Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

tìm hiểu về nhân vật lịch sử Trần Thúc Nhẫn(1841 – 1883)”

Tìm hiểu nhân vật lịch sử Trần Thúc Nhẫn
khi chọn và nghiên cứu đề tài này. Song với sự say mê, niềm tâm huyết
bước đầu của một nhà nghiên cứu, cộng với sự giúp đỡ của các thầy cô
giáo, các anh chị sinh viên trước và cùng khóa dường như đã tiếp thêm cho
tôi một động lực, một sức mạnh giúp tôi nhanh chóng hoàn thành đề tài
này.
Qua đề tài này mặc dù tuy không đủ, toàn diện trong khi nghiên cứu,
song tôi cũng hi vọng mình có thể cung cấp những thông tin cần thiết, có
thể nhất về bối cảnh lịch sử, cuộc đời và sự nghiệp của ông, cũng như là
những lời nhận xét của riêng cá nhân mình, cho những ai vốn quan tâm đến
các nhân vật trong lịch sử nước nhà. Xa hơn nữa là có thể đóng góp một
phần nào đấy vào sự nghiệp của nền sử học nước nhà khi nghiên cứu về các
nhân vật lịch sử, bằng việc trên cơ sở dựa vào những nguồn tư liệu, sự lập
luận, cách đánh giá của chính bản thân cá nhân tôi.
VI.Bố cục của đề tài
Do yêu cầu của bài viết cũng như là tham vọng không quá lớn của tác
giả, nên tại niên luận này của tôi về cơ bản được chia làm 3 chương chính,
ngoài lời mở đầu, kết luận và phục lục. Cụ thể nội dung niên luận sẽ được
giải quyết ở những vấn đề sau.
Chương I. Bối cảnh lịch sử lịch sử Thế Giới và Việt Nam
nữa cuối thế kỷ XIX.
I. Bối cảnh thế giới
1. Tình hình chung.
2. Nước Pháp và công cuộc chuẩn bị xâm chiếm Việt Nam.
II. Bối cảnh trong nước
1. Vài nét về tình hình Việt Nam trước khi thực dân Pháp xâm lược.
2. Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp của triều đình phong kiến
Nguyễn và nhân dân Việt Nam( 1-9-1858 đến 24/61867).
a. Công cuộc kháng chiến của triều đình phong kiến.
Đinh Văn Nam_Lớp Lịch Sử K31B
5
Tìm hiểu nhân vật lịch sử Trần Thúc Nhẫn
b. Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp của nhân dân ta.
Chương II. Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Thúc Nhẫn
I. Vài nét về tiểu sử,gia thế Trần Thúc Nhẫn.
II.Trần Thúc Nhẫn với sự nghiệp chống thực dân Pháp xâm lược
(1867-1883).
Chương III. Đánh giá về nhân vật lịch sử Trần Thúc Nhẫn
I. Những đóng góp.
II. Những hạn chế.
Đinh Văn Nam_Lớp Lịch Sử K31B
6
Tìm hiểu nhân vật lịch sử Trần Thúc Nhẫn
CHƯƠNG I: BỐI CẢNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI VÀ VIỆT
NAM NỬA SAU XIX:
I.Bối cảnh thế giới
1. Tình hình chung.
Có thể tạm nhận định một điều rằng: Vào buổi giao thời giữa thời
trung đại và cận đại thuộc địa của các nước Châu Âu ở Châu Á, Châu Phi
là chưa nhiều . Khi mà Bồ Đào Nha cường quốc thuộc địa của châu Âu vào
cuối thế kỷ XV- đầu XVI cũng mới chỉ dừng lại ở những vùng ven của bờ
biển châu Phi, vịnh Pécxích, Đông Nam Á chủ yếu là ở Indonesia, hay
người Tây Ban Nha cũng mới chỉ là ở hướng Tây bán cầu.
Tuy nhiên từ nữa cuối XVII đến nữa đầu XIX, Nhất là cuối XIX với
sự hoàn thiện dần và phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
thông qua việc xác lập, thắng lợi của các cuộc cách mạng Tư sản (như ở
Anh 1640, Pháp 1789, Đức 1848, Ý 1848-1849…), Cách mạng công
nghiệp (ở Anh vào cuối thế kỷ XVIII, Pháp 1848-1852 và được hoàn thành
vào những năm 60 của XIX….). Tất cả những điều đó đòi hỏi các nước tư
bản Châu Âu cần phải có những chính sách về mặt thị trường và thuộc địa,
mới có thể đáp ứng được những “nguyện vọng” đang phát triển một cách
cực kỳ nóng bỏng của nền kinh tế và lòng tham của các chính giới Tư sản.
Cũng vì vậy mà nguy cơ bị xâm lược của các quốc gia vốn còn đang trong
tình trạng mông muội, lạc hậu về văn hoá , trì trệ về kinh tế, mang nặng
tính độc tôn, bản vị hẹp hòi, chưa có ý thức nảy nở về khu vực và thế giới ở
các quốc gia châu Á là một điều khó tránh khỏi.
Là một trong những quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á - Một khu
vực có diện tích khoảng trên 4 triệu Km2 trải ra trên một phần đất từ 92
0
đến 140
0
Kinh đông và từ khoảng 28
0
Vĩ bắc chạy qua xích đạo đến 15
0

nam. Tại đây, cùng với nguồn tài nguyên vô cùng phong phú , thì Đông
Nam Á còn được coi là một khu vực có vị trí chiến lược quan trọng “là
hành lang, cầu nối giữa thế giới Trung Quốc, Nhật Bản với khu vực Tây Á
Đinh Văn Nam_Lớp Lịch Sử K31B
7
Tìm hiểu nhân vật lịch sử Trần Thúc Nhẫn
và Địa Trung Hải” [10;5], nơi có eo biển Malacca là trung tâm vận chuyển
dầu mỏ cực kỳ quan trọng và là cửa ngõ chiến lược để đi vào khu vực châu
Á- Thái Bình Dương” [7;242]. Do vậy, là một nước có vị trí đầu cầu, nút cổ
chai để đi vào bên trong Đông Nam Á lục địa, cũng như là địa vị trung tâm
của cả khu vực. Việt Nam ngay từ rất lâu đã luôn trở thành đối tượng dòm
ngó của nhiều nước tư bản Âu – Mỹ, trong số đó lớn nhất, nguy hiểm nhất
và thực tế nhất là đế quốc Pháp.
2. Nước Pháp và công cuộc chuẩn bị xâm chiếm Việt Nam.
Cũng không nằm ngoài tham vọng trong số những nước tư bản Âu –
Mỹ khác. Đứng trước sự phát triển đang ngày một mạnh mẽ của nền kinh
tế, cùng những “thúc dục” trong công cuộc chạy đua thuộc địa, nhất là với
đế quốc Anh và nhiều nước Tư bản khác. Nước Pháp, đặc biệt kể từ sau khi
đã bước đầu hoàn thành cuộc cách mạng tư sản (1789) của mình cũng đã
nhanh chóng lao chân vào công cuộc mở rộng thuộc địa cho riêng mình
trên tất cả các lục địa.
Tại châu Á, quá trình đó đã bắt đầu được thực hiện manh nha ngay
từ những năm đầu của XVI-XVII, đặc biệt trong số đó tại Việt Nam để có
thể “ chen chân” mình vào một cách sâu hơn, thì ban đầu giới thương nhân
và giáo sĩ Pháp đã không ngần ngại tìm đủ mọi thủ đoạn, chịu đựng mọi
gian khổ để mong có được một “thế” đứng vững chắc, qua đó nhằm phục
vụ cho những mưu toan lâu dài. Trong sốs đó mối quan hệ giữa Nguyễn
Ánh và Bá Đa Lộc là một dịp không có lúc nào tốt hơn cho nước Pháp, cụ
thể:
Tại đây lợi dụng những “ân hụê” của Bá Đa Lộc đã giành cho
Nguyễn Ánh trong cuộc chiến tranh “cướp đoạt” lại vương quyền từ nhà
Tây Sơn và sự “đền ơn”mà Nguyễn Ánh đã trả lại cho những người Pháp
đã từng giúp đỡ mình. Nước Pháp dường như đã “cài lại một số nhà gián
điệp” làm quan cho nhà Nguyễn như Jean Baptiste, Chaigneau, Vannier…
và thực tế những người này tuy làm quan nhưng họ chưa bao giờ quên đi “
Đinh Văn Nam_Lớp Lịch Sử K31B
8
Tìm hiểu nhân vật lịch sử Trần Thúc Nhẫn
mẫu quốc”(chỉ nước Pháp ĐVN), trái lại họ luôn rắp tâm tìm cơ hội phục
vụ quyền lợi. Tuy nhiên trong giai đoạn này do cuộc chiến tranh cách mạng
chống lại liên minh phong kiến châu Âu can thiệp và bọn lưu vong đã
không cho nước Pháp có thể hành động trực tiếp, tuy vậy nước Pháp vẫn
không ngừng dòm ngó Việt Nam.
Sang thời Bonaparte sau khi dựa vào giai cấp tư sản và quân đội để
làm cuộc đảo chính thắng lợi và thiết lập nền chuyên chính quân chủ của
giai cấp tư sản . Mặc dù rất bận chiến tranh với các nước Anh, Áo, Nga…
nhưng nước Pháp chưa bao giờ quên đi Việt Nam, biểu hiện:
Ngày 25/11/1801, viên toàn quyền Pondichery là Charpentier de
Conssigny đã gửi báo cáo về nước đề nghị chính phủ Pháp cử gấp sứ thần
vào tàu chiến sang Việt Nam để “ ký một hiệp ước liên minh hữu nghị và
thương mại” với Gia Long. Song lúc đó , Bonapate đang phải đối đầu với
việc cấp bách cả về đối nội lẫn đối ngoại nên đành bỏ rơi ý đồ đó và phải
đến sau khi hoà ước Amiens ( 27/3/1802), chiến tranh Anh – Pháp tạm thời
chấm dứt, thì mới tìm cách “ hợp pháp hoá” việc bành trướng của nước
Pháp và trong nhiệm vụ đó tướng Decaen được giao trọng trách cầm đầu
một đội quân viễn chinh trong vùng Ấn Độ Dương, đã gặp Dayot báo cáo
tình hình cụ thể tại Việt Nam, cùng lúc giao cho Decaen một số bản đồ chi
tiết về giao thông đường biển và xung phong nhận phái viên tại Việt Nam,
vì Dayot cho rằng: “ Tôi ( Dayot) biết rất kỷ xứ nằy , nhà vua ở đó lại luôn
có lòng yêu mến tôi”[5;6]. Hơn nữa sau khi lên ngôi ( 1804) Bonapate còn
cho rằng : “ sự thiết lập một căn cứ quân sự của Pháp tại vùng biển Trung
Hoa về mặt quân sự là một điều kiện có lợi, trong trường hợp Pháp đánh
nhau với Anh” [5;6.] và trong việc thực hiện nhiệm vụ đó ông ta đã đặt
nhiều tin tưởng vào vai trò của giáo hội và các giáo sĩ giúp ích có lợi cho
chúng tôi (nước Pháp) ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ. “Tấm áo của họ sẽ
dùng để che dấu những mưu đồ chính trị và thương mại”[5;6]).
Đinh Văn Nam_Lớp Lịch Sử K31B
9
Tìm hiểu nhân vật lịch sử Trần Thúc Nhẫn
Tới đó năm 1811, Napoleon I lại giao cho triều đình xem xét lại đề
nghị của Dayot . Sang đầu 1812 lại bắt thượng thư bộ hải quân báo cáo tỉ
Mỹ về phái đoàn Bá Đa Lộc măm 1787, với việc không nằm ngoài ý định
đưa vào một văn kiện vốn đã từng bị bỏ rơi suốt trong 17 năm qua ( 1787-
1804)- Hoà ước Versaile 28/11/1787. Song tất cả những ý đồ này của
Napoleon I đều không có điều kiện thực hiện vì : Ngay sau khi hoà ước
Amiens bị xé (1803) tình hình châu Âu lại có những chuyển biến bất lợi
cho Pháp, để cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn của Napoleo I ( 1815-
sau trận đánh lịch sử Warteclo) . Tuy vậy, ngay trong 100 ngày “phục hồi”
của đế chế thứ nhất, mặc dù đang còn rất nguy khốn trước sự liên minh tấn
công của phe đồng minh, song nước Pháp vẫn không chịu rời bỏ âm mưu
nhòm ngó Việt Nam bằng việc các thương gia và giáo sĩ vẫn tiếp tục gửi
những báo cáo “ mật” về cho chính phủ Pháp.
Nối tiếp sau Napoleon I, sang thời louis XVIII (1815), ông lại tiếp
tục sự nghiệp còn “ dang dở” của các vị hoàng đế “tiền nhiệm” trước đó.
Với việc liên tiếp cử các đoàn tàu thương mại, những phái bộ sang Việt
Nam ( nhất là trong khoảng thời gian từ 1815 – 1817) chủ yếu là đến các
cảng biển lớn như: Sài gòn, Đà Nẵng, qua đó đánh dấu sự trở lại của nước
Pháp trên mảnh đất Việt Nam, và cũng trong khoảng thời gian này lợi dụng
sự tiếp đãi “nồng hậu, dễ dãi” ( nhấn mạnh) của triều đình Gia Long, nhiều
thương gia, giáo sĩ và các quan chức Pháp đã “ trà trộn” một cách nhanh
chóng cho những âm mưu của mình, điển hình là vụ Boret- một tay mại
biển ngay sau khi vừa đến Huế, đã tìm ngay đến nhà của Chaigneau và
Vannier , cũng tại đây chính Boret đã đánh giá cao lòng “ sốt sắng” và
nhiệt tình của hai người này “ Họ thật xứng đáng với lòng biết ơn của
hoàng đế nước Pháp và mọi người dân Pháp luôn luôn tha thiết với bất cứ
một việc nào có thể góp phần vào nền thịnh vượng chung của Tổ quốc nước
Pháp[5;7].
Đinh Văn Nam_Lớp Lịch Sử K31B
10
Tìm hiểu nhân vật lịch sử Trần Thúc Nhẫn
Mặt khác, cũng chính trong thời gian này hầu tước và thủ tưởng
Richelieu cũng đã có ý định khuyếch trương thế lực của nước Pháp tại
Việt Nam với việc tự mình hoặc cử các phái viên như ; Kerganou… tìm
mọi cách liên lạc với các quan cấp người Pháp đang làm việc trong triều
đình Huế như: Chaigneau, Vannier. Đi liền với đó là các công ty thương
mại ở các thành phố lớn của Pháp như Nantes, Lorient, Bordeaux… với sự
khuyến khích và nâng đỡ của chính phủ Pháp cũng đã tăng cường khuyếch
trương hoạt động tại Việt Nam. Tuy vậy, một lần nữa dưới thời trị vì của
Louis XVIII, công cuộc để tiến hành một cuộc can thiệp vũ tranh vào Việt
Nam, cũng vẫn chưa có thể thực hiện đựoc vì : Tình hình nước Pháp lúc đó
rất không thuận lợi cho một cuộc vũ trang xâm lược nơi xa xôi như Việt
Nam, bởi dưới quyền thống trị của vua Louis XVIII, bọn đại tư sản và chủ
nhà băng nước Pháp ngày càng lún sâu vào con đường thối nát một cách
đáng sợ, sự công phẫn của quần chúng đã lên đế điểm tột cùng,kết quả là
một sự lật đổ và ra đi của nhà vua đã xảy ra, thay vào đó là sự thiết lập nền
đệ nhị cộng hoà.
Như vậy, với sự sụp đỗ của triều vua Lousi XVIII (hay còn gọi là
nền quân chủ tháng bảy), thì nước Pháp về cơ bản vẫn chưa thực hiện được
“ước nguyện” của mình.
Cuối cùng bằng việc dựa trên sự ủng hộ của bọn đại tư sản, của giáo
hội và sức mạnh của lưỡi lê. Ngày 2/12/1852 Louis Napoleon đã leo lên vị
trí hoàng đế, lập ra nền đế chế thứ hai. Đây thực sự là một nền chuyên
chính tối phản động của bọn chủ nhà băng, bọn đầu cơ, quân phiệt với việc
trong thì đàn áp, bóc lột nhân dân, ngoài thì ráo riết đẩy mạnh việc xâm
chiếm thuộc địa. Song cũng trong buổi ban đầu, phần thì lo việc cũng cố
ngôi vị, phần thì e ngại tư bản Anh nên Lousi Napoleon cũng chư dám
hành động. Mà phải đợi đến 12/1856 khi mâu thuẫn Anh – Pháp tạm thời
được hoà hoãn, để cùng nhau tiến hành cuộc chiến tranh can thiệp Trung
Quốc, kết hợp với đó là các báo cáo của các giáo sĩ và sự ngày càng suy
Đinh Văn Nam_Lớp Lịch Sử K31B
11
Tìm hiểu nhân vật lịch sử Trần Thúc Nhẫn
đốn của triều đình Huế, những cuộc “ phiến loạn” tại miền Bắc , cùng các
nơi khác ở Việt Nam, những thuận lợi ở bên kia chiến trường Trung Quốc,
thì một quyết định về một cuộc can thiệp vũ tranh mới chính thức được
thông qua(7/1857).
Ngược lại về phần các giáo sĩ và thương nhân thì ngay từ buổi đầu
khi mới dòm ngó Việt Nam, các giáo sĩ và thương nhân Pháp đã hợp tác
một cách chặt chẽ với nhau: giáo sĩ mở đường đi trước, thương nhân theo
sau rồi cùng nhau đẩy mạnh hoạt động. Dưới triều Nguyễn, đặc biệt là dưới
triều Minh Mạng đến Tự Đức, những hoạt động của các giáo sĩ đã ngày
càng lộ rõ sự nguy hiểm đối với việc bảo toàn chủ quyền quốc gia, bảo toàn
nền văn hoá dân tộc…Khi mà họ đã lợi dụng danh nghĩa truyền đạo để đi
sâu vào các địa phương điều tra, dò xét tình hình các mặt rồi báo cáo về
nước, mặt khác họ còn lợi dụng các thế lực tôn giáo để mua chuộc, dụ dỗ
dân chúng Việt Nam, gây mâu thuẫn giữa đồng bào lương và giáo, xúi bẩy
giáo dân chống lại triều đình “ đào hào, đắp luỹ” để ngày đêm giảng đạo,
tham gia các cuộc nổi dậy của quần chúng trong số đó tiêu biểu là ở cuộc
khởi nghĩa của Lê Văn Khôi bùng nổ tại Nam Kỳ (7/1833) đã có sự tham
gia của các giáo sĩ Pháp như Marchand… Tất cả những hành động ấy đã
làm cho triều đình vô cùng công phẫn, các đạo dụ cấm đạo, giết đạo đã liên
tiếp được tung ra, và ngày càng trở nên nặng nề, thô bạo nhất là dưới thời
Tự Đức ( 1847-1883).
Tóm lại, sau khoảng một thời gian dài tìm kiếm(ít nhất là từ thời
Louis XVI đến vua Louis Napoleon), lật lại quá khứ và xúc tiến những âm
mưu từ những bậc giáo sĩ, thương nhân cho đến các chính giới Pháp. Cuối
cùng thực dân Pháp cũng đã có được sự ổn định về mặt chính trị cũng như
tìm được “duyên cớ” trước những hành động được xem là : “nóng vội,
thiếu cân nhắc, nông nổi” của triều đình Huế - trực tiếp là triều Tự Đức qua
việc sát hại những thương nhân, giáo sĩ. Bằng việc phê chuẩn một kế hoạch
can thiệp quân sự trực tiếp vào 7/1857. Cuối cùng sau khi đánh xong
Đinh Văn Nam_Lớp Lịch Sử K31B
12
Tìm hiểu nhân vật lịch sử Trần Thúc Nhẫn
Quảng Châu- Trung Quốc 5/1/1858 và sau khi cùng với Anh làm áp lực
buộc Trung Quốc phải ký hiệp ước Thiên Tân (27/6/1858), quân đội viễn
chinh Pháp đã hợp lực cùng với quân Tây Ban Nha kéo thẳng xuống vùng
biển phía Nam. Đến sáng sớm ngày 1/8/1858, thì đã dàn trận trước cửa biển
Đà Nẵng, mở đầu cho một cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, mà bọn thực
dân Pháp đã từng “ôm ấp” bấy lâu Đồng thời cũng là mốc chấm dứt sự
kết thúc, mở ra một chương mới cho lịch sử nước ta - Nước Việt Nam thời
cận đại.
II. Bối cảnh trong nước:
1.Vài nét về tình hình Việt Nam trước khi thực dân Pháp xâm lược:
Là một “ngoại lệ duy nhất” trong số các triều đại của lịch sử nước ta
được xác lập dựa vào sự hậu thuẫn của các thế lực bên ngoài. Triều Nguyễn
(1802-1945), mặc dù trong buổi đầu đã có nhiều cố gắng trong việc xây
dựng lại vương triều, trị an đất nước, cũng như là thái độ tương đối “ điềm
tĩnh”, “ khôn khéo” trước các thế lực phương Tây- Những con người đã
từng giúp đỡ mình trong cuộc chiến tranh đoạt lại vương quyền(nhất là
dưới thời vua Gia Long và Minh Mạng). Song đây cũng chỉ là những giải
pháp mang tính “sách lược” trong buổi đầu củng cố lại vương quyền. Còn
trên thực tế, thì sự thiết lập của vương quyền triều Nguyễn ( 1/6/1802) có
thể khẳng định rằng: “ Đây chỉ là sự thắng thế của một tập đoàn phong kiến
tối phản động nhất trong nước có tư bản nước ngoài ủng hộ, đối với triều
đại Tây Sơn tương đối tiến bộ hơn về nhiều mặt”[3; 11-12].Cũng do đó mà
càng về sau, triều Nguyễn ngày càng đi sâu vào con đường phản động bằng
việc vừa ra sức phục hồi, củng cố quan hệ sản xuất cũ, vừa cố tình bóp
nghẹt lực lượng sản xuất mới trên cơ sở mọi chính sách về chính trị, kinh
tế, văn hoá, tư tưởng đều phải được đặt trên sự bảo vệ một cách cao nhất
những đặc quyền của tầng lớp thống trị biểu hiện: Vua được xem là “con
trời”,“thay trời hành đạo”, tập trung trong tay mọi quyền hành, quyền
hành nhà vua được coi là thần khí “thiêng liêng” vô hạn. Nhà vua thực sự
Đinh Văn Nam_Lớp Lịch Sử K31B
13
Tìm hiểu nhân vật lịch sử Trần Thúc Nhẫn
là một đại địa chủ lớn nhất nước, có toàn quyền phung phí mọi tài sản quốc
gia, trên xương máu của nhân dân. Còn quan lại triều đình và ở các địa
phương thì hầu hết là bọn hủ bại, về chính trị thì bảo thủ cầu an, về kinh tế
thì tham lam, cuồng bạo, còn về tư tưởng thì luôn tự cao, tự đại với những
mớ học thuyết Khổng Mạnh, lỗi thời, luôn xem trật tự phong kiến là “bất
di bất địch” cao hơn hết mọi thời đại.
Ngược lại trong khi lúc đó thì đời sống của nhân dân vô cùng cơ cực,
thêm vào đó lại còn bị sự o ép, bóc lột bằng sưu thuế, tạp dịch của nhà
nước và bọn cường hào, địa chủ … thể hiện:
Với nông nghiệp: Nền kinh tế tư hữu của nông dân bị xâm phạm
nghiêm trọng, ruộng đất thì phần nhiều đều tập trung trong tay bọn địa chủ,
còn người nông dân nếu có chăng đi nữa thì cũng chỉ toàn là những chỗ
“xương xẩu”. Do đó, mà hiên tượng người nông dân đi lưu tán, tha phương
cầu thực được xem là một nét rất phổ bíến dưới triều Nguyễn. Cụ thể “ tính
từ năm 1802 đến năm1806 đã có 370 thôn thuộc mấy trấn lớn ngoài bắc đi
xiêu tán đi nơi khác, đến năm1826 lại có 108 xã thôn thuộc 13 huyện của
trấn Hải dương xiêu tán” [3;12].
Về công thương nghiệp : thì nhà Nguyễn đã thực thi những chính
sách vô cùng phản động. Trước hết về công nghiệp thì mọi ngành kinh
doanh lớn đều nằm trong tay nhà nước, giữ độc quyền hoặc đánh thuế rất
nặng vào các ngành kinh doanh mỏ do tư nhân Hoa kiều hay người Việt
đứng ra khai thác, bắt những người thợ thủ công giỏi từ các địa phương
khác về cung làm việc nhằm xây dựng các công trình phục vụ cho việc ăn
chơi, xa xỉ của bọn vua quan dưới hình những hình cưỡng ép, hoặc là
dưới những mức thù lao rất thấp. Còn với thương nghiệp thì nhà Nguyễn đã
cho thi hành chính sách “trọng nông ức thương” biểu hiện: về nội thương
thì nắm độc quyền buôn bán các loại nguyên liệu công nghiệp như ( đồng,
chì, kẽm >) vì sợ nhân dân chế vũ khí chống lại, đánh thuế nặng vào các
mặt hàng quan trọng ảnh hưởng đến đời sống nhân dân như: lúa gạo, muối,
Đinh Văn Nam_Lớp Lịch Sử K31B
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét