Về phía các nhà tài trợ: Việc thẩm định sẽ giúp họ đánh giá, xem xét lại
các chi phí và hiệu quả của dự án, các luồng dịch chuyển về giá trị trên cơ sở đó
có chấp nhận các kế hoạch trả nợ không và từ đó có Quyết định tài trợ đúng
đắn. Điều này giúp cho các nhà tài trợ hỗ trợ chủ dự án sử dụng đồng vốn có
hiệu quả đồng thời bảo đảm sự an toàn tài chính cho chính nhà tài trợ.
Tóm lại, thẩm định dự án đầu t là một công việc cần thiết, mặc dù đôi khi
khá phức tạp do có sự tồn tại của các cơ hội kinh tế thay thế lẫn nhau để tận
dụng các nguồn lực.
Nội dung thẩm định dự án đầu t:
Có nhiều khía cạnh có liên quan, tơng hỗ khác nhau cùng tạo nên một dự
án tổng thể. Nhìn chung, chúng thuộc loại hình kỹ thuật, kinh tế, kinh tế, tài
chính và pháp luật, nhng quan hệ của chũng làm rõ tới mức toàn bộ chúng cần
phải đợc cân nhắc, xem xét trớc khi ra Quyết định đầu t.
+ Thẩm định các điều kiện pháp lý và mục tiêu của dự án:
Thẩm định với t cách pháp nhân của chủ đầu t (Quyết định thành lập,
giấy phép kinh doanh, văn bản bổ nhiệm giám đốc, kế toán trởng). Xem xét các
hồ sơ trình duyệt có đủ theo quy định của nhà nớc và pháp luật có đúng, hợp lệ
hay không
Thẩm định mục tiêu dự án để xem xét xem: mục tiêu của dự án có phù
hợp với chơng trình phát triển kinh tế xã hội của cả nớc, vùng hay địa phơng,
ngành hay không. Ngành nghề trong dự án có thuộc nhóm ngành nghề nhà nớc
cho phép hoạt động hay không. Có thuộc nhóm ngành nghề u tiên hay không.
+ Thẩm định về thị tr ờng của dự án:
Khía cạnh này cho phép thấy đợc đầu ra của dự án có thực hiện đợc
không khi dự án đợc tiến hành. Vì vậy nội dung của thẩm định là kiểm tra, xem
xét sản phẩm của dự án đợc sử dụng để đáp ứng nhu cầu trong nớc hay bán trên
thị trờng quốc tế. Dự án có những u thế và bất lợi gì so với các đối thủ cạnh
tranh. Lu ý đến xu hớng sản phẩm xét theo trình độ phát triển công nghệ và chu
kỳ sản phẩm.
Xem xét thị trờng là cơ sở cho việc lựa chọn quy mô của dự án, lựa chọn
thiết bị, công suất và dự kiến khả năng tiêu thụ. Phân tích và dự đoán đúng về
thị trờng là một công việc khó khăn, song độ chính xác của phân tích thị trờng
sẽ ảnh hởng tới thành công của dự án.
+ Thẩm định khía cạnh kỹ thuật của dự án:
Mục tiêu thẩm định ở đây là để kiểm tra việc xác định cấu hình kỹ thuật
cũng nh những phơng diênj cốt yếu khác định hình trên dự án. Câu hỏi đặt ra ở
đây cần trả lời là liệu dự án có thực hiện về mặt kỹ thuật hay không. Thông tin
vè đời công nghệ hữu dụng của dự án. Thờng thì khía cạnh này đợc quan tâm
ngay từ khi lập dự án, vì các chủ đầu t phải ta đợc Quyết định việc lựa chọn
trang thiết bị, máy móc, quy trình công nghệ.
5
Nhng các nhà thẩm định độc lập sẽ kiểm tra công cụ sử dụng trong tính
toán. trong đó lu ý đặc biệt đến các định mức kinh tế kỹ thuật. Đối với định mức
kinh tế - kỹ thuật phải rà soát cho phù hợp với điều kiện cụ thể của dự án nh:
- Kiểm tra những sai sót trong tính toán: tính toán không đúng, không
đủ, không phù hợp.
- Kiểm tra tính phù hợp của công nghệ thiết bị đối với dự án, cũng nh
tác động của chúng đến môi trờng.
+ Thẩm định khía cạnh nhân lực và tổ chức quản lí.
Việc thẩm định dự án để cho đợc hiệu quả thì không thể chỉ hạn chế
trong việc đánh giá về tài chính và kinh tế các chi phí và lợi ích với giả thiết
rằng dự án sẽ đợc xây dựng và hoạt động đúng kỳ hạn. Điều này giả thiết là
phải có sự hỗ trợ về mặt hành chính để thực hiện dự án, điều này đặc biệt quan
trọng đối với các nớc đang phát triển, mà ở nhiều nớc việc đó lại hoàn toàn
không có. Rất nhiều dự án đã thất bại vì chúng đã đợc thực hiện trong điều kiện
không có sự hiểu biết về quản lí hành chính cần thiết cho việc triển khai dự án
theo đúng yêu cầu quy định. Triển vọng các lợi ích về mặt kinh tế tài chính có
đạt đợc hay không là tuỳ thuộc vào năng lực quản lí hành chính của cơ quan có
trách nhiệm thi hành dự án.
Bên cạnh đó thị trờng lao động cần phải đợc nghiên cứu kỹ nhằm đảm bảo rằng
các tính toán về các mức tiền lơng phải trả là chính xác, cũng nh nguồn cung
cấp nhân lực dự trù là hợp lí trong điều kiện cụ thể của thị trờng lao động đảm
bảo đợc chất lợng công việc trong dự án.
+ Thẩm định khía cạnh tài chính của dự án.
Quá trình phân tích tài chính là khâu tổng hợp đầu tiên các biến số tài
chính với các biến số kỹ thuật đã đợc tính toán trong các phần nêu trớc đây và
là dữ liệu đầu vào cho các khâu thẩm định kinh tế - xã hội về sau.
Thẩm định tài chính là khâu hết sức quan trọng để các nhà đầu t cũng nh
các nhà tài trợ hay các nhà quản lí có thể đa ra các Quyết định đầu t đúng đắn
(Bởi vì chỉ rõ lợi ích kinh tế cụ thể đối với họ). Vấn đề này sẽ đợc đề cập kĩ hơn
ở phần sau.
+ Thẩm định về kinh tế - xã hội.
Nếu nh mục đích của thẩm định tài chính dự án là nhằm đánh giá dự án
từ quan điểm của các chủ dự án thì mục đích của công việc thẩm định trong
khâu này là đánh giá dự án từ quan điểm của toàn bộ nền kinh tế để xem xét
việc thực hiện dự án có cải thiện đợc phúc lợi kinh tế quốc gia hay không.
- Dự án có thể giúp đạt đợc những mục tiêu xã hội nào đó của chính
quyền (dự án có tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, cải
thiện đời sống )
- Ai là đối tợng đợc hởng lợi của dự án và ai sẽ là ngời chịu chi phí của
dự án và hởng lợi hay chịu chi phí theo cách nào ?
6
Một điều lu ý khi thẩm định là phân tích kinh tế có tác động môi trờng
của dự án đầu t. Đã đến lúc ngời ta quan tâm đến sự phát triển bền vững, phát
triển lâu bền. Vấn đề không phải là chúng ta buộc phải lựa chọn giữa phát
triển kinh tế và bảo vệ môi trờng, mà phải là tìm cách phát triển một cách phù
hợp, hài hoà để đảm bảo đợc phát triển lâu bền. Vì vậy, việc đánh giá tác động
đến môi trờng của các dự án trở thành một nhu cầu bức thiết và bắt buộc với các
dự án đầu t.
Toàn bộ quá trình thẩm định thờng là rất phức tạp, có tính liên ngành, đòi
hỏi sự liên kết, hợp tác của nhiều chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau:
kinh tế, kĩ thuật, môi trờng mới có thể tiến hành thực hiện có hiệu quả.
Do quá trình thẩm định gồm nhiều giai đoạn nên việc thẩm định các khía
cạnh trên sẽ đợc tiến hành ở bất kỳ giai đoạn nào. nếu là giai đoạn soạn thảo thì
do các nhà lập dự án thẩm định. Song một dự án hình thành xong, phân tích các
khía cạnh nêu trên phải đợc tiến hành một cách nghiêm túc và khách quan, để
trên cơ sở đó ra Quyết định chứ không phải ngợc lại chỉ là hình và nhằm chứng
minh cho một Quyết định đã có. Chính vì vậy mà các cơ quan t vấn hoặc
chuyên gia đợc giao trách nhiệm thực hiện công việc thẩm định, ngời thực hiện
công việc không thể là ngời của dự án.
Thẩm định dự án cần phải đợc tiến hành ở tất cả các khía cạnh nêu trên.
Nó nằm tăng cờng mức độ chính xác của việc tính toán các biến cố chủ yếu mà
chủ dự án đã lập. Việc đa ra các kết luận đánh giá trên các khía cạnh sẽ cho
phép đa ra các Quyết định đầu t hay Quyết định tài trợ đúng đắn và là cơ sở cho
khả năng dự án sẽ đứng vững trong vòng đời hữu dụng của nó.
Tóm lại, ta có thể nghĩ về một dự án nh là một tập hợp các quan hệ giao
dịch, qua đó các cá nhân hay tổ c hức phải chịu các chi phí khác nhau và nhận
đợc những lợi ích khác nhau. Việc thẩm định dự án từ một số quan điểm khác
nhau là rất quan trọng vì chúng cho phép các nhà phân tích xác định xem các
thành viên liên quan đến dự án có thấy đáng tài trợ, đáng tham gia thực hiện dự
án hay không. Để đảm bảo cho việc phê chuẩn và thực hiện thành công một dự
án phải hấp dẫn đối với tất cả những ngời đầu t và những ngời thực hiện có liên
quan tới dự án.
II. Phơng pháp thẩm định tài chính dự án đầu t và các yếu tố
ảnh hởng.
1.Phơng pháp thẩm định tài chính dự án đầu t.
Để thực hiện một cách chính xác về hiệu quả dự án cần thực hiện các bớc
sau:
7
1.1.Các bớc thực hiện thẩm định tài chính dự án đầu t.
Kiểm tra tính hợp lí, hợp lệ, đúng, đủ của số liệu trong các mẫu biểu đa
ra trong dự án.
Thực hiện việc thu thập, tổng hợp, xem xét lại các cơ sở của các số liệu
đa ra trong dự án, đối chiếu (nếu có thể) với các chỉ tiêu tham chiếu của ngành,
của nền kinh tế để kiểm chứng. Các số liệu này sẽ ảnh hởng tới phơng pháp và
kết quả phân tích các chỉ tiêu tài chính của dự án. một số bảng dự trù tài chính:
- Dự trù chi phí mua sắm thiết bị
- Dự trù chi phí sản xuất hàng năm.
- Dự trù doanh thu lỗ lãi.
- Dự trù bảng cân đối thu chi
- Kế hoạch vay vốn và trả nợ.
- Dự trù bảng cân đối tài sản.
Xác định tổng nhu cầu vốn đầu t của dự án:
Tổng vốn đầu t của dự án đã đợc các chủ đầu t dự kiến, song Ngân hàng
cần tiến hành xem xét lại, điều này quan trọng vì vốn đầu t đủ sẽ giúp dự án đợc
thực hiện một cách thuận lợi, nâng cao hiệu quả vốn đầu t, vốn đầu t thiếu sẽ
gây cho hoạt động của dự án sau này và ngợc lại thừa vốn đầu t có thể gây lãng
phí vốn và làm giảm hiệu quả tài chính của dự án. Tổng vốn đầu t là tập hợp
toàn bộ các chi phí góp phần tạo nên thực trạng công trình và bảo đảm cho
công trình sẵn sàng đa vào khai thác, sử dụng.
Thành phần vốn gồm có vốn cố định và vốn lu động :
+ Vốn cố định: Nhằm tạo ra năng lực mới tăng thêm để đạt mục tiêu của
dự án. Bao gồm:
Vốn chuẩn bị đầu t gồm các chi phí điều tra, khảo sát, lập, thẩm định
dự án đầu t.
Vốn chuẩn bị xây dựng bao gồm:
Chi phí ban đầu về đất đai (đền bù, giải phóng mặt bằng, chuyển quyền
sử dụng đất).
Chi phí khảo sát, thiết kế, lập và thẩm định thiết kế, tổng dự toán. chi phí
đấu thầu, hoàn tất các thủ tục đầu t (cấp giấy phép xây dựng, giám định, kiểm
tra thiết bị )
Chi phí xây dựng đờng điện, nớc, thi công, lán trại thi công.
Vốn thực hiện đầu t:
Chi phí xây dựng mới hoặc cải tạo các hạng mục công trình, lắp đặt thiết
bị. Chi phí thiết bị: Chi phí mua sắm thiết bị, chi phí vận chuyển về công trờng,
bảo quản thiết bị.
8
Chi phí quản lí, giám sát thực hiện đầu t.
Chi phí sản xuất thử và nghiệm thu bàn giao
Chi phí huy động vốn: Các khoản lãi vay vốn đầu t và các chi phí phải trả
trong thời gian thực hiện đầu t.
+ Vốn huy động: là khoản vốn đáp ứng nhu cầu chi thờng xuyên sau khi
kết thúc giai đoạn thực hiện đầu t gồm:
Vốn sản xuất: tiền, nguyên vật liệu, nhiên liệu, lơng
Vốn lu thông: sản phẩm dở dang, thành phẩm tồn kho, hàng hoá bán
chịu, vốn bằng tiền, chi phí tiếp thị
Vốn dự phòng: để xác định đợc nhu cầu vốn đầu t, ngân hàng ớc tính
chi phí từng loại dựa trên khối lợng công việc, đơn giá định mức hay căn cứ trên
giá thị trờng. Việc xác định tổng mức đầu t có ý nghĩa đối với ngân hàng ở cả
hai trờng hợp. Nếu xác định tổng mức đầu t thấp hơn so với thực tiễn thì khi
thực hiện đầu t sẽ phát sinh thiêú vốn, dự án đầu t không hoạt động đợc. Trờng
hợp xác định mức đầut lớn hơn sẽ cấp thừa cho doanh nghiệp, gây thừa vốn
không cần thiết và doanh nghiệp phải chịu chi phí lãi suất cao.
Phơng án vốn của doanh nghiệp và tiến độ bỏ vốn.
Doanh nghiệp có thể xác định tài trợ dự án của mình từ các nguồn:
- Vốn tự có.
- Vốn ngân sách cấp
- Vốn vay.
Ngân hàng phải kiểm tra tính hiện thực của vốn tự có cuả doanh nghiệp,
xem xét tỉ lệ:( vốn tự có / tổng vốn đầu t ) để đo lờng đợc rủi ro. Với công
trình đầu t bằng nhiều nguồn vốn thì cần phải có xác nhận của cơ quan quản lí
từng nguồn vốn nói trên ngân hàng chỉ cho vay vốn còn thiếu:
Nhu cầu
vay vốn
=
Tổng nhu cầu
vốn đầu t
- Vốn tự
có
- Vốn ngân
sách
- Vốn khác
(nếu có)
Tính toán hiệu quả tài chính của dự án:
+ Xem xét các biểu tính toán của doanh nghiệp.
- Biểu tính vốn đầu t theo các khoản mục xây lắp (khối lợng, đơn giá và
chi phí)
- Chi phí mua sắm thiết bị (loại thiết bị, số lợng, đơn giá).
- Chi phí khác.
- Biểu tính vốn lu động.
- Tổng chi phí sản xuất.
- Doanh thu.
9
- Dự trù lỗ lãi.
- Thời gian hoàn vốn.
+ Thông qua xem xét cần có các kết luận chính xác về:
- Dự án đã đa đủ các yếu tố chi phí vào giá thành cha?
- Sự hợp lý các định mức tiêu hao nguyên liệu vật liệu ?
- Tỷ lệ trích khấu hao đã hợp lý cha ?
- Các chi phí khác có điểm nào cha phù hợp ?
- Tỷ lệ đạt công suất hoạt động qua các năm ?
- Doanh thu và khả năng thực tế đạt đợc ?
Sau khi các số liệu trên bảng tính toán đã đợc kiểm định là hợp lý, cán bộ
thẩm định tiến hành thẩm định một số chỉ tiêu tài chính quan trọng giúp lợng
hoá hiệu quả tài chính của dự án, giúp cho các nhận định về dự án có tính chính
xác và khoa học. Đợc thể hiện các phơng pháp sau:
1.2.Các phơng pháp sử dụng khi thẩm định dự án đầu t:
Từ trớc đến nay các nhà đầu t đã sử dụng một trong các phơng pháp sau:
- Giá trị hiện tài ròng (NPV)
- Tỷ suất nội hoàn (IRR)
- Thời gian hoàn vốn (pp)
- Điểm hoà vốn.
- Tỷ số lợi ích - chi phí (bcr).
Để sử dụng các phơng pháp trên ta cần hiểu rõ các khái niệm sau:
Giá trị thời gian của tiền:
Tiền có giá trị thời gian không giống nhau ở các thời điểm khác nhau.
Một đồng tiền có đợc ở hiện tại đợc coi là có giá trị cao hơn cùng một đồng tiền
đó nhận đợc trong tơng lai để đầu t có lãi hay tiêu dùng trong khoảng thời gian
giữa hiện tại và tơng lai. Do đó, ngời ta sẵn sàng đi vay để có thể sử dụng đợc
vốn, còn ngời cho vay đòi hỏi phải đợc trả lãi.
Lãi kép:
Là phơng pháp tính lãi trong đó lãi của kỳ trớc đợc nhập vào gốc để tính
lãi tiếp cho kỳ sau:
FV = PV ( 1 + r )
n
Trong đó:
PV: giá trị hiện tại (vốn ban đầu).
10
FV: giá trị tơng lai (số tiền thu đợc).
n: số kỳ tính lãi
r : lãi suất.
Chiết khấu:
Trong các dự án đầu t việc thu đợc lợi ích và bỏ các chi phí thờng xảy ra
vào các giai đoạn khác nhau. Vì đồng tiền có giá trị thời gian, nên để có thể so
sánh chi phí và lợi ích xảy ra ở các khoảng thời gian khác nhau, chúng cần phải
quy đổi đồng tiền ở các thời điểm về cùng một thời điểm hoặc về hiện tại, hoặc
về tơng lai, hoặc về bất kỳ một thời điểm nào đó thông qua một hệ số quy đổi.
Hệ số này gọi là hệ số chiết khấu và nó phụ thuộc vào tỷ lệ chiết khấu một
thông số biểu hiện sự giảm giá trị của dòng tiền theo thời gian.
Hệ số chiết khấu =
1
( 1+ r)
t - x
Trong đó:
r: tỷ lệ chiết khấu
t: năm thứ t của dự án
x: năm đợc chọn làm mốc quy đổi (thờng = 0).
1.2.1 Phơng pháp giá trị hiện tại ròng (Net Present Value - NPV).
Giá trị hiện tại ròng của một dự án đầu t là số chênh lệch giữa giá trị hiện
tại của các luồng tiền kỳ vọng trong tơng lai với giá trị hiện tại của các chi phí
của dự án đầu t.
Có thể biểu diễn bằng phơng trình sau
Trong đó:
B1,B2 Bn: luồng thu nhập của các thời kỳ.
C1, C2 Cn: luồng chi phí của các thời kỳ.
t: năm thứ t của dự án.
r: tỷ lệ chiết khấu
Co vốn đầu t
n: thời gian hoạt động của dự án.
Xác định chính xác tỷ lệ chiết khấu của từng dự án đầu t là một việc làm
không đơn giản. có thể hiểu tỷ lệ chiết khấu là phần lợi nhuận thích hợp bù đắp
11
=
+
+=
n
t
t
r
CtBt
CoNPV
1
)1(
)(
rủi ro. Rõ ràng là khi mức rủi ro của dự án bằng với mức rủi ro của doanh
nghiệp và chính sách tài trợ của doanh nghiệp phù hợp với dự án, thì tỷ lệ chiết
khấu thích hợp bằng với chi phí trung bình của vốn (wacc).
ở công thức trên tỷ lệ chiết khấu là r không thay đổi trong suốt thời gian
dự án. Tuy nhiên điều này không nhất thiết phải nh vậy. Giả sử vốn vào thời
điểm hiện này là rất khan hiếm so với trớc đây. Trong những tình huống nh vậy,
ta sẽ thấy rằng chi phí của vốn vào thời điểm hiện tại sẽ cao một cách bất bình
thờng và nh vậy tỷ lệ chiết khấu theo thời gian sẽ giảm dần trong lúc cung và
cầu của vốn trở về mức bình thờng. Ngợc lại, nếu hiện tại có nhiều tiền vốn,
chúng ta dự kiến chi phí của vốn và tỷ lệ chiết khấu sẽ xuống thấp hơn mức
trung bình dài hạn. trong trờng hợp này, chúng ta có lẽ dự kiến tỷ lệ chiết khấu
sẽ tăng lên trong khi cung cầu vốn dần quay trở về xu hớng dài hạn.
Nếu có lí do để tin rằng tỉ lệ chiết khấu thay đổi một cách có thể dự đoán
trớc đợc thì giá trị hiện tại ròng của một dự án tính nh sau:
NPV = -Co +
B1- c1
1+r
1
+
B2-C2
(1+r
1
)(1+r
2
)
+
Bn-Cn
(1+r
1
)(1+r
2
) (1+r
n
)
trong đó: r
1
,r
2
,r
3
rn : là tỷ lệ chiết khấu các năm tơng ứng.
Nguyên tắc sử dụng phơng pháp NPV làm tiêu chuẩn đầu t.
Trong trờng hợp dự án đầu t cần đánh giá độc lập so với các dự án khác
thì chấp thuận hay bác bỏ dự án đó tuỳ thuộc vào giá trị của NPV. Có 3 khả
năng có thể xảy ra:
NPV > 0 chấp thuận dự án
NPV < 0 loại bỏ dự án.
NPV = 0 doanh nghiệp sẽ không thiên vị trong việc chấp thuận
hay loại bỏ dự án mà tuỳ theo sự cần thiết của nó đối với doanh nghiệp mà ra
Quyết định.
Trong trờng hợp dự án đầu t bị hạn chế bởi ngân sách, nguồn tài trợ.
Trong giới hạn một ngân sách đã đợc ấn định cần lựa chọn trong số các dự án
hiện có nhóm dự án nào có thể tối đa hoá giá trị hiện tại ròng.
NPV = NPV1 + NPV2 + = Max giới hạn ngân sách.
NPV: giá trị hiện tại ròng tối đa của nhóm dự án lựa chon.
NPV1, NPV2 giá trị hiện tại ròng của dự án 1, dự án 2
Trong trờng hợp lựa chọn một trong sốdự án loại trừ nhau. Trong tình
huống không bị giới hạn bới ngân sách, nhng ta phải lựa chọn một dự án trong
số các dự án loại trừ nhau, ta luôn chọn dự án sinh ra giá trị hiện tại ròng lớn
nhất: Max ( NPV1, NPV2 NPVn).
u điểm của phơng pháp NPV:
12
- NPV đo lờng trực tiếp phần lợi nhuận mà dự án đóng góp vào tài sản
của chủ đầu t.
- Sử dụng chi phí cơ hội về sử dụng vốn làm tỷ lệ chiết khấu.
- NPV giả định rằng những khoản thu nhập tạm thời đợc tái đầu t với tỷ
lệ tối đa hoá lợi nhuận của chủ đầu t.
- Quyết định chấp thuận hay từ chối và xếp hạng dự án phù hợp với
mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cuả chủ đầu t.
Nhợc điểm của phơng pháp NPV:
- Không thể so sánh đợc các dự án nếu thời gian của chúng khác nhau.
- Phụ thuộc vào cách lựa chọn r tỷ lệ chiết khấu.
- NPV chỉ cho thấy giá trị tuyệt đối của lợi nhuận mà không cho thấy tỷ
lệ phát sinh của dự án, do đó sẽ có thể bỏ qua những dự án có tỷ lệ
sinh lời cao.
- Tất cả các khoản tiền này lại xảy ra trong suốt các kỳ.
1.2.2. Ph ơng pháp tỷ suất nội hoàn ( Internal Rate of Return - IRR )
Phơng pháp tỷ suất nội hoàn nội bộ (IRR) là phơng pháp xếp hạng các dự
án đầu t sử dụng tỷ lệ lãi suất đối với một khoản đầu t tài sản. Trong đó tỉ lệ lãi
suất này đợc tính bằng cách tìm một tỷ lệ chiết khấu mà nó làm cân bằng giá trị
hiện tại của những luồng tiền tơng lai và chi phí đầu t.
Về phơng diện tính toán IRR của một dự án là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó
NPV = 0
Ta có phơng trình dùng để tính toán IRR.
=
+
+ 0
1 IRR
CtBt
C
Trong đó
IRR: tỷ suất nội hoàn (cần xác định).
Co : vốn đầu t ban đầu
Bt thu nhập trong năm t
Ct : chi phí trong năm t
n: thời gian phân tích dự án.
Việc giải phơng trình trên theo một phơng pháp toán học nào đó là hết
sức khó khăn (trờng hợp n lớn) nhiều khi là không thực hiện đợc, để xác định
IRR một cách tơng đối chính xác ta có thể sử dụng phơng pháp nội suy, kết quả
nh sau:
IRR =
( )
21
1
121
NPVrNPVr
NPVr
xrrr
+
13
Trong đó :
r
1
,r
2
là lãi suất chiết khấu tơng ứng của NPVr
1
, NPVr
2
với điều kiện:
- r
1
< r
2
- Npvr
1
, NPVr
2
< 0 và NPVr
1
, NPVr
2
rất gần 0.
Nguyên tắc sử dụng IRR làm tiêu chuẩn đầu t:
-Trờng hợp các dự án đầu t là độc lập về mặt kinh tế, quy tắc áp dụng để
các Quyết định đầu t nh sau:
IRR > chi phí cơ hội của vốn chấp nhận dự án.
IRR < chi phí cơ hội của vốn bác bỏ dự án.
IRR = chi phí cơ hội của vốn tuỳ theo những yêu cầu khác đối
với dự án, chủ dự án có thể chấp nhận hay bác bỏ.
-Trờng hợp các dự án loại trừ nhau thì chúng ta chọn dự án có IRR cao
nhất. Tuy nhiên nếu IRR cao nhất nhỏ hơn tỷ lệ sinh lời cần thiết của dự án
(hay chi phí cơ hội của vốn) thì không dự án nào trong các dự án đó không đợc
chấp nhận.
u điểm của phơng pháp IRR:
- Đo lờng bằng tỉ lệ phần trăm, nên dễ dàng so sánh với chi phí sử dụng
vốn, nó chỉ rõ tỷ lệ lãi vay tối đa mà dự án có thể chịu đựng đợc. Không có ph-
ơng pháp nào khác để cung cấp thông tin quan trọng nh vậy và đây chính là u
điểm rất quan trọng của tiêu chuẩn IRR.
- Tỷ suất nội hoàn là một tiêu chuẩn hay đợc sử dụng để mô tả tính hấp
dẫn của dự án đầu t, vì đó là một tiêu chuẩn hữu ích để tổng kết tính doanh lợi
của dự án. Quyết định chấp thuận hay từ chối của cổ đông.
- Trong một số trờng hợp, nó cho phép tránh đợc nhữngkhó khăn khi phải
xác định trớc lãi suất thích hợp.
Nhợc điểm của phơng pháp IRR:
- Việc áp dụng tiêu chuẩn này có thể không chắc chắn nếu tại các khoản
cân bằng thu chi thực âm đáng kể trong giai đoạn vận hành của dự án, tứcl à
đầu t thay thế lớn hơn.
- Tỷ suất này sẽ không còn tin cậy khi dùng để lựa chọn dự án mang tính
loại trừ nhau với các khoản đầu t có quy mô khác nhau, có đời hữu dụng khác
nhau.
- Không đo lờng trực tiếp ảnh hởng của một dự án đối với lợi nhuận của
cổ đông.
- Dễ tạo ra sự ngộ nhận rằng thu nhập của dự án có thể đợc tái đầu t với
tỷ lệ sinh lời bằng IRR
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét