Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

150 Kế Toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty bánh kẹo Hải Châu

dẫn tới ứ đọng, ế thừa sản phẩm, vốn kinh doanh không thu hồi đợc, thu nhập không
đủ bù đắp chi phí. Doanh nghiệp bị làm ăn thua lỗ.
Đối với ngời tiêu dùng, trong quá trình tiêu thụ sẽ cung cấp hàng hoá cần thiết
một cách kịp thời đầy đủ và đồng bộ về số lợng và chất lợng, đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng. Thông qua tiêu thụ, thì tính hữu ích của sản phẩm mới đợc thực hiện, phản
ánh sự phù hợp của sản phẩm với ngời tiêu dùng.
Xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, tiêu thụ là điều kiện để tiến hành tái sản
xuất xã hội. Quá trình tái sản xuất xã hội bao gồm các khâu: sản xuất- phân phối-
trao đổi - tiêu dùng, giữa các khâu này có quan hệ mật thiết với nhau, nếu thiếu một
trong các khâu đó thì quá trình tái sản xuất sẽ không thực hiện đợc. Trong đó tiêu thụ
( trao đổi ) là cầu nối giữa các nhà sản xuất với ngời tiêu dùng, phản ánh cung và cầu
gặp nhau về hàng hoá, qua đó định hớng về sản xuất. Thông qua thị trờng tiêu thụ
góp phần điều hoà giữa quá trình sản xuất và tiêu dùng; giữa hàng hoá và tiền tệ; giữa
nhu cầu tiêu dùng và khả năng thanh toán Đồng thời là điều kiện để đảm bảo sự
phát triển cân đối trong từng nghành, từng vùng cũng nh toàn bộ nền kinh tế quốc
dân.
Nh vậy, tiêu thụ sản phẩm là một nghiệp vụ rất quan trọng đối với hoạt động
của mỗi doanh nghiệp sản xuất. Trong cơ chế thị trờng thì bán hàng là một nghệ
thuật, lợng sản phẩm tiêu thụ là nhân tố trực tiếp làm thay đổi lợi nhuận của doanh
nghiệp, thể hiện sức mạn cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng, là cơ sở để đánh
giá trình độ tổ chức quản lý, hiệu quảan xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh
thu tiêu thụ là một chỉ tiêu tổng hợp để phân tích đánh giá các chỉ tiêu kinh tế tài
chính của doanh nghiệp nh cơ cấu tiêu thụ, mức tiêu thụ, số vòng quay của vốn
Mặt khác nó cũng gián tiếp phản ánh trình độ tổ chức của các khâu cung ứng
sản xuất cũng nh công tác dự trữ bảo quản thành phẩm.
Qua phân tích trên ta thấy đợc tiêu thụ thành phẩm cùng với việc xác định kết
quả tiêu thụ có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy sử dụng nguồn lực và phân bổ nguồn lực
có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung và đối với doanh nghiệp nói riêng.
5
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đợc đánh giá thông qua khối lợng hàng hoá đ-
ợc thị trờng chấp nhận và lợi nhuận mà doanh nghiệp thu đợc.
Tiêu thụ là quá trình trao đổi để thực hiện giá trị của hàng hoá, là quá trình
doanh nghiệp chuyển hoá vốn từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền và hình thái kết
quả tiêu thụ, là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Quá trình trao đổi có thể chia ra thành hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cho khách hàng, giai đoạn này bên
bán căn cứ và hợp đồng kinh tế đã ký kết để giao hàng cho ngời mua. Giai đoạn này
phản ánh một mặt quá trình vận động của hàng hoá nhng cha phản ánh đợc kết quả
quá trình tiêu thụ vì cha có cơ sở đảm bảo quá trình tiêu thụ đã hoàn tất.
- Giai đoạn 2: Khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán tiền hàng. Đây là
giai đoạn hoàn tất của quá trình tiêu thụ, là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu về
sản phẩm, dịch vụ
Doanh thu bán hàng đợc xác định và doanh nghiệp có thu nhập để bù đắp
những chi phí đã bỏ ra và hình thành nên kết quả tiêu thụ.
Xét về mặt hành vi, qúa trình tiêu thụ phải có sự thoả mãn trao đổi giữa ngời
mua và ngời bán, ngời bán đồng ý bán, ngời mua đồng ý mua và chấp nhận thanh
toán.
Xét về mặt bản chất kinh tế, bán hàng là quá trình có sự thay đổi về quyền sở
hữu hàng hoá. Sau khi bán hàng ngời bán thu đợc tiền nhng mất quyền sở hữu còn
ngời mua mất tiền để có đợc quyền sở hữu hàng hoá.
Trong quá trình tiêu thụ doanh nghiệp xuất thành phẩm giao cho khách hàng
và nhận lại một khoản tiền tơng ứng với giá bán của số hàng đó gọi là doanh thu bán
hàng. Với chức năng trên, có thể thấy tiêu thụ có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi
doanh nghiệp sản xuất.
Các phơng thức tiêu thụ
Hiện nay để đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm các doanh nghiệp có thể
sử dụng nhiều phơng thức bán hàng phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, mặt
6
hàng tiêu thụ của mình. Công tác tiêu thụ phẩm trong doanh nghiệp sản xuất có thể
tiến hành theo các phơng thức sau:
a. Phơng thức tiêu thụ trực tiếp:
Theo phơng thức này, doanh nghiệp bán trực tiếp cho ngời mua, do bên mua
trực tiếp đến nhận hàng tại kho của doanh nghiệp bán hoặc tại địa điểm mà doanh
nghiệp đã quy định.
Thời điểm bán hàng là thời điểm ngời mua đã ký nhận hàng, còn thời điểm
thanh toán tiền bán hàng phụ thuộc vào điều kiện thuận lợi của hợp đồng.
b. Phơng thức chuyển hàng chờ chấp nhận:
Theo phơng thức này bên bán chuyển hàng đi để giao cho bên mua theo địa chỉ
ghi trong hợp đồng. Hàng chuyển đi vẫn thuộc quyền sở hữu của bên bán, chỉ khi nào
ngời mua chấp nhận ( một phần hay toàn bộ ) mới đợc coi là tiêu thụ, bên bán mất
quyền sở hữu về toàn bộ số hàng này.
c. Phơng thức bán hàng trả góp:
Là phơng thức bán hàng thu tiền nhiều lần và ngời mua thờng phải chịu
một phần lãi xuất trên số trả chậm . Và thực chất, quyền sở hữu chỉ chuyển giao cho
ngời mua khi họ thanh toán hết tiền, nhng về mặt hạch toán, khi hàng chuyển giao
cho ngời mua thì đợc coi là tiêu thụ. Số lãi phải thu của bên mua đợc ghi vào thu nhập
hoạt động tài chính, còn doanh thu bán hàng vẫn tính theo giá bình thờng.
d.Phơng thức bán hàng đại lý:
Là phơng thức bên chủ hàng xuất hàng giao cho bên nhận đại lý, ký gửi để bán
và thanh toán thù lao bán hàng dới hành thức hoa hồng đại lý. Bên đại lý sẽ ghi nhận
hoa hồng đợc hởng vào doanh thu tiêu thụ. Hoa hồng đại lý có thể đợc tính trên tổng
giá thanh toán hay giá bán ( không có VAT ) của lợng hàng tiêu thụ.
Khi bên mua thông báo đã bán đợc số hàng đó thì tại thời điểm đó kế toán xác định là
thời điểm bán hàng.
e. Phơng thức tiêu thụ nội bộ:
7
Là việc mua hàng hoá, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ giữa đơn vị chính với đơn vị
phụ thuộc hay giữa các đơn vị thực thuộc với nhau hay trong cùng một tập đoàn, tổng
công ty, liên hiệp Ngoài ra tiêu thụ nội bộ còn bao gồm giá trị sản phẩm hàng hoá,
dịch vụ xuất trả lơng, biếu tặng, quảng cáo, tiếp thị, xuất dùng cho sản xuất kinh
doanh.
2. Kết quả kinh doanh và phơng pháp xác định kết quả kinh doanh
a. ý nghĩa việc xác định kết quả kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trờng, ngoại trừ một số doanh nghiệp công ích, mục đích
kinh doanh là lợi nhuận. Đấy là mục tiêu hàng đầu chi phối mọi hoạt động của doanh
nghiệp. Để biết đợc doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay không, lợi nhuận là bao
nhiêu, cao hay thấp, doanh nghiệp phải tính toán để xác định kết quả kinh doanh của
mình.
Kết quả kinh doanh là kết quả cuối cùng mà doanh nghiệp hớng tới, mọi chính
sách biện pháp của doanh nghiệp đều xoay quanh vấn đề làm thế nào để có đợc kết
quả kinh doanh tốt nhất. Thông qua việc xác định kết quả doanh nghiệp sẽ tìm ra đợc
con đờng, phơng hớng cần thiết để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình.
Xác định đúng đắn, chính xác kết quả kinh doanh là cơ sở để đánh giá hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp, thực hiện nghĩa vụ của mình với Nhà nớc, giải
quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa lợi ích của Nhà nớc với lợi ích của tập
thể và cá nhân ngời lao động. Xác định đúng đắn kết quả kinh doanh sẽ giúp
doanh nghiệp đặt ra các phơng hớng phấn đấu phù hợp với khả năng tạo điều kiện
cho doanh nghiệp hoạt động tốt ở các kỳ sau, cung cấp số liệu cho bên đối tác có liên
quan ( các nhà đầu t, khách hàng) nhằm thu hút đầu t, cải thiện và nâng cao uy tín
của doanh nghiệp đối với bạn hàng, với ngời lao động.
b. Kết quả tiêu thụ và phơng pháp xác định kết quả kinh doanh
+. Kết quả tiêu thụ
8
Kết qủa tiêu thụ là chênh lệch giữa doanh thu thuần với trị giá vốn hàng xuất
bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp sản xuất,
kết quả tiêu thụ là kết quả chính tạo nên lợi nhuận cho doanh nghiệp. Thông qua việc
xác định kết quả tiêu thụ mà doanh nghiệp có thể biết đợc hiệu quả sản xuất kinh
doanh của mình, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, những mặt hàng có hiệu quả cao
cần đẩy mạnh sản xuất và mặt hàng chỉ đạt hiệu quả thấp để có biênj pháp xử lý.
+. Phơng pháp xác định kết quả kinh doanh:
Mọi hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ đều phải xác định kết quả, đặc biệt
là quá trình tiêu thụ - hoạt động chính phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp sản xuất.
Kết quả tiêu thụ đợc xác định bằng công thức:
Kết quả Doanh Trị giá Chi phí Chi phí
tiêu = thu - vốn hàng - bán hàng - quản lý
thụ thuần xuất bán đợc phân bổ doanh nghiệp
_ Doanh thu bán hàng thuần: doanh thu thuần là phần còn lại của doanh thu bán hàng
sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ. Doanh thu thuần đợc xác định bằng công thức:
Doanh
thu thuần
=
Tổng
doanh thu
-
Các khoản
giảm trừ
Tổng doanh thu là số tiền ghi trên hoá đơn kể cả số doanh thu bị giảm trừ, chấp
nhận cho khách hàng đợc hởng nhng cha ghi trên hoá đơn bán hàng.
Các khoản giảm trừ bao gồm :
+ Doanh thu hàng bán bị trả lại: là doanh thu của số lợng hàng đã tiêu thụ, lao
vụ đã cung cấp nhng bị khách hàng trả lại hoặc bị từ chối do kém phẩm chất, không
đúng quy cách, chủng loại nh hợp đồng đã ký kết.
+ Doanh thu giảm giá hàng bán: là các khoản giảm trừ ghi trên giá bán quy
định vì lý do hàng kém phẩm chất hoặc nhằm khuyến mại khách mua.
- Trị giá vốn hàng bán:
9
Phản ánh toàn bộ chi phí cần thiết bỏ ra để sản xuất số thành phẩm đã bán.
Trong hạch toán kế toán sản phẩm nhập kho đợc phản ánh theo giá vốn tức là phản
ánh đúng chi phí thực tế doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất đợc số sản phẩm đó. Thông
thờng số thành phẩm mỗi lần nhập kho là khác nhau do vậy phải tính toán mới xác
định đợc trị giá vốn sản phẩm sản xuất. Việc tính toán trị giá vốn hàng bán có thể sử
dụng nhiều phơng pháp khác nhau nhng doanh nghiệp đã lựa chọn phơng pháp nào
thì phải đảm bảo sử dụng phơng pháp đó ít nhất trong một niên độ kế toán.
Để xác định trị giá vốn hàng xuất, doanh nghiệp sản xuất có thể dùng giá
thành sản xuất từ phân xởng hoặc nơi sản xuất trực tiếp hoặc giá hạch toán sau đó
điều chỉnh về giá thực tế. Có các phơng pháp sau để tính trị giá hàng xuất:
+Phơng pháp sử dụng hệ số giá
+Phơng pháp Nhập trớc xuất trớc
+Phơng pháp nhập sau xuất trớc
+Phơng pháp thực tế đích danh
+Phơng pháp bình quân gia quyền
- Chi phí bán hàng:
Thành phẩm nếu chỉ dừng ở khâu sản xuất không đa ra tiêu thụ thì sẽ không
đáp ứng đợc nhu cầu xã hội, doanh nghiệp sẽ không có thu nhập để bù đắp chi phí
bỏ ra và tạo ra lợi nhuận để tái sản xuất mở rộng. Vì vậy bán hàng là khâu quan trọng
đa sản phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng, từ đó giá trị sản phẩm mới đợc thực hiện. Nh-
ng để thực hiện đợc tiêu thụ phải bỏ ra một số chi phí nhất định về lao động, nguyên
vật liệu Những chi phí này gọi là chi phí bán hàng.
Chi phí bán hàng là biểu hiện bằng tiền của những lao động sống và những lao
động vật hoá cần thiết để tiêu thụ thành phẩm, hàng hoá, dịch vụ. Hiểu một cách đơn
giản chi phí bán hàng là những chi phí có liên quan đến quá trình tiêu thụ phát sinh ở
khâu vận chuyển, bốc dỡ, quảng cáo
Chi phí bán hàng đợc phân thành các khoản mục:
+ Chi phí nhân viên
10
+ Chi phí vật liệu, bao bì
+ Chi phí công cụ, đồ dùng
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài
+ Chi phí bảo hành
+ Chi phí bằng tiền khác
- Chi phí quản lý doanh nghiệp:
Là những khoản chi phí phục vụ cho quản lý chung của doanh nghiệp nh tiền l-
ơng nhân viên quản lý, đồ dùng văn phòng
Về bản chất, chi phí quản lý doanh nghiệp không tạo ra giá trị sản phẩm nhng
lại là chi phí cần thiết đối vơí quá trình sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp. Chi
phí quản lý doanh nghiệp đợc chia thành các khoản mục sau:
+ Chi phí nhân viên là các khoản phải trả về tiền lơng, tiền công, bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế , kinh phí công đoàn cho ban giám đốc, nhân viên văn phòng.
+ Chi phí vật liệu bao bì là chi phí vật liệu phục vụ cho quản lý hành chính và
kinh doanh nh giấy mực , bút.
+ Chi phí công cụ dụng cụ là các chi phí, đò dùng văn phòng, thiết bị quản lý
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định là chi phíkhấu hao các tài sản cố định phục
vụ quản lý doanh nghiệp nh nhà cửa, kho tàng, vật kiến trúc.
+ Thuế, phí, lệ phí là cácc chi phí trực thuộc về thuế, lệ phí nh thuế môn bài,
thuế nhà đất, lệ phí cầu đờng, công tác phí .
+ Chi phí dự phòng là các khoản dự phòng giảm giá hàg tồn kho, dự phòngnợ
phải thu khó đòi tính vào chi phí sản xuất kinh doanh.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài là các chi phí thuê ngoài nh điện nớc, điện
thoại phục vụ quản lý.
+ Chi phí bằng tiền khác là các khoản chi phí bằnh tièn ngoài các khoản
tiền nh chi phí tiếp khách hội nghị.
Sau khi xác địn đợc các chỉ tiêu trên cần tiến hành xác định chỉ tiêu lãi gộp:
11
Lãi gộp = doanh thu thuần giá vốn hàng bán
Cuối cùng xác định kết quả tiêu thụ theo công thức :
Kết quả lãi thuần= Lãi gộp - Chi phí bán hàng - Chi phí quản lý
3. Các biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Thực chất việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đợc phản ánh thông qua
chỉ tiêu lãi thuần từ hoạt động kinh doanh. Biện pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả
kinh doanh là tăng thu nhập, giảm chi phí.
Kết quả = Thu nhập Chi phí
Công thức trên cho ta thấy nếu chi phí càng nhỏ thì lãi thu đợc sẽ càng lớn và
ngợc lại. Vì vậy để nâng cao hiệu quả kinh doanh thì nhiệm vụ thiết yếu đặt ra là phải
tiết kiệm chi phí.
a. Các biện pháp tăng thu nhập
Để tăng thu nhập, cần tích cực áp dụng các biện pháp để tăng doanh số bán ra
đẩy mạnh khối lợng tiêu thụ đồng thời cũng cần giảm tối thiểu các khoản giảm trừ
doanh thu. Trong các khoản giảm trừ doanh thu, doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến
các khoản giảm trừ do hàng kém phẩm chất, sai quy cách, do vi phạm hợp đồng kinh
tế. Đây là các khoản giảm trừ doanh thu một cách tiêu cực nên doanh nghiệp cần có
biện pháp hạn chế một cách tối đa các khoản này. Bên cạnh đó, phải quản lý tốt khâu
kiểm định chất lợng sản phẩm, cố gắng đáp ứng nhu cầu trong hợp đồng.
b. Các biện pháp tiết kiệm chi phí:
Chi phí kinh doanh là các khoản chi phí cần thiết bỏ ra trong quá trình kinh
doanh. Giảm chi phí không có nghĩa là cắt giảm chi phí mà vấn đề cần thiết là tiết
kiệm chi phí. Đi đôi với việc giảm chi phí thì tốc độ tăng doanh thu phải cao thì mới
tạo ra sự chênh lệch lớn giữa doanh thu và chi phí, mới đảm bảo sản xuất có hiệu quả.
Chi phí trong kinh doanh bao gồm cả chi phí để sản xuất sản phẩm, do vậy
biện pháp hạ giá thành cũng góp phần làm giảm chi phí một cách tích cực trong tr-
ờng hợp không ảnh hởng đến chất lợng sản phẩm. Việc phấn đấu hạ giá thành đòi hỏi
12
doanh nghiệp phải nghiên cứu để có cơ cấu giữa các loại chi phí ( chi phí khả biến,
chi phí bất biến ) hợp lý, cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
II. Phơng pháp Kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh
doanh trong các doanh nghiệp sản xuất
1. Nhiệm vụ của kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh:
Kế toán trong doanh nghiệp là một công cụ quản lý, là khoa học thu nhận xử lý
và cung cấp thông tin về tài sản, nguồn vốn và tình hình biến động của tài sản trong
doanh nghiệp. Tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh là một trong những khâu quan
trọng quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Do vậy kế toán tiêu thụ và xác
định kất quả tiêu thụ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và có vai trò đặc biệt trong
công tác quản lý tiêu thụ thành phẩm. Thông qua các thông tin từ kế toán mà ngời
điều hành trong doanh nghiệp có thể biết đợc mức độ hoàn thành kế hoạch tiêu thụ,
phát hiện những vấn đè còn tồn tại trong các khâu sản xuất, dự trữ, bảo quản có ảnh
hởng đến khâu tiêu thu, từ đó có những biện pháp điều chỉnh hợp lý nhằm đạt đợc kết
quả kinh doanh tốt hơn.
Để cung cấp đợc những thông tin kịp thời, chính xác, đầy đủ kế toán tiêu thụ
và xác định kết quả tiêu thụ cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Ghi chép, phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời khối lợng hàng bán ra, số
hàng đã giao cho các cửa hàng tiêu thụ, số hàng gửi bán và tình hình tiêu thụ số hàng
đó. Xác định chính xác, đầy đủ doanh thu bán hàng, giám sát chặt chẽ tình hình
thanh toán. Tổ chức kế toán chi tiết ở khâu bán hàng cả về số lợng, chủng loại và giá
trị.
- Cung cấp kịp thời tình hình tiêu thụ phục vụ cho việc điều hành hoạt động
sản xuất kinh doanh cuả doanh nghiệp. Báo cáo thờng xuyên kịp thời tình hình thanh
toán nguồn vốn với khách hàng theo từng loại hàng, theo hợp đồng.
13
- Phản ánh, kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch tiêu thụ, kế hoạch lợi nhuận,
thanh toán và quản lý chặt chẽ tiền bán hàng.
-Xác định chính xác trị giá vốn hàng bán nhằm xác định kết quả tiêu thụ, phản
ánh, giám đốc kết quả kinh doanh cũng nh tình hình phân phối kết quả đó để cung
cấp số liệu kịp thời cho việc lập quyết toán đợc đầy đủ đúng chế độ.
Và để thực hiện tốt các nghiệp vụ trên, kế toán cần thực hiện tốt một số nội
dung sau:
- Phải xác định đúng thời điểm hàng hoá đợc coi là tiêu thụ để kịp thời lập báo
cáo tiêu thụ và phản ánh doanh thu. Báo cáo thờng xuyên tình hình tiêu thụ và thanh
toán chi tiết với khách hàng theo từng loại, từng hợp đồng kinh tế nhằm giám sát
chặt chẽ hàng bán về số lợng, chủng loại, thời gian, đôn đốc việc thu tiền về nộp quỹ.
- Tổ chức hệ thống chứng từ ban đầu và trình độ luân chuyển chứng từ hợp lý.
Sử dụng các chứng từ hợp pháp, luân chuyển khoa học hợp lý, tránh trùng lặp, bỏ sót,
đảm bảo yêu cầu quản lý để nâng cao hiệu qguả công tác kế toán. Lựa chọn hình
thức sổ kế toán phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Xác định đúng và tập hợp đầy đủ chi phí phát sinh trong khâu tiêu thụ và
khâu quản lý doanh nghiệp, phân bổ chi phí hợp lý và kết chuyển đúng trị giá vốn
hàng xuất bán để xác định kết quả kinh doanh.
2. Kế toán nghiệp vụ tiêu thụ
a. Tài khoản sử dụng
*Nhóm tài khoản phản ánh doanh thu:
Loại tài khoản này phản ánh toàn bộ doanh thu bán hàng thực tế của doanh
nghiệp đạt đợc trong kỳ kế toán.
Doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền bán sản phẩm, hàng hoá, tiền cung cấp
dịch vụ cho khách hàng, bao gồm cả phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán.
Loại tài khoản doanh thu có 4 tài khoản, chia thành 2 nhóm:
Nhóm tài khoản 51-Doanh thu, có 2 tài khoản:
+TK 511- Doanh thu bán hàng;
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét