Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Giải pháp phát triển nghiệp vụ thanh toán hàng nhập khẩu bằng phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa

Hoàng Hữu Thắng - Lớp KTQT41
ơng nhiên ngợc lại ngời bán cũng muốn xuất đợc hàng và thu đợc tiền sớm cho
quá trình quay vòng tiếp theo cho số tiền của họ.
2. Những điều kiện cần quan tâm trong thanh toán quốc tế.
Trong quan hệ thanh toán giữa các nớc, các vấn đề có liên quan đến quyền
lợi và nghĩa vụ mà đôi bên phải đề ra để giải quyết và thực hiện đợc quy lại
thành các điều kiện gọi là điều kiện thanh toán quốc tế. Các điều kiện đó thờng
gồm:
+ Điều kiện về tiền tệ
+ Điều kiện về địa điểm
+ Điều kiện về thời gian
+ Điều kiện về phơng thức thanh toán
Nghiệp vụ thanh toán quốc tế là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện thanh
toán quốc tế. Những điều kiện này đợc thể hiện ra trong các điều khoản thanh
toán của các hiệp định thơng mại, các hiệp định trả tiền ký kết giữa các nớc, các
hợp đồng mua bán ngoại thơng ký kết giữa ngời mua và ngời bán.
Trong nghiệp vụ thanh toán trong nớc, chúng ta cần phải nghiên cứu kỹ các
điều kiện thanh toán quốc tế để có thể vận dụng chúng một cách tốt nhất trong
việc ký kết và thực hiện các hợp đồng mua bán ngoại thơng, nhằm phục tùng
các yêu cầu của chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nớc, tận dụng đợc những
điều kiện có lợi cho ta và đặc biệt là tránh những rủi ro có thể đem lại những tổn
thất lớn cho chúng ta cả trong hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu.
a. Điều kiện về tiền tệ
5
Hoàng Hữu Thắng - Lớp KTQT41
Ta biết rằng mỗi nớc đều có một đồng tiền riêng, vậy khi phát sinh việc
thanh toán giữa các nớc thì phải chọn đồng tiền của nớc nào để thanh toán? Và
phải xử lý nh thế nào khi giá trị của đồng tiền này biến động?
Lẽ dĩ nhiên nớc nào cũng muốn chọn đồng tiền nớc mình trong thanh toán
bởi vì nhiều lý do nh: Nâng vị thế đồng tiền, chủ động đợc nguồn tiền trong
thanh toán, tránh đợc biến động tỷ giá. Nhng chọn đồng tiền nào lại không thể
giải quyết đợc theo ý muốn chủ quan của mỗi nớc tham gia thanh toán mà nó
phụ thuộc vào tơng quan so sánh lực lợng trong quan hệ thơng mại, đồng tiền đ-
ợc chọn phải có vị trí xứng đáng, phải nằm trong khuôn khổ ngành hàng
Và một việc bắt buộc phải thực hiện trong khi lựa chọn đồng tiền là thoả
thuận đợc điều kiện đảm bảo cho đồng tiền đợc lựa chọn là đồng tiền thanh toán
(đảm bảo giá trị đồng tiền khi thanh toán đúng nh giá trị hàng hoá khi trao đổi
để tránh rủi ro biến động tỷ giá gây tổn thất cho ngời mua hoặc ngời bán. Thờng
có các điều kiện đảm bảo hối đoái sau:
+ Đảm bảo bằng vàng
+ Đảm bảo bằng một đồng tiền mạnh
+ Đảm bảo bằng tổ tiền tệ
+ Đảm bảo bằng tiền tệ thế giới
+ Đảm bảo theo chỉ số quốc tế của hàng hoá.
b. Điều kiện về địa điểm thanh toán
Nhìn chung trong hoạt động thanh toán quốc tế giữa các nớc bên nào cũng
muốn trả tiền tại nớc mình, lấy nớc mình làm địa điểm thanh toán vì những lợi
ích mà nó mang lại nh:
+ Tăng địa vị thị trờng tiền tệ nớc đó trên thế giới
+ Sử dụng tối đa hiệu quả đồng vốn trong thanh toán
6
Hoàng Hữu Thắng - Lớp KTQT41
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng sở tại có thu nhập thông qua việc
thu phí thanh toán.
Trong thanh toán ngoại thơng địa điểm thanh toán có thể ở nớc ngoài nhập
khẩu, hoặc ở nớc ngoài xuất khẩu, hoặc ở nớc ngời thứ ba. Nhng trong thực tế,
việc xác định địa điểm thanh toán là do sự so sánh lực lợng giữa hai bên quyết
định, đồng thời cũng còn thấy rằng dùng đồng tiền của nớc nào thì địa điểm
thanh toán là ở nớc ấy.
c. Địa điểm về thời gian thanh toán.
Thanh toán tiền khi nào? Trớc, trong hay sau khi giao hàng? Đó chính là
điều kiện quan trọng mà hai bên phải thoả thuận đợc trong thanh toán bởi vì
điều kiện thời gian thanh toán có quan hệ chặt chẽ với việc luân chuyển vốn, lợi
tức, khả năng có thể tránh đợc những biến động về tiền tệ thanh toán, do đó nó
là vấn đề quan trọng, thờng xảy ra tranh chấp giữa các bên trong đàm phán ký
kết hợp đồng. Thông thờng có ba cách thanh toán sau:
+ Trả tiền ngay (thực chất là ngời nhập khẩu cấp tín dụng cho ngời xuất
khẩu)
+ Trả tiền ngay (là hình thức trả tiền trong khoảng thời gian từ lúc chuẩn bị
xong hàng để bốc lên tầu cho đến khi hàng đã đến tay ngời mua).
+ Trả tiền sau (thực chất là ngời nhập khẩu cấp tín dụng cho nhập khẩu).
d. Điều kiện về phơng thức thanh toán
Trong tất cả các điều kiện thanh toán quốc tế thì phơng thức thanh toán là
điều kiện quan trọng bậc nhất. Hiểu một cách nôm na thì phơng thức thanh toán
là việc ngời bán dùng cách nào để thu tiền về, ngời mua dùng cách nào để trả
tiền cho ngời bán. Trong buôn bán ngời ta có thể lựa chọn nhiều thanh toán
quốc tế khác nhau để thu tiền về hoặc trả tiền. Nhng dù chọn phơng thức nào
7
Hoàng Hữu Thắng - Lớp KTQT41
cũng phải xuất phát từ yêu cầu của ngời bán là thu tiền nhanh, đầy đủ và đúng
và từ yêu cầu của ngời mua là nhập hàng đúng số lợng, chất lợng và đúng hạn.
Trong ngoại thơng thờng dùng các phơng thức thanh toán sau:
! Phơng thức chuyển tiền (Remittance):
Phơng thức chuyển tiền là phơng thức thanh toán giản đơn nhất, là ngời mua
(hay gọi là nhập khẩu) thông qua ngân hàng gửi tiền trả cho ngời bán (ngời xuất
khẩu). Loại này ít đợc dùng trong thanh toán quốc tế bởi vì một điều đơn giản là
việc trả tiền cho ngời bán tuỳ thuộc vào thiện chí của ngời mua, nh vậy đứng về
phía ngời bán thì quyền lợi của họ không đợc đảm bảo, thờng ngời ta sử dụng
phơng thức này trong nghiệp vụ trả tiền ứng trớc, trả tiền phạt, trả tiền hoa
hồng
! Phơng thức nghi sổ hay có thể gọi là phơng thức mở tài khoản
(Open Account):
Phơng thức nghi sổ là thoả thuận giữa ngời bán và ngời mua trong đó hàng
hoá đợc sản xuất và giao trớc khi thanh toán. Phơng thức nghi sổ cho phép thanh
toán vào một ngày quy định cụ thể trong tơng lai và ngời mua không cần phải
phát hành bất cứ chứng từ nhận nợ có thể chiết khấu nào để chứng minh cam kết
mang tính pháp lý của mình. Ngời mua phải tin tởng tuyệt đối vào việc anh ta sẽ
đợc thanh toán vào ngày thoả thuận. Ngời bán cần thiết là trong số trờng hợp có
thể chiết khấu các khoản phải thu theo phơng thức nghi sổ tại các tổ chức tài
chính. Phơng thức nàu đợc áp dung rộng rãi trong mậu dịch nội địa nhng rất ít
dùng trong mậu dịch quốc tế, bởi vì nó không có sự bảo đảm đầy đủ cho ngời
xuất khẩu thu kịp thời tiền hàng. Phơng thức thanh toán này đòi hỏi sự tin cậy
rất cao của ngời xuất khẩu đối với ngời nhập khẩu. Chủ yếu nó đợc áp dụng
trong việc thanh toán giữa các chi nhánh ở các nớc khác nhau của cùng một
Công ty, hoặc giữa các Công ty có quan hệ mua bán lâu đời và thờng xuyên và
8
Hoàng Hữu Thắng - Lớp KTQT41
mua bán với số lợng không lớn lắm, hoặc để trả tiền hoa hồng và tiền hàng gửi
bán.
! Phơng thức nhờ thu (Collection):
Phơng thức nhờ thu là phơng thức mà ngời bán sau khi giao hàng thù ký
phát hối phiếu đòi tiền ngời mua, rồi đến ngân hàng nhờ thu hộ số tiền trên hối
phiếu đó. Thông thờng, quyền sở hữu hàng hoá không chuyển sang ngời mua
(trừ khi ngời mua đợc chỉ định là ngời nhận hàng trên chứng từ vận tải) cho đến
khi hối phiếu đợc ngời mua thanh toán hay chấp nhận thanh toán. Phơng thức
nhờ thu thờng gắn với việc bán hàng chứ không phải cung cấp dịch vụ. Phơng
thức nhờ thu có hai loại nhờ thu là: Nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu kèm chứng từ.
+) Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collection):
Nhờ thu phiếu trơn là ngời bán nhờ ngân hàng thu hộ tiền của hối phiếu ở
ngời mua không kèm theo một điều kiện nào cả. Cùng với việc gửi hàng hoá cho
ngời mua, ngời bán gửi thẳng chứng từ cho ngời mua để đi nhận hàng. Phơng
thức này không phù hợp trong thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu, bởi vì nếu
ngời mua không tốt thì họ có thể chấp nhận hàng nhng lại có thể gây khó khăn
cho việc trả tiền cho ngời bán, hoặc ngời mua cũng có thể gặp rủi ro trong trờng
hợp họ thanh toán ngay hối phiếu đòi hỏi tiền của ngời bán nhng không biết ng-
ời bán giao hàng nh thế nào vì chứng từ gửi hàng không đi kèm với hối phiếu.
Chính vì vậy, trong ngoại thơng ngời ta ít dùng phơng thức này, chỉ trong thanh
toán phi mậu dịch nh thu tiền cớc phí vận tải, phí bảo hiểm, hoa hồng phơng
thức này mới đợc sử dụng rộng rãi.
+) Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection):
Nhờ thu kèm chứng từ là ngời bán chuyển cho ngân hàng hối phiếu cùng bộ
chứng từ gửi hàng để nhờ thu tiền ở ngời mua với điều kiện là ngời mua trả tiền
hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới giao toàn bộ chứng từ để đi
9
Hoàng Hữu Thắng - Lớp KTQT41
nhận hàng. Có hai loại nhờ thu kèm chứng từ (tơng ứng với nó là hai loại hối
phiếu: Hối phiếu trả ngay và hối phiếu trả chậm).
Nhờ thu trả tiền đổi chứng từ (D/ P Documents against payment):
Phơng thức này áp dụng cho trờng hợp mua hàng trả tiền ngay, ngời bán sau
khi giao hàng, lập đầy đủ chứng từ cần thiết mang đến cho ngân hàng nhờ thu
tiền hàng. Ngân hàng này chọn ngân hàng đại lý ở tại nớc ngời mua để thu hộ số
tiền đó. Ngân hàng đại lý báo cho ngời mua biết và chỉ trai chứng từ nhận hàng
cho ngời mua khi ngời mua đến trả tiền ngay hối phiếu đó. Sau khi thu đợc tiền
ngân hàng đại lý chuyển số tiền nhờ thu cho ngân hàng uỷ thác để giao cho ngơì
bán, đồng thời thu thủ tục phí và các chi phí khác có liên quan ở ngân hàng uỷ
thác (thờng khoản này do ngời bán chịu)
Nhờ thu chấp nhận đổi chứng từ (D/A - Documents acceptance)
Trình tự tiến hành và nội dung của phơng thức này cũng giống nh phơng
thức nhờ thu tiền đổi chứng từ nhng khác ở chỗ chỉ cần ngời mua chấp nhận trả
tiền (hối phiếu trả chậm) thì ngân hàng trao toàn bộ chứng từ cho ngời mua để
đi nhận hàng. Ngời mua chấp nhận trả tiền bằng cách ký hậu vào hối phiếu, đến
khi hối phiếu tới hạn ngời mua phải trả tiền cho ngời hởng lợi của hối phiếu.
Nhìn chung phơng thức nhờ thu kèm chứng từ có đảm bảo hơn với ngời bán,
vì ngời bán đã có ngân hàng khống chế chứng từ tức là ngời bán đợc chắc chắn
rằng ngời mua sẽ chỉ nhận đợc hàng khi trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền. Tuy
nhiên nh thế không có nghĩa là không có bất lợi nào cho phía ngời bán bởi có
thể xảy ra trờng hợp từ chối không nhận chứng từ, lẽ đơng nhiên quyền sở hữu
hàng hoá vẫn nằm trong tay ngời bán nhng hàng đã gửi đi mà không có ngời
nhận sẽ gặp khó khăn trong việc tiêu thụ, quá trình thu hồi - quay vòng vốn bị
chậm lại. Ngoài ra theo phơng thức này thời gian thu tiền về còn chậm vì ngân
10
Hoàng Hữu Thắng - Lớp KTQT41
hàng không trả thay cho ngời mua hay là ngân hàng không cấp tín dụng cho ng-
ời mua nó chỉ đóng vai trò trung gian - thu hộ.
! Phơng thức tín dụng chứng từ (Documentary credits): Phơng thức này
sẽ đợc trình bày chi tiết phần II - chơng I
II. Những vấn đề cơ bản về phơng thức tín dụng chứng từ.
1. Khái niệm về phơng thức tín dụng chứng từ
Định nghĩa về tín dụng chứng từ đợc dịch trong quyển hớng dẫn áp dụng
điều lệ và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ bản sửa đổi năm 1993 số 500
(1993 revision ICC publication No 500) nh sau:
Trong phạm vi của bản điều lệ 500, các thuật ngữ "Tín dụng chứng từ" và
"Tín dụng dự phòng (sau đây gọi là "Tín dụng th - TDT") nghĩa là bất cứ thoả
thuận đợc gọi hoặc miêu tả nh thế nào, theo đó ngân hàng (ngân hàng phát
hành) hành động đúng yêu cầu và theo chỉ thị của khách hàng (ngời yêu cầu
mở TDT) hoặc nhận danh cho chính bản thân mình.
1. Thanh toán cho hoặc theo lệnh của phía thứ ba (ngời hởng) hoặc chấp
nhận và thanh toán hối phiếu do ngời hởng lợi ký phát,
Hoặc
2. Uỷ quyền cho ngân hàng khác thanh toán, chấp nhận và thanh toán hối
phiếu đó,
Hoặc
3. Cho phép ngân hàng khác chiết khấu chứng từ quy định trong TDT với
điều kiện chúng phù hợp với tất cả các điều khoản và điều lệ của TDT. Với
11
Hoàng Hữu Thắng - Lớp KTQT41
mục đích của Bản điều lệ 500, các chi nhánh của một ngân hàng ở các nớc
khác nhau đợc coi là những ngân hàng khác nhau.
Một cách ngắn gọn chúng ta có thể hiểu: Tín dụng chứng từ cam kết bằng
văn bản do một ngân hàng phát hành thay mặt ngời mua (bên xin mở) hoặc cho
chính mình, cam kết trả tiền cho ngời hởng số tiền bằng trị giá hối phiếu và hoặc
chứng từ với điều kiện là chúng phù hợp với các điều kiện và điều khoản của tín
dụng chứng từ.
Thoả thuận theo tín dụng chứng từ thờng đáp ứng đợc mong muốn thu tiền
mặt của ngời bán và mong muốn đợc cấp tín dụng của ngời nhập khẩu. Công
cụ tài chính này phục vụ lợi ích hai bên một cách độc lập. Tín dụng chứng từ
đa ra một phơng thức độc đáo và toàn diện để đạt đợc mục đích, sự công bằng
của cả ngời mua và ngời bán một cách tơng đối bằng cách đạt đợc một cam
kết có thể chấp nhận về mặt thơng mại bằng cách đảm bảo thanh toán khi có
chứng từ chứng minh hàng hoá phù hợp và cho phép chuyển quyền sở hữu
hàng hoá.
2. Tính chất của phơng thức tín dụng chứng từ
Trên phơng diện của các ngân hàng phơng thức tín dụng chứng từ có những
tính chất sau:
Trong chu trình của phơng thức tín dụng chứng từ thì ngân hàng chỉ đóng
vai trò trung gian cung cấp dịch vụ (mở L/C, cấp tín dụng, thông báo th tín
dụng, chiết khấu hối phiếu, xác nhận ). Và đặc biệt trong phơng thức này ngân
hàng thực hiện nghiệp vụ của mình chỉ căn cứ trên văn bản chứng từ chứ không
căn cứ trên hàng hoá, hay mối quan hệ giữa ngời mua với ngời bán. Dù cho dẫn
chiếu Hợp đồng thơng mại vào L/C theo cách này hay cách khác thì trách nhiệm
thanh toán của ngân hàng không ảnh hởng, hoặc ràng buộc bởi những tranh
chấp, khiếu nại phát sinh từ việc thực hiện Hợp đồng. Do tính chất độc lập của
12
Hoàng Hữu Thắng - Lớp KTQT41
L/C đối với Hợp đồng nên trách nhiệm ngân hàng phát hành hoàn toàn không
ảnh hởng gì bởi khiếu nại của ngời mở xuất phát từ mối quan hệ làm ăn với ngời
hởng. Ngay khi quan hệ giữa ngân hàng với ngời mở có những đặc ân nào đó mà
sau này phát sinh rủi ro trong việc thanh toán L/C thì ngân hàng cũng không đợc
quyền từ chối nghĩa vụ của mình đối với L/C, hoặc do quan hệ gắn bó giữa mình
với ngân hàng phát hành mà ngời mở L/C không thể yêu cầu hay thuyết phục
ngân hàng này không hoặc hoãn thanh toán chứng từ vì ngời hởng vi phạm hợp
đồng. Tơng ứng nh vậy vì ngời hởng cũng phải có nghĩa vụ cân bằng với ngời
mở nh: Không đợc đòi hỏi ngân hàng phát hành về khả năng thanh toán của ng-
ời mở Điều này đợc quy định khó rõ trong điều 3, điều 4 của UCP 500:
Điều 3:
a. Về bản chất TD là những giao dịch riêng biệt với hợp đồng thơng mại và
các loại hợp đồng khác mà các hợp đồng này có thể là cơ sở cho TDT, nhng các
ngân hàng bất luận trong trờng hợp nào cũng không liên quan đến, hoặc không
thể ràng buộc bởi những hợp đồng đó, ngay cả khi TDT có dẫn chiếu đến hợp
đồng đó. Vì thế cam kết của ngân hàng vê thanh toán, chấp nhận và thanh toán
hối phiếu, hoặc chiết khấu và hoặc thực thi bất cứ nghĩa vụ nào của TDT không
phụ thuộc vào khiếu nại hoặc biện hộ của ngời mở phát sinh từ mối quan hệ của
ngời mở với ngân hàng phát hành hoặc với ngời hởng.
b. Trong bất cứ trờng hợp nào cũng không đợc lợi dụng quan hệ hợp đồng
giữa các ngân hàng, hoặc giữa ngời mở với ngân hàng phát hành TDT.
13
Hoàng Hữu Thắng - Lớp KTQT41
Điều 4:
Trong giao dịch tín dụng chứng từ, tất cả các bên liên quan chỉ thực hiện căn
cứ trên chứng từ chứ không căn cứ vào hàng hoá, các dịch vụ và hoặc các công
việc khác mà các chứng từ đó có thể liên quan.
Một số doanh nghiệp khi mới tham gia hoạt động xuất nhập khẩu trực tiếp
thờng ngộ nhận: TDT mở để mua hàng theo hợp đồng, nhng hàng kém phẩm
chất, không đúng qui cách thì sao lại phải trả tiền cho ngời bán? nghe rất có
lý, nhng thực ra chính nhà nhập khẩu đã hiểu cha đúng vấn đề. Ngân hàng mở
TDT chỉ ngng không thanh toán bộ chứng từ hợp lệ khi có phán quyết của toà án
của nớc sở tại. Trong trờng hợp này ngời nhập khẩu chỉ có thể có quyền kiện ng-
ời xuất khẩu trên cơ sở hợp đồng thơng mại chứ không thể từ chối thanh toán.
Để hiểu rõ hơn về phơng thức thanh toán này chúng ta xem xét chu trình
thực hiện của phơng thức này.
3. Chu trình thực hiện của phơng thức tín dụng chứng từ
a. Trình tự thực hiện của phơng thức tín dụng chứng từ
Trình tự thực hiện của phơng thức tín dụng chứng từ bao gồm những bớc cơ
bản sau;
Ngời mua căn cứ vào hợp đồng làm đơn xin mở một th tín dụng (Letter of
Credit, viết tắt L/C) tại một ngân hàng nhất định, mà hai bên mua bán đã thoả
thuận trong hợp đồng, yêu cầu ngân hàng này trả tiền cho ngời bán nếu ngời bán
nộp bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những qui định trng th tín dụng (bớc 1,
2 trong mô hình qui trình thanh toán).
Ngân hàng mở L/C căn cứ vào đơn xin mở L/C, mở L/C và thông quan
ngân hàng thông báo ở nớc ngời bán (ngời xuất khẩu) thông báo cho ngời bán
biết về L/C đó rồi gửi bản chính của L/C cho ngời bán (bớc 3).
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét