Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Hoàn thiện công tác hạch toán CPSX & tính GT tại C.ty Du lịch va xúc tiến thương mại

Khoá luận tốt nghiệp
sinh của chi phí. Sở dĩ có sự khác nhau giữa chi tiêu và chi phí là do đặc điểm, tính
chất vận động và phơng thức chuyển dịch giá trị của từng loại tài sản vào quá trình
sản xuất kinh doanh và yêu cầu kỹ thuật hạch toán chung.
Tóm lại, bản chất của chi phí sản xuất kinh doanh là sự chuyển dịch vốn, chuyển
dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tợng tính giá thành (sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ).
2.2. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh dịch vụ.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra rất nhiều chi phí.
Các chi phí này rất nhiều loại, nhiều khoản khác nhau, khác nhau cả về nội dung, tính
chất, công dụng trong quá trình kinh doanh. Do vậy, để thuận lợi cho công tác quản
lý và hạch toán cần thiết phải tiến hành phân loại chi phí theo những tiêu thức khác
nhau.
Nh vậy, phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại,
từng nhóm khác nhau theo những đặc trng, những tiêu chuẩn nhất định.
Trên thực tế, xuất phát từ những yêu cầu của công tác quản lý hạch toán, việc phân
loại chi phí sản xuất kinh doanh rất đa dạng và phong phú. Thông thờng, chi phí sản
xuất kinh doanh đợc phân theo một số cách, chủ yếu trong hạch toán chi phí sản xuất
kinh doanh và tính giá thành trên góc độ kế toán tài chính cụ thể nh sau:
2.2.1. Phân theo yếu tố chi phí.
Nhằm phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu
đồng nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, chi phí đợc
phân theo yếu tố. Ưu điểm của cách phân loại này giúp cho việc xây dựng và phân
tích định mức vốn lu động cũng nh việc kiểm tra và phân tích dự toán chi phí. Theo
quy định hiện hành, toàn bộ chi phí đợc chia làm 7 yếu tố:
+ Yếu tố nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính,
vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ sử dụng vào sản xuất kinh doanh
(loại trừ giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi cùng với nhiên liệu,
động lực).
5
Khoá luận tốt nghiệp
+ Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong
kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
+ Yếu tố tiền lơng và các khoản phụ cấp lơng: Phản ánh tổng số tiền lơng và phụ
cấp mang tính chất lơng phải trả cho công nhân viên. Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ
trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lơng và phụ cấp lơng phải trả công nhân
viên.
+ Yếu tố khấu hao TSCĐ: Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ
của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh.
+ Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài
dùng cho sản xuất kinh doanh.
+ Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền cha
phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
2.2.2. Phân theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm.
Cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ toàn bộ chi phí
cho từng đối tợng. Theo quy định hiện hành, giá thành toàn bộ sản phẩm bao gồm 5
khoản mục chi phí sau:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu liên
quan trực tiếp đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm toàn bộ tiền lơng, tiền công và các khoản
phụ cấp mang tính chất tiền lơng trả cho công nhân trực tiếp sản xuất, chế tạo sản
phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ cùng với các khoản trích theo tỷ lệ quy định cho
các quỹ KPCĐ, BHXH, BHYT (phần trích vào chi phí).
+ Chi phí sản xuất chung: Gồm toàn bộ các khoản chi phí còn lại phát sinh trong
phạm vi phân xởng, bộ phận sản xuất sau khi đã loại trừ chi phí nguyên vật liệu và
chi phí nhân công trực tiếp nói trên.
+ Chi phí bán hàng: Gồm toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc
tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ trong kỳ.
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: Gồm toàn bộ các khoản chi phí liên quan đến
6
Khoá luận tốt nghiệp
quản trị kinh doanh và quản lý hành chính trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà
không tách đợc cho bất kỳ hoạt động hay phân xởng nào.
2.2.3: Phân theo cách thức kết chuyển chi phí:
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh đợc chia thành chi phí sản
phẩm và chi phí thời kỳ. Chi phí sản phẩm là những chi phí gắn liền với việc sản xuất
ra đợc sản phẩm hoặc đợc mua. Còn chi phí thời kỳ là những chi phí làm giảm lợi tức
trong một kỳ nào đó. Nó không phải là một phần giá trị sản phẩm đợc sản xuất ra
hoặc đợc mua nên đợc xem là các chi phí, phí tổn cần đợc khấu hao ra từ lợi nhuận
của thời kỳ mà các chi phí đó phát sinh.
3. Giá thành sản phẩm, dịch vụ:
2.1. Khái niệm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động
sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lợng công tác, sản phẩm, lao vụ đã
hoàn thành.
Các khoản chi phí đợc tính vào giá thành sản phẩm đó là những chi phí tham gia
trực tiếp và gián tiếp vào quá trình sản xuất ra sản phẩm. Những chi phí này phải
phản ánh đợc giá trị thực của các t liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và
các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí lao động sống.
Mọi cách tính toán mang tính chủ quan mà không phản ánh đợc một cách đúng đắn
sự hao phí các yếu tố sản xuất trong giá thành sẽ làm ảnh hởng đến hiệu quả kinh
doanh và việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.

3.2. Phân loại giá thành.
Trong thực tế, để đáp ứng yêu cầu và mục đích của công tác quản lý và hạch toán
giá thành đợc phân loại theo nhiều loại khác nhau. Cụ thể có một số cách phân loại
giá thành sau:
3.2.1. Phân loại thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành: Giá thành kế
hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế.
7
Khoá luận tốt nghiệp
+ Giá thành kế hoạch: là giá thành đợc xác định trớc khi bớc vào sản xuất kinh
doanh dựa trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trớc và các định mức, các dự toán chi phí
của kỳ kế hoạch.
+ Giá thành định mức: cũng đợc xác định trớc khi bắt đầu sản xuất sản phẩm.
Giá thành định mức đợc xác định trên cơ sở các định mức về chi phí hiện hành tại
từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thờng là ngày đầu tháng) nên giá thành
định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt đợc
trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành.
+ Giá thành thực tế: Là chỉ tiêu đợc xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất
sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản
phẩm.
Ưu điểm của việc phân loại này: Đó là quan sát, quản lý chi phí chặt chẽ hơn, nắm
đợc nguyên nhân làm tăng giảm định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ đó có
những biện pháp điều chỉnh kế hoạch sản xuất và định mức chi phí cho phù hợp.
3.2.2: Phân loại phạm vi phát sinh chi phí.
Theo cách phân loại này, giá thành đợc chia thành giá thành sản xuất và giá thành
tiêu thụ.
+ Giá thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xởng): là chỉ tiêu phản ánh tất
cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm
vi phân xởng sản xuất.
+ Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ): là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các chi phí
phát sinh liên quan đến việc sản xuất tiêu thụ sản phẩm. Giá thành tiêu thụ đợc tính
theo công thức:
Giá thành toàn bộ Giá thành sản xuất Chi phí quản lý Chi phí
= + +
của sản phẩm của sản phẩm doanh nghiệp bán hàng
Ưu điểm của cách phân loại này là giúp cho nhà quản lý biết đợc kết quả kinh
doanh (lãi, lỗ) của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ doanh nghiệp kinh doanh. Tuy
8
Khoá luận tốt nghiệp
nhiên việc lựa chọn những tiêu thức phân phân bổ những chi phí bán hàng, chi phí
quản lý doanh nghiệp. Trong thực tế còn rất nhiều hạn chế nên cách phân loại này chỉ
còn mang ý nghĩa học thuật, nghiên cứu.
4. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, dịch vụ.
Có thể nói, chi phí sản xuất và giá thành là hai thuật ngữ luôn đi đôi với nhau. Hoạt
động hạch toán chi phí, tập hợp chi phí với mục đích tính toán số tiền mà doanh
nghiệp đã bỏ ra trong quá khứ để sản xuất ra sản phẩm. Nhng nếu chỉ hạch toán, tập
hợp chi phí không thì cha đủ bởi vì không phải tất cả chi phí đó đều dùng vào cho sản
xuất ra sản phẩm. Vì vậy, để xác định đúng số chi phí để sản xuất ra sản phẩm hay
giá trị thực của sản phẩm, dịch vụ thì cần thiết phải tính giá thành. Để công việc tính
giá thành đợc chính xác đòi hỏi công tác tập hợp chi phí sản xuất phải chặt chẽ, chính
xác. Chi phí sản xuất là cơ sở tính giá thành sản phẩm, dịch vụ. Khi tính toán đợc giá
thành, giúp cho doanh nghiệp xác định đợc yếu tố sản xuất nào sử dụng hợp lý, hiệu
quả, yếu tố sản xuất nào sử dụng cha hợp lý dẫn đến hiệu quả cha cao. Từ đó, doanh
nghiệp có cơ sở đa ra các biện pháp điều chỉnh chi phí sản xuất kinh doanh cho phù
hợp nhằm nâng cao đợc chất lợng sản phẩm, hạ thấp giá thành.
Tóm lại, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, dịch vụ là hai khái niệm luôn đi
đôi với nhau. Khi tập hợp chi phí mục đích là tính giá thành, giá thành đợc tính toán
chính xác sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện đợc tái sản xuất giản đơn, tái
sản xuất mở rộng. Vai trò của chi phí sản xuất kinh doanh, giá thành sản phẩm dịch
vụ là rất quan trọng đối với công tác quản lý và hạch toán của doanh nghiệp.
9
Khoá luận tốt nghiệp
II. Đối tợng và phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh và tính giá
thành sản phẩm, dịch vụ.
1. Đối tợng và phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh.
Trong quá trình tổ chức hạch toán sản xuất, việc xác định đối tợng hạch toán chi
phí sản xuất kinh doanh là rất quan trọng. Thực chất việc xác định đối tợng hạch toán
chi phí sản xuất kinh doanh là việc xác định nơi xác định chi phí và nơi chịu chi phí.
Mỗi doanh nghiệp có đặc điểm hoạt động kinh doanh khác nhau do đó đối tợng tập
hợp chi phí cũng có thể khác nhau. Trong thực tế các doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh du lịch thờng tập hợp chi phí theo hoạt động kinh doanh. Tập hợp chi phí theo
từng hoạt động có nghĩa là các chi phí liên quan đến hoạt động nào thì đợc tập hợp
trực tiếp cho hoạt động đó (ví dụ hoạt động hớng đẫn du lịch, hoạt động kinh doanh
ăn uống, kinh doanh dịch vụ lu trú).Tuỳ theo yêu cầu của chế độ hạch toán kinh tế
nội bộ của các tổng công tymà các đơn vị phụ thuộc có thể lựa chọn đối tợng tập hợp
chi phí theo địa điểm kinh doanh dịch vụ . Trên cơ sở đối tợng hạch toán chi phí, kế
toán lựa chọn phơng pháp hạch toán (tập hợp) chi phí thích ứng. Phơng pháp hạch
toán chi phí sản xuất là một phơng pháp hay hệ thống các phơng pháp đợc sử dụng để
tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất kinh doanh trong phạmvi giới hạn của đối t-
ợng hạch toán chi phí. Thông thờng, phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất kinh
doanh bao gồm các phơng pháp nh hạch toán chi phí theo sản phẩm, theo đơn đặt
hàng, theo giai đoạn công nghệ, theo phân xởng Nội dung chủ yếu của phơng pháp
hạch toán chi phí sản xuất là kế toán mở thẻ (hoặc sổ) chi tiết hạch toán chi phí sản
xuất theo từng đối tợng đã xác định, phản ánh các chi phí liên quan đến đối tợng.
Hàng tháng tổng hợp chi phí theo từng đối tợng. Do đặc điểm kinh doanh du lịch có
nhiều hoạt động đợc thực hiện đồng thời, các chi phí phục vụ kinh doanh có thể liên
quan đến một hoặc nhiều hoạt động. Vì vậy, phơng pháp tập hợp chi phí dich vụ du
lịch thờng bao gồm 2 bớc sau đây:
10
Khoá luận tốt nghiệp
Bớc 1: Những chi phí cơ bản liên quan đến hoạt động kinh doanh nào thì tập hợp
trực tiếp cho hoạt động đó. Những chi phí cơ bản liên quan đến nhiều hoạt động kinh
doanh thì đợc tập hợp riêng để cuối tháng tiến hành phân bổ cho từng hoạt động theo
tiêu chuẩn phù hợp.
Bớc 2: Phơng pháp tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung.
Những chi phí chung trong kinh doanh du lịch bao gồm chi phí dịch vụ mua
ngoài nh tiền điện, tiền nớc, tiền điện thoại, , khấu hao tài sản cố định, công cụ đồ
dùng và các chi phí khác. Các chi phí này liên quan đến nhiều hoạt động khác nhau
nên khi chi phí phát sinh cũng đợc tập hợp riêng để cuối tháng phân bổ cho từng hoạt
động kinh doanh.
Tóm lại, việc xác định đối tợng và phơng pháp hạch toán chi phí là rất cần thiết trớc
khi chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh. Mỗi đối tợng hạch toán chi phí thờng chỉ
thích ứng với một phơng pháp hạch toán và tập hợp chi phí.
2. Đối tợng và phơng pháp tính giá thành sản phẩm, dịch vụ.
2.1. Xác định đối tợng tính giá thành sản phẩm, dịch vụ.
Xác định đối tợng tính giá thành thực chất là việc xác định sản phẩm, bán thành
phẩm, công việc, lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị. Đối tợng đó
có thể là một sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay đang trên dây chuyền
sản xuất tuỳ theo yêu cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm. Để phân
biệt đợc đối tợng hạch toán chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành sản phẩm ngay
cả khi chúng là một, ta phải dựa vào nhiều tiêu chuẩn khác nhau nh đặc điểm quy
trình công nghệ sản xuất (giản đơn hay phức tạp) vào loại hình sản xuất (đơn chiếc,
hàng loạt) vào yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh
Căn cứ vào đặc điểm tổ chức kinh doanh dịch vụ,loại sản phẩm dịch vụ mà ngời ta
xác định đối tợng tính giá thành cho phù hợp. Kinh doanh dịch vụ du lịch có nhiều
hoạt động khác nhau, mỗi hoạt động có đặc điểm riêng và thc hiện một số dịch vụ
nhất định nên việc xác định đối tợng tính giá thành hợp lí là rất cần thiết. Cụ thể, hoạt
động hớng dẫn du lịch thì đối tợng tính gía thành thờng là tuor du lịch hoặc đối tợng
11
Khoá luận tốt nghiệp
tính giá thành của hoạt động vận chuyển là ngời hoặc 1000 ngời. Km. Hành khách
vận chuyển.
2.2: Phơng pháp tính giá thành sản phẩm:
Trong thực tế có rất nhiều phơng pháp tính giá thành sản phẩm dịch vụ tuỳ thuộc
vào phơng pháp tập hợp chi phí. Về cơ bản, phơng pháp tính giá thành bao gồm một
số phơng pháp sau:
2.2.1: Phơng pháp trực tiếp (còn gọi là phơng pháp giản đơn):
Phơng pháp này đợc áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất giản
đơn, số lợng mặt hàng ít sản xuất với khối lợng lớn và chu kỳ sản xuất ngắn nh các
nhà máy điện, nớc, các doanh nghiệp khai thác (quặng, than, gỗ). Đối tợng hạch
toán chi phí ở các doanh nghiệp này là từng loại sản phẩm, dịch vụ. Giá thành sản
phẩm đợc tính bằng cách trực tiếp lấy tổng số chi phí sản xuất cộng hoặc trừ số chênh
lệch giữa sản phẩm dở dang đầu kỳ so với cuối kỳ chia cho số lợng sản phẩm hoàn
thành.
2.2.2: Phơng pháp hệ số:
Phơng pháp hệ số đợc áp dụng trong những doanh nghiệp mà trong cùng một quá
trình sản xuất cùng sử dụng một số nguyên liệu và một lợng lao động nhng thu đợc
đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau. Và chi phí không tập hợp riêng cho từng loại
sản phẩm mà đợc tập hợp chung cho cả quá trình sản xuất. Theo phơng pháp này, kế
toán căn cứ vào hệ số quy đổi để quy đổi các loại sản phẩm về sản phẩm gốc. Từ đó,
dựa vào tổng chi phí liên quan đến giá thành các loại sản phẩm đã tập hợp để tính ra
giá thành sản phẩm gốc và giá thành từng loại sản phẩm.
Ta có một số công thức sau:
Tổng giá thành của tất cả các loại sản phẩm
Giá thành đơn vị sản phẩm gốc=
Tổng số sản phẩm gốc (kể cả quy đổi)
12
Khoá luận tốt nghiệp
Giá thành đơn vị Giá thành đơn vị Hệ số quy đổi sản phẩm
= x
sản phẩm từng loại sản phẩm gốc từng loại
III. Hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất theo phơng pháp kê khai thờng xuyên:
1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, việc tiêu dùng nguyên vật liệu trực tiếp cho
việc chế tạo sản phẩm, thực hiện dịch vụ là điều không tránh khỏi. Chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu, vật liệu phụ, nhiên liệu đợc xuất dùng
trực tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Xuất nguyên vật liệu cho đối tợng tập
hợp chi phí riêng biệt (phân xởng, bộ phận sản xuất kinh doanh hoặc sản phẩm, dich
vụ) thì hạch toán trực tiếp cho đối tợng đó. Trong trờng hợp vật liệu xuất dùng có liên
quan đến nhiều đối tợng chịu chi phí mà không hạch toán riêng biệt ra đợc thì sẽ tiến
hành phân bổ chi phí cho các đối tợng có liên quan. Công thức phân bổ nh sau:
Chi phí vật liệu phân bổ Tổng chi phí vật liệu Tỷ lệ (hay hệ số)
= x
cho từng đối tợng cần phân bổ phân bổ

Trong đó:
Tỷ lệ (hay hệ số) Tổng tiêu thức phân bổ của từng đối tợng
=
phân bổ Tổng tiêu thức phân bổ của tất cả các đối tợng

Tiêu thức phân bổ thờng đợc sử dụng là phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ số,
theo trọng lợng
Để thuận tiện trong công tác hạch toán, theo dõi các khoản chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp, kế toán sử dụng TK 621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Tài khoản này
không có số d và đợc mở chi tiết cho từng đối tợng hạch toán chi phí (phân xởng, sản
phẩm, dịch vụ)
13
Khoá luận tốt nghiệp
Bên nợ: Phản ánh giá trị nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp cho sản xuất kinh
doanh
Bên có: Giá trị nguyên vật liệu dùng không hết nhập lại kho.
Giá trị kết chuyển chi phí nguyên vật liệu
Kế toán tiến hành công tác hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp nh sau:
* Xuất kho nguyên vật liệu sử dụng để chế tạo sản phẩm, kế toán ghi:
Nợ TK 621- Chi tiết theo từng đối tợng
Có TK 152- Giá thực tế xuất dùng theo từng loại
* Nếu mua nguyên vật liệu về không nhập kho mà xuất trực tiếp cho sản xuất, kế
toán ghi:
Nợ TK 621- Giá mua cha có thuế
Nợ TK 133 (1331)- Thuế GTGT đợc khấu trừ
Có TK 331, 111, 112
* Nếu xuất dùng không hết nhập lại kho:
Nợ TK 152- Chi tiết vật liệu
Có TK 621- Chi tiết đối tợng
* Cuối kỳ, kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để tính giá thành:
Nợ TK 154- Chi tiết theo từng đối tợng
Có TK 621- Chi tiết theo từng đối tợng

Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
TK 151,152,331,111 TK621 TK 154
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét