao tiếp phi ngôn ngữ và coi
giao tiếp là những biểu diễn thông qua cơ thể, nh những cử động, t thế [10,
tr.10].
Tuy các tác giả nêu trên đã chính xác hoá đợc từng mặt trong nội hàm của
khái niệm giao tiếp nhng giao tiếp là một hiện tợng tâm lí phức tạp bao hàm cả 3
mặt: Nhận thức (thông tin), xúc cảm và hoạt động. Nếu chỉ phân tích nh các tác
giả này thì mới chỉ dừng lại ở việc mô tả bề ngoài, cha nêu rõ đợc bản chất bên
trong của quá trình giao tiếp .
b) Nhóm các tác giả mở rộng khái niệm giao tiếp
5
Các tác giả B.V.Xocolov, L.V.Beva, J.Bremont, M.Bertrand, R.Chakin và
các nhà tập tính động vật học khác thì quá mở rộng khái niệm giao tiếp, đến mức
xem giao tiếp nh là một hiện tợng tâm lý có chung ở cả ngời và động vật.
Tác giả B.V.Xocolov cho rằng: Giao tiếp là sự tác động giữa những con
ngời với nhau và giữa những động vật có tâm lí với nhau. Nếu thu hẹp hơn thì có
thể coi giao tiếp là mối quan hệ giữa con ngời với những động vật có tâm lí giống
nhau. Nếu thu hẹp hơn nữa thì có thể coi giao tiếp là mối quan hệ giữa con ngời
với những động vật nuôi trong nhà [20, tr.103] .
Hạn chế của nhóm này là đã đồng nhất giao tiếp của ngời và động vật
đánh mất bản chất xã hội của giao tiếp con ngời, không thấy đợc sự khác nhau về
chất giữa giao tiếp của ngời với sự thông báo, truyền tín hiệu ở động vật.
c) Nhóm các tác giả đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau của giao tiếp
Tác giả A.G.Spirkin cho rằng, giao tiếp là quá trình trao đổi những ý
nghĩa, tình cảm kiến thức, ý chí với mục đích ngời này điều khiển ngời kia [22,
tr.209]. đồng thời
Tác giả V.N. Papherov thì cho rằng, giao tiếp là sự tác động qua lại của
con ngời. Nội dung của nó là sự nhận thức qua lại và trao đổi thông tin nhờ sự
giúp đỡ của những phơng tiện khác nhau, của sự thông báo với mục đích xây
dựng mối quan hệ qua lại có lợi đối với quá trình hoạt động nói chung [17]. Và
ông chia giao tiếp ra làm bốn thời điểm: Tiếp xúc hoặc liên hệ, tác động lẫn
nhau, nhận thức và quan hệ lẫn nhau.
Gần đây, tác giả G.M.Andreva đã cho rằng, giao tiếp bao gồm ba mặt có
quan hệ hữu cơ với nhau: Sự thông tin qua lại, sự tác động qua lại và sự tự giác
giữa con ngời với nhau [1, tr.137].
ở Việt Nam, các nhà tâm lý học cũng có một số quan điểm khác nhau về
khái niệm giao tiếp. Chẳng hạn:
Tác giả Nguyễn Ngọc Bích cho rằng, giao tiếp là sự tiếp xúc giữa hai hay
nhiều ngời thông qua phơng tiện ngôn ngữ nhằm trao đổi thông tin, tình cảm,
hiểu biết, tác động qua lại và điều chỉnh lẫn nhau [8, tr.53].
6
Tác giả Trần Tuấn Lộ thì cho rằng, giao tiếp là một loại nhu cầu và là một
loại hoạt động của mỗi ngời nhằm tiếp xúc, đối tác và giao lu với ngời khác, để
trao đổi sức lực, thông tin, kinh nghiệm, trí tuệ, tình cảm và thể xác với ngời khác
[12, tr.8].
Còn theo tác giả Nguyễn Quang uẩn thì giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý
giữa ngời với ngời, thông qua đó con ngời trao đổi với nhau về thông tin, về cảm
xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hởng tác động qua lại với nhau. Hay nói khác đi giao
tiếp xác lập và vận hành các quan hệ ngời ngời, hiện thực hoá các quan hệ xã
hội giữa chủ thể này với chủ thể khác [24, tr.48]
Nh vậy, khác với xu hớng chỉ nhấn mạnh một khía cạnh nhất định của
giao tiếp, nhóm các tác giả này đã thực sự đi sâu vào nghiên cứu bản chất giao
tiếp và đã chỉ ra đợc nhiều khía cạnh khác nhau chứa đựng trong nội hàm khái
niệm. Điều này giúp các nhà nghiên cứu có điều kiện đi vào nghiên cứu hiện tợng
giao tiếp một cách sâu sắc và toàn diện hơn.
Giao tiếp thờng tham gia vào hoạt động thực tiễn của con ngời (lao động,
học tập, trò chơi tập thể) bảo đảm việc định hớng cho sự tác động, tham gia vào
quá trình thực hiện và kiểm tra hoạt động của con ngời. Giao tiếp là nhu cầu của
con ngời muốn tiếp xúc với con ngời.
Tiếp xúc tâm lí giữa con ngời con ngời mang lại sự thông cảm lẫn
nhau, hiểu biết lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, thậm chí cứu vớt lẫn nhau để từng con
ngời, từng nhóm ngời và cộng đồng ngời tồn tại và phát triển. Cơ sở của sự tiếp
xúc tâm lí đó là sự hiểu biết lẫn nhau và thông cảm lẫn nhau, nảy sinh và phát
triển hội tụ ở đỉnh cao của sự tiếp xúc tâm lí và sự đồng nhất.
Đồng cảm là khả năng nhạy cảm đối với trải nghiệm của ngời thân, là sự
đồng nhất của nhân cách này với nhân cách khác và ngời này thâm nhập vào tình
cảm của ngời kia, đã là trạng thái tâm lí mà ngời này có thể đặt mình vào vị trí
ngời kia.
Từ các quan điểm nêu trên có thể thấy giao tiếp có những dấu hiệu cơ bản
nh sau:
7
- Giao tiếp là một hiện tợng đặc thù của con ngời, nghĩa là chỉ riêng con
ngời mới có giao tiếp thật sự khi sử dụng phơng tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ,
đồng thời đợc thực hiện chỉ trong xã hội loài ngời.
- Giao tiếp đợc thể hiện ở sự trao đổi thông tin, sự hiểu biết lẫn nhau, sự
rung cảm và ảnh hởng lẫn nhau.
- Giao tiếp dựa trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau giữa con ngời với con ngời.
Khái niệm về giao tiếp mà chúng tôi thấy phù hợp nhất để làm căn cứ
nghiên cứu đó là: Khái niệm giao tiếp đợc đa ra trong tác phẩm Giao tiếp s
phạm Nxb Giáo dục 1998 của các tác giả Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh:
Giao tiếp là hình thức đặc trng cho mối quan hệ giữa con ngời với con ngời
mà qua đó nảy sinh sự giao tiếp tâm lí và đợc biểu hiện ở các quá trình thông
tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hởng và tác động qua lại lẫn nhau [7].
1.1.3. Khái niệm kỹ năng giao tiếp
Hiện nay qua nghiên cứu các tài liệu chúng tôi thấy rằng các tác giả khi
nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp thờng quan tâm tới bản chất, đặc điểm của giao
tiếp, các kỹ năng, kỹ xảo giao tiếp cụ thể, hiệu quả và những yếu tố ảnh hởng đến
hiệu quả của quá trình giao tiếp mà đa ra một định nghĩa về kỹ năng giao tiếp
làm cơ sở nghiên cứu.
Trong phạm vi khoá luận này chúng tôi sử dụng định nghĩa kỹ năng giao
tiếp do tác giả Ngô Công Hoàn đã đa ra, làm khái niệm công cụ để nghiên cứu đề
tài này. Theo tác giả thì kỹ năng giao tiếp là hệ thống những thao tác, cử chỉ,
điệu bộ hành vi (kể cả hành vi ngôn ngữ) phối hợp hài hoà hợp lí của con ngời,
nhằm đảm bảo cho sự tiếp xúc với đối tợng giao tiếp đạt kết quả cao nhất, với
sự tiêu hao năng lợng tinh thần và cơ bắp ít nhất, trong những điều kiện thay
đổi [7].
1.1.4. Khái niệm Kiểm sát viên
Theo Điều 1 Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002
thì Kiểm sát viên là ngời đợc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm
vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp.
8
Kiểm sát viên phải là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và
Hiến pháp nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt,
liêm khiết và trung thực, có trình độ cử nhân luật, đã đợc đào tạo về nghiệp vụ
kiểm sát có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa có thời gian
làm công tác thực tiễn theo quy định của pháp luật, có sức khoẻ bảo đảm hoàn
thành nhiệm vụ đợc giao, và phải đợc tuyển chọn và bổ nhiệm làm kiểm sát viên
[30].
1.1.5. Khái niệm kỹ năng giao tiếp của Kiểm sát viên
Giao tiếp của Kiểm sát viên trong phiên toà phải tuân theo quy định của
pháp luật thông qua giao tiếp ngôn ngữ và các phơng tiện biểu cảm khác nh nét
mặt, cử chỉ, ánh mắt nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Để hoạt
động này đạt đợc hiệu quả, Kiểm sát viên ngoài việc nắm vững chuyên môn
nghiệp vụ, có đạo đức nghề nghiệp, có kiến thức sâu rộng về các lĩnh vực xã
hội thì họ còn cần phải có kỹ năng giao tiếp và sử dụng kỹ năng đó một cách
thuần thục.
Từ khái niệm về kỹ năng giao tiếp đã nêu ra ở phần trên chúng tôi tạm thời
xây dựng khái niệm kỹ năng giao tiếp của Kiểm sát viên nh sau:
Kỹ năng giao tiếp của Kiểm sát viên là hệ thống những thao tác, cử chỉ,
điệu bộ, hành vi (kể cả hành vi ngôn ngữ) phối hợp hài hoà hợp lí của Kiểm sát
viên, nhằm đảm bảo cho sự tiếp xúc với những ngời tiến hành tố tụng khác và
những ngời tham gia tố tụng để đạt đợc mục đích đề ra.
1.2. Đặc thù nghề nghiệp của Kiểm sát viên
1.2.1. Lao động của Kiểm sát viên là lao động trí não, đầy khó khăn, phức
tạp đặt dới sự giám sát nghiêm ngặt của xã hội, của công dân
Lao động của Kiểm sát viên là lao động đặc thù. Đối với một vụ án hình
sự, Kiểm sát viên có nhiệm vụ xem xét các tình tiết của vụ án, tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ, vấn đề định khung hình phạt và áp dụng với từng bị cáo. Tuy nhiên,
sự áp dụng ở đây không phải là cứng nhắc mà là một quá trình t duy căng thẳng
và phải huy động tổng thể của những hiểu biết không chỉ về pháp luật mà còn về
9
các lĩnh vực xã hội. Trên cơ sở quy định của pháp luật, Kiểm sát viên còn có
nhiệm vụ kiểm sát việc thực hiện pháp luật trong hoạt động tố tụng của cơ quan
tiến hành tố tụng và ngời tiến hành tố tụng. Nh vậy, Kiểm sát viên phải theo sát
quá trình giải quyết vụ án từ khi có quyết định khởi tố vụ án.
Hoạt động (lao động) của Kiểm sát viên phải chịu những áp lực, không chỉ
từ phía những ngời phạm tội, mà còn từ phía xã hội, công luận. Nguyên tắc Toà
án xét xử công khai đã tạo điều kiện cho nhân dân tham dự phiên toà, giám sát
hoạt động của những ngời tiến hành tố tụng nói chung và hoạt động của Kiểm sát
viên nói riêng. Nếu việc làm của Kiểm sát viên là đúng đắn thì đợc xã hội, công
luận ủng hộ, nhng nếu là việc làm sai trái sẽ bị công luận phê phán. Điều này ảnh
hởng to lớn đến nền công lí quốc gia, uy tín của Viện kiểm sát.
1.2.2. Hoạt động của Kiểm sát viên là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nớc
Nói đến chức năng của Nhà nớc là đề cập đến phơng diện hoạt động chủ
yếu của bộ máy Nhà nớc mà mỗi cơ quan Nhà nớc đều phải tham gia thực hiện ở
những mức độ khác nhau. Còn chức năng của các cơ quan Nhà nớc là những ph-
ơng diện hoạt động chủ yếu của các cơ quan đó nhằm góp phần thực hiện chức
năng chung của Nhà nớc. Đối với Viện kiểm sát có nhiều hoạt động khác nhau,
nhng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp là chức năng
chính, chủ yếu của Viện kiểm sát.
Điều 137 Hiến pháp 1992 và Điều 1 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
năm 2002, đã quy định: Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công
tố và kiểm sát các hoạt động t pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật đợc chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phơng, các
Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp
trong phạm vi trách nhiệm do luật định [29], [31].
Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp là hoạt động
thực hiện quyền lực Nhà nớc, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động nói chung.
10
1.2.3. Hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên toà phải tuân theo một trật tự
pháp lí chặt chẽ đợc qui định trong pháp luật tố tụng
Kiểm sát viên tại phiên toà phải tuân theo một trình tự pháp lí chặt chẽ đợc
quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003.
Hoạt động xét xử có tính tổ chức rất chặt chẽ. Khi xét xử một vụ việc cụ
thể, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, th ký toà án và những ngời tham gia tố tụng
phải tuân theo một trình tự thủ tục do pháp luật quy định, không đợc tuỳ tiện bỏ
qua bất cứ giai đoạn nào: Đầu tiên là giai đoạn bắt đầu phiên toà, xét hỏi tại phiên
toà, tranh luận tại phiên toà cuối cùng là nghị án và tuyên án. Không chỉ có toàn
bộ quá trình xét xử mà mỗi giai đoạn trong quá trình xét xử cũng phải diễn ra
tuần tự theo các bớc mà luật tố tụng hình sự quy định. Ví dụ: Trong giai đoạn
xét hỏi, đối với từng đối tợng thì Chủ toạ phiên toà hỏi trớc rồi đến các Hội
thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, ngời bào chữa, ngời bảo vệ quyền lợi của đơng
sự. Quy định nh vậy nhằm tránh sự tuỳ tiện, lạm quyền của cơ quan tiến hành tố
tụng và những ngời tiến hành tố tụng bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân, tổ chức.
Tại phiên toà Kiểm sát viên phải tuân theo sự điều hành của Thẩm phán
chủ toạ phiên toà, không đợc xử sự và phát ngôn tuỳ hứng.
Tham gia phiên toà hình sự, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát
đọc bản cáo trạng truy tố bị cáo trớc toà. Cáo trạng là một bản luận tội bị cáo
với đầy đủ chứng cứ và căn cứ pháp luật. Trên cơ sở bản cáo trạng hội đồng xét
xử sẽ xem xét lại các chứng cứ một cách công khai và ra bản án đối với bị
cáo.Bản cáo trạng không phải là quyết định cuối cùng giải quyết vụ án nhng nếu
không nêu đầy đủ, chi tiết các chứng cứ đã đợc xác minh liên quan đến vụ án,
truy tố không đúng ngời, đúng tội, hoặc truy tố không hết các đối tợng liên quan
đến vụ án sẽ dẫn đến những hậu quả rất phức tạp, không những công lí không đ-
ợc thực hiện mà còn ảnh hởng đến uy tín danh dự của những ngời bị truy tố oan.
Do đó, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ càng, tỉ mỉ hồ sơ vụ án, luật nội dung
có liên quan để ra bản cáo trạng hoặc ra quyết định đúng đắn, hợp tình, hợp lí.
11
1.3. đặc điểm Giao tiếp của Kiểm sát viên tại phiên toà
hình sự
Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án
hình sự sẽ tham gia phiên toà với t cách là đại diện của cơ quan Nhà nớc. Vì thế
quan hệ giao tiếp của Kiểm sát viên tại phiên toà hình sự là quan hệ giao tiếp
chính thức chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Tại phiên toà hình sự, Kiểm sát viên
phải giao tiếp với rất nhiều đối tợng, với từng nhóm đối tợng Kiểm sát viên lại có
vị thế và mục đích khác nhau.
Trớc hết, đối với nhóm đối tợng là ngời tiến hành tố tụng bao gồm: Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân thì một mặt, Kiểm sát viên phải đáp ứng những yêu cầu
hợp pháp và chịu sự điều khiển của Thẩm phán Chủ toạ phiên toà, nhng mặt khác
họ lại thực hiện chức năng kiểm sát việc xét xử. Tuy nhiên, Thẩm phán Chủ toạ
phiên toà luôn giữ vai trò chủ động điều khiển phiên xét xử.
Đối với nhóm đối tợng là ngời tham gia tố tụng bao gồm: Bị cáo, ngời bị
hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ngời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án, ngời làm chứng, ngời bào chữa, ngời bảo vệ quyền lợi cho đơng sự, ngời
giám định, ngời phiên dịch thì vị thế của họ với Kiểm sát viên là ngang bằng
nhau, hai bên phải tôn trọng quyền và nghĩa vụ của nhau, không bên nào đợc
phép sử dụng thủ đoạn ép buộc bên kia hành động theo ý mình. Tuy nhiên, trong
giao tiếp với những đối tợng này (trừ ngời bào chữa, ngời bảo vệ quyền lợi của đ-
ơng sự) Kiểm sát viên giữ vai trò chủ động, phối hợp điều chỉnh các tác động, có
quyền tổ chức và điều chỉnh cuộc tiếp xúc để nhằm làm sáng tỏ sự thật của vụ án.
Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng, giao tiếp của Kiểm sát viên
khi tham gia phiên toà hình sự khác với các loại giao tiếp khác bởi một số đặc
điểm đặc thù sau đây:
- Về mặt pháp lý, nội dung giao tiếp phải tuân thủ các quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự. Phơng pháp giao tiếp phải kết hợp tác động xã hội với tác
động bằng pháp luật.
12
- Về chủ thể, trong giao tiếp Kiểm sát viên phải có khả năng thuyết phục,
chủ động, sáng tạo, có thái độ khách quan, tính quyết đoán, tính độc lập.
- Về mục đích, giao tiếp để xác minh, kiểm tra tính đúng đắn, khách quan
của các chứng cứ trong vụ án.
- Về mặt khoa học, nội dung giao tiếp đợc xây dựng trên cơ sở của nhiều
ngành khoa học, đặc biệt là khoa học giao tiếp, khoa học pháp lý, khoa học
nghiệp vụ kiểm sát và ngôn ngữ học
1.4. Nội dung kỹ năng giao tiếp của kiểm sát viên
Kỹ năng giao tiếp của Kiểm sát viên tại phiên toà hình sự bao gồm 3 nhóm
kỹ năng: Kỹ năng định hớng giao tiếp (hiểu rõ đối tợng để vạch kế hoạch chuẩn
bị giao tiếp); Kỹ năng định vị (đặt mình vào tâm lí, hoàn cảnh cụ thể của đối tợng
giao tiếp để tạo ra sự đồng cảm); Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp (luôn giữ
đợc sự bình tĩnh, tự chủ, sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để tác động đến đối t-
ợng giao tiếp).
1.4.1. Kỹ năng định hớng giao tiếp
Đây là một trong những kỹ năng quan trọng của Kiểm sát viên trong hoạt
động xét hỏi và tranh luận tại phiên toà. Nó bao gồm kỹ năng định hớng trớc khi
giao tiếp và kỹ năng định hớng trong quá trình giao tiếp với các đối tợng giao tiếp.
Kỹ năng định hớng trớc khi giao tiếp thể hiện khi Kiểm sát viên đợc phân
công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc xét xử với một vụ án hình sự cụ
thể, đã nghiên cứu kỹ những tài liệu, chứng cứ đã thu thập đợc từ giai đoạn khởi tố
vụ án. Trên cơ sở đó, Kiểm sát viên định hớng đợc những vấn đề cần làm sáng tỏ
trong quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, những tài liệu, chứng cứ đã thu
thập đợc, những câu hỏi đợc đa ra để đối tợng trả lời, dự kiến chiến thuật lấy lời
khai của bị cáo, ngời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ngời có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngời làm chứng, ngời giám định. Kỹ năng định hớng
trớc khi tiếp xúc với các đơng sự còn thể hiện khi Kiểm sát viên nghiên cứu những
đặc điểm cá nhân của những đối tợng nói trên nh: Giới tính, tuổi, trình độ học vấn,
nghề nghiệp, sự hiểu biết, tính cách, khí chất, trạng thái tâm lí của họ Trên cơ sở
13
đó, Kiểm sát viên cần dự đoán xem những đối tợng giao tiếp đó (đặc biệt là bị cáo)
sẽ có những phản ứng nh thế nào với nội dung sẽ đợc đa ra khi tiếp xúc với họ.
Điều này, giúp cho Kiểm sát viên chủ động, linh hoạt, sáng tạo, lựa chọn và áp
dụng các phơng pháp lấy lời khai của những đối tợng đó sao cho phù hợp, tránh
những tình huống bất ngờ bị động, lúng túng trớc những phản ứng tiêu cực của họ.
Sau khi đã dự kiến đợc các phản ứng có thể xảy ra, Kiểm sát viên cần phải dự kiến
cách mở đầu, diễn biến và kết thúc giao tiếp với họ.
Kỹ năng định hớng trong quá trình giao tiếp với đối tợng giao tiếp thể hiện
khi tiếp xúc với họ, Kiểm sát viên phải quan sát nét mặt, cử chỉ, hành vi, lời nói
của họ để nhanh chóng nắm bắt và phán đoán đợc trạng thái tâm lí, suy nghĩ, tình
cảm của họ. Ví dụ: Nếu quan sát thấy họ nhoài ngời về phía Kiểm sát viên chứng
tỏ họ đang ở trong trạng thái tâm lí tích cực, họ đồng ý với Kiểm sát viên hoặc ít
nhất là họ đang quan tâm đến những gì Kiểm sát viên đang nói. Ngợc lại, nếu họ
khoanh tay cho thấy họ đang bảo vệ chính họ và có thể không tin vào những điều
Kiểm sát viên đang nói. Trên cơ sở định hớng đúng đợc đối tợng qua quá trình
giao tiếp, Kiểm sát viên cũng có thể điều chỉnh hành vi giao tiếp của bản thân
thông qua nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành vi. Ví dụ: Nếu họ đang phân vân cha muốn
thổ lộ, Kiểm sát viên đoán đợc suy nghĩ đó có thể thể hiện sự khuyến khích, đồng
tình thông qua những biểu hiện bên ngoài để đơng sự đặt niềm tin vào Kiểm sát
viên, từ đó họ mạnh dạn trình bày những suy nghĩ của mình một cách trung thực,
cung cấp các tài liệu có ý nghĩa quan trọng cho việc giải quyết vụ án.
1.4.2. Kỹ năng định vị khi giao tiếp
Đây là khả năng của Kiểm sát viên biết xác định vị trí trong giao tiếp, biết
đặt vị trí của mình vào vị trí của những ngời tiến hành tố tụng khác và những ngời
tham gia tố tụng để tạo mối quan hệ bình đẳng và sự đồng cảm, giúp họ có điều
kiện tích cực, chủ động khi giao tiếp với mình. Ví dụ: Khi hỏi bị cáo là ngời cha
thành niên, đây là lứa tuổi hết sức nhạy cảm vì thế Kiểm sát viên phải tìm hiểu đặc
điểm tâm lí của trẻ cha thành niên, phải có thái độ tôn trọng tình cảm và suy nghĩ
của bị cáo, phải hiểu đợc sự mặc cảm của trẻ khi thực hiện hành vi sai trái và bị lên
án.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét