Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014
Phát triển các tổ chức tài chính nông thôn Việt Nam
iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Cụm từ tiếng Việt Cụm từ tiếng Anh
AGRIBANK
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thônViệt Nam
CEP
Quỹ hỗ trợ phát triển vốn Capital Aid Fund for
Employment of the Poor
DID
Cơ quan phát triển quốc tế Canada
Desjadin International
Development
DTBB
Dự trữ bắt buộc
FSS
Sự bền vững về tài chính Financial self-
sustainability
GB
Ngân hàng Grameen
Grameen Bank
HLHPN
Hội liên hiệp phụ nữ
IFAD
Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế International Fund for
Agricultural Development
NGO Tổ chức phi chính phủ Non-governmental
Organization
NH Ngân hàng
NHCSXH Ngân hàng Chính sách Xã hội
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHNo&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMNN Ngân hàng thương mại nhà nước
OSS Sự bền vững về hoạt động Operational self-
sustainability
iv
Từ viết tắt Cụm từ tiếng Việt Cụm từ tiếng Anh
QTDND Quỹ Tín dụng nhân dân
QTDNDTW Quỹ Tín dụng nhân dân trung ương
ROA Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản Return on Assets
ROE Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu Return on Equity
TCTC Tổ chức tài chính
TCTCNT Tổ chức tài chính nông thôn
TYM Quỹ Tình thương I love you fund
v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Các nhà cung cấp dịch vụ tài chính nông thôn 21
Bảng 1.2. Tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển hoạt động của các TCTCNT 41
Bảng 1.3. Các biến trong mô hình OLS về mối quan hệ giữa mức độ tiếp cận
và tính bền vững của TCTCNT
43
Bảng 1.4. Các biến trong mô hình phân tích nhân tố 44
Bảng 2.1 Các nhà cung cấp tài chính nông thôn ở Việt Nam 61
Bảng 2.2. Số lượng hộ và tỷ trọng cho vay hộ của các TCTCNT chính thức 67
Bảng 2.3. Dư nợ tín dụng của các TCTCNT Việt Nam, 2001-2007 69
Bảng 2.4. Huy động tiết kiệm từ dân cư giai đoạn 2001-2007 72
Bảng 2.5. Số lượng sản phẩm của các TCTCNT Việt Nam tính đến
31/12/2007
76
Bảng 2.6. Dư nợ cho vay và tiết kiệm của các TCTCNT chính thức 80
Bảng 2.7. So sánh giá trị các biến độc lập trong mô hình hồi quy OLS của
Việt Nam và các nước châu Mỹ La Tinh
98
Bảng 2.8: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình phân tích
nhân tố
100
Bảng 3.1. Phân tích hệ thống QTDND Việt Nam theo mô hình SWOT.148
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Vai trò của các TCTCNT đối với kinh tế - xã hội nông thôn 23
Hình 1.2. Các cách tiếp cận và hoạt động cơ bản của các TCTCNT 25
Hình 1.3. Quá trình phát triển hoạt động của các TCTCNT [196] 35
Hình 1.4. Đánh giá sự phát triển hoạt động của các TCTCNT 37
Hình 2.1. Phân đoạn thị trường tài chính nông thôn Việt Nam 66
Hình 2.2. Thị phần tín dụng khu vực nông thôn theo số lượng khách hàng 70
Hình 2.3. Thị phần tín dụng khu vực nông thôn theo dư nợ 71
Hình 2.4. Số lượng khách hàng hộ dân của các TCTCNT 2001-2007 78
Hình 2.5. Mức vay trung bình/GDP đầu người của các TCTCNT 83
Hình 2.6. Độ sâu tiếp cận của các TCTCTN so với mức trung bình của các
TCTCNT trên thế giới 84
Hình 2.7. So sánh tỷ lệ nợ xấu của các TCTCNT với hệ thống NHTMNN 86
Hình 2.8. Mức độ tự vững về hoạt động OSS của các TCTCNTchính thức 88
Hình 2.9. Mức độ tự vững về tài chính FSS của các TCTCNT chính thức 91
Hình 2.10: ROA của các TCTCNT chính thức 95
Hình 3.1. Tháp rủi ro – Một phối cảnh về tổ chức 160
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt là các quốc
gia đang phát triển, kinh tế nông thôn giữ vai trò hết sức quan trọng. Phần
lớn dân số và lao động đều sống ở khu vực nông thôn, kinh tế nông thôn
tạo điều kiện cung cấp hàng hóa với giá cánh kéo mềm để trợ giúp khu vực
đô thị phát triển.
Nhằm góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội nông thôn, các tổ chức tài chính nông thôn (TCTCNT) đã được chú
trọng phát triển. Tầm quan trọng của các TCTCNT đã được khẳng định
thông qua việc Liên hiệp quốc chọn năm 2005 là năm quốc tế về tài chính
nông thôn, và giải thưởng Nobel hòa bình năm 2006 đã được trao cho
Yunus – người sáng lập ra Grameen Bank – ngân hàng dành cho người
nghèo nổi tiếng tại Bangladesh.
Tại Việt Nam, các TCTCNT đã phần nào phát huy được vai trò
tích cực đối với quá trình phát triển kinh tế nông thôn. Sự phát triển mạnh
mẽ của các TCTCNT về phạm vi tiếp cận và các dịch vụ cung ứng, đặc
biệt là các dịch vụ về tín dụng và tiết kiệm trong những năm qua đã đáp
ứng được phần lớn nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế nông thôn. Theo
đánh giá của Ngân hàng thế giới năm 2006, hầu hết người dân nông thôn
Việt Nam tiếp cận tươ
ng đối dễ dàng với các TCTCNT khác nhau, với
tính chất độc quyền thấp. Các khoản vay nhỏ (lên đến 10 triệu đồng) khá
dễ dàng đối với các nhà kinh doanh nhỏ và nông dân, phản ánh chính sách
của Chính phủ sử dụng các công cụ tín dụng trợ cấp để hỗ trợ công cuộc
giảm đói nghèo và phát triển nông thôn. Khác với tình trạng thường thấy
ở các nước đang phát triển, khả năng tiếp cận tài chính của khách hàng ở
Việ
t Nam tương đối khả quan. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển kinh
2
tế đất nước, vai trò này chưa được phát huy tương xứng với tiềm năng của
các TCTCTN. Hơn nữa, việc tiếp cận tương đối dễ dàng của khách hàng
nông thôn đối với khu vực tài chính có thể gây ra tình trạng nợ nần quá
nhiều, hiệu quả hoạt động tài chính thấp, dễ bị tổn thương do rủi ro, khả
năng tài chính hạn hẹp, không có hệ thống cảnh báo rủi ro sớm đố
i với
khách hàng nông thôn. Quy mô hoạt động của các TCTCNT thấp, số
lượng dịch vụ tài chính nghèo nàn, chất lượng dịch vụ thấp. Sự phối kết
hợp, điều phối trong hoạt động giữa các TCTCNT cũng như phối hợp với
ngành tài chính nông thôn quốc tế rất yếu kém. Hơn nữa, hoạt động của
một số TCTCNT sẽ có sự thay đổi rất lớn về số lượ
ng và chất lượng khi
đề án cổ phần hóa và thành lập tập đoàn Ngân hàng – Tài chính của Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (AGRIBANK) được hoàn
thành, các nghị định của Chính phủ và thông tư hướng dẫn của Ngân hàng
Nhà nước về tổ chức và hoạt động của các tổ chức tài chính quy mô nhỏ
được thực thi. Hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính trong khu vực nông
thôn sẽ có sự cạnh tranh khốc liệt, và chỉ có TCTCNT nào phát triển phù
hợp mới tồ
n tại và phát triển được.
Trước đòi hỏi đối với tiến trình phát triển kinh tế nói chung, kinh
tế nông thôn nói riêng trong quá trình hội nhập quốc tế, nhu cầu về dịch
vụ tài chính ngày càng đa dạng phong phú về số lượng và yêu cầu cao về
chất lượng. Hơn nữa, sự cạnh tranh trong nội bộ các TCTCNT ngày càng
mạnh mẽ. Nếu không phát triển hoạt động của các TCTCNT Việt Nam
cùng với các tổ chức tài chính khác trong hệ
thống tài chính, nền kinh tế
Việt Nam nói chung, kinh tế nông thôn nói riêng sẽ khó có thể thành công
trong hội nhập.
Trong bối cảnh đó, đề tài “Phát triển các tổ chức tài chính nông thôn
Việt Nam” được lựa chọn để nghiên cứu.
3
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
(i) Luận giải cơ sở lý luận về hoạt động và phát triển hoạt động của các
TCTCNT; tổng kết kinh nghiệm quốc tế về phát triển hoạt động của
các TCTCNT;
(ii) Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển hoạt động của các
TCTCNT Việt Nam thời gian qua;
(iii) Đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động của các TCTCNT
Việt Nam trong thời gian tớ
i.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Đối tượng nghiên cứu
Phát triển các TCTCNT gồm nhiều nội dung như: hoạt động, tổ chức,
hệ thống, quy mô. Tuy vậy, hoạt động là vấn đề cốt lõi của các TCTCNT, thể
hiện năng lực của tổ chức, quan hệ chặt chẽ và tác động trực tiếp đến khách
hàng, và là mục tiêu khi thành lập tổ chức. Đối tượng đề tài tậ
p trung
nghiên cứu là hoạt động của các TCTCNT. Các yếu tố khác được tác giả
xem xét là các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động.
* Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu sự phát triển các hoạt động tài chính cơ bản của các TCTCNT
Việt Nam trong thời gian từ 2001-2007.
- Các TCTCNT được đề cập nghiên cứu: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam (AGRIBANK), Ngân hàng Chính sách Xã hội
(NHCSXH), hệ thống Quỹ Tín dụng nhân dân (QTDND) và một số tổ chức
tài chính phi chính phủ. Các tổ ch
ức này chiếm khoảng 95% thị phần tài chính
nông thôn, với mạng lưới rộng khắp cả nước, cung cấp các dịch vụ tài chính
và phi tài chính cho các cá nhân và đơn vị trong khu vực nông thôn. Trong
tương lai, các tổ chức này vẫn là những đơn vị chủ chốt trên thị trường tài
chính nông thôn Việt Nam.
4
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử, trong quá trình thực hiện luận án, các phương pháp nghiên cứu
được sử dụng bao gồm:
- Phân tích tổng hợp, kết hợp phân tích định lượng và định tính để giải
thích số liệu, liên hệ với các nguyên nhân từ thực tiễn.
- Thống kê so sánh sử dụng số liệu theo chu
ỗi thời gian và tại một thời
điểm để so sánh dọc, so sánh chéo giữa các TCTCNT Việt Nam với nhau, các
TCTCNT với tiêu chuẩn quốc tế. Các hàm thống kê như tần suất, tỷ trọng,
trung bình, tỷ lệ tăng trưởng được ứng dụng để phân tích, so sánh.
- Mô hình kinh tế lượng, bao gồm hai nhóm mô hình hồi quy bình quân
nhỏ nhất OLS và mô hình phân tích nhân tố, xử lý trên phần mềm SPSS. Các
mô hình được lựa chọn dựa trên các nghiên cứu đã thực hi
ện tại một số quốc
gia, phần mô hình kiểm định số liệu của Việt Nam được thực hiện trong mối
quan hệ so sánh với mô hình của một số nước trên thế giới.
- Điều tra khảo sát
- Phương pháp chuyên gia.
5. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đã có một số công trình trên thế giới và ở Việt Nam nghiên cứu về các
TCTCNT và sự phát triển hoạt động của chúng.
5.1. Tình hình nghiên cứu trên th
ế giới
Trong tác phẩm “Từ tài chính nông nghiệp đến tài chính nông
thôn” (From Agricultural Credit to Rural Finance) viết năm 1995, D.W
Adams phân tích sự phát triển của các TCTCNT từ các chương trình tín dụng
nông nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình phát triển này [128].
Các nghiên cứu của Meyer và Nagarajan năm 1992 “Đánh giá vai
trò của tài chính phi chính thức trong quá trình phát triển” (An assessment of
5
the role of informal finance in the development process) [170] và năm 2000
“Thị trường tài chính nông thôn ở Châu Á: Các chính sách, mô hình và hoạt
động” (Rural Financial Markets in Asia: Policies, Paradigms, and
Performance) phân tích các đặc điểm của thị trường tài chính nông thôn, tập
trung vào các vấn đề lớn như chi phí giao dịch cao, thiếu tài sản bảo đảm, từ
đó lãi suất cho vay đối với khu vực nông thôn bị tăng cao hơn so với khu vực
đô thị [171].
Hai nghiên cứu của J. Yaron năm 1992 về “Các tổ chức tài
chính nông thôn thành công” (Successful Rural Finance Institutions)
[221] và năm 1997 “Tài chính nông thôn: Các vấn
đề, thiết kế và các kinh
nghiệm tốt nhất” (Rural Finance: Issues, Design and Best Practices) [224]
cũng đóng góp một phần quan trọng vào lý thuyết về phát triển các
TCTCNT, đặc biệt là chỉ tiêu phụ thuộc trợ cấp SDI. Bên cạnh đó, ông
phát triển các tư tưởng và phương pháp đánh giá tác động của các
TCTCNT đối với sự phát triển kinh tế - xã hội cộng đồng.
Với tác phẩm “Cẩm nang tài chính nông thôn: Khía cạnh thể chế và
tài chính” (Rural Finance Handbook, An Institutional and Financial
Perspective) viế
t năm 1999, J. Ledgerwood đã tổng kết lại những vấn đề then
chốt nhất về hoạt động của các TCTCNT [165]. Các vấn đề lớn được khái
quát hóa như môi trường hoạt động của khu vực tài chính nông thôn và tác
động của nó; các sản phẩm cơ bản của các TCTCNT cũng như cách thức phát
triển sản phẩm, đánh giá hoạt động và quản lý bền vững của các tổ chức này .
Theo bà, việc đánh giá các TCTCNT phù h
ợp hơn theo mục tiêu phát triển.
Bên cạnh các sản phẩm tài chính thông thường, các TCTCNT bền vững nên
cung cấp thêm các sản phẩm xã hội như phát triển nhóm, tăng cường sự tự tin
của bản thân người dân nông thôn, tăng cường năng lực quản lý tài chính
Phát triển thêm ý tưởng đánh giá hoạt động, M. Zeller trong tác
phẩm “Tam giác tài chính nông thôn: bền vững tài chính, sự tiếp cận và tác
6
động” (The triangle of rural finance: Financial sustainability, outreach, and
impact) trong năm 2002 [228] đã đưa ra khung tam giác cho việc đánh giá sự
phát triển hoạt động của các TCTCNT; và nghiên cứu tiếp theo năm 2003 về
“Mô hình cho các thể chế tài chính nông thôn” (Models of Rural Financial
Institutions) được viết làm tham luận chủ chốt cho hội thảo quốc tế về tài
chính nông thôn tập trung phân tích về đặc trưng của các TCTCNT, tổng kết
và đưa ra những kinh nghiệm tốt cho việc phát triển hoạt động các TCTCNT
trong một số đi
ều kiện cụ thể [229].
D. Steinwand năm 2003 với nghiên cứu “Thách thức của sự tiếp
cận bền vững: Kinh nghiệm của năm quốc gia châu Á” (The challenge of
sustainable outreach: Five case studies from Asia) tổng kết các kinh nghiệm
từ năm quốc gia châu Á trong việc phát triển tài chính nông thôn [197]. Các
nghiên cứu của Yunus vào các năm 2003 về “Giảm phân nửa nghèo đói vào
năm 2015” [126] và năm 2005 “Mở rộng tài chính vi mô để đạt mục tiêu phát
triển thiên niên kỷ” (Expanding Microcredit to Reach the Millennium Development
Goal) [225] khẳ
ng định thêm tầm quan trọng của tài chính nông thôn đối với vấn đề
giảm đói nghèo và đạt mục tiêu thiên niên kỷ do Liên hiệp quốc đề ra.
Các mô hình kiểm định mối quan hệ giữa mức độ tiếp cận và tính
bền vững của các TCTCNT đã được xây dựng và ứng dụng cho một số quốc
gia: R. Christen cùng với các cộng sự năm 1995 đã xây dựng mô hình tuyến
tính về mối quan hệ giữa mứ
c độ tiếp cận và tính bền vững trong tác phẩm
“Tối đa hóa sự tiếp cận của tài chính doanh nghiệp siêu nhỏ: Phân tích về
các chương trình tài chính nông thôn thành công” (Maximizing the Outreach
of Microenterprise Finance: An Analysis of Successful Rural Finance
Programs) [137]; D. Thys làm rõ hơn mô hình này trong nghiên cứu “Mức
độ tiếp cận: Các kết quả ngẫu nhiên hay lựa chọn chính sách tỉnh táo”
(Depth of Outreach: Incidental Outcome or Conscious Policy Choice?) trong
năm 2000 [200]; mô hình này được Olivares Polanco kiểm định với số liệu
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét