Quản lý vốn cố dịnh bao gồm quản lý cả về mặt hiện vật và giá trị. Về mặt hiện
vật, vốn cố định bao gồm toàn bộ những tài sản cố định đang phát huy tác dụng
trong quá trình sản xuất (nhà xưởng, thiết bị máy móc…) vốn cố định tham gia trực
tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh. Sau mỗi chu kỳ hình thái hiện vật của vốn
cố định không thay đổi nhưng giá trị giảm dần do giá trị của vốn cố định được
chuyển dần vào giá trị của sản phẩm dưới hình thức khấu hao
1.1.2.2.Cơ cấu vốn cố định.
Việc nghiên cứu vốn cố định có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình
quả lý và sử dụng vốn. Khi nghiên cứu vốn cố đinh phải nghiên cứu trên hai góc
độ: nội dung cấu thành và mối quan hệ tỷ lệ trong mỗi bộ phận so với toàn bộ. Vấn
dề cơ bản là phải xây dựng được một cơ cấu vốn hợp lý phù hợp trình độ phát triển
khoa học kỹ thuật, đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất, trình độ quản lý để các
nguồn vốn được sử dụng hợp lý và có hiệu quả nhất. Cần lưu ý rằng quan hệ tỷ
trọng trong cơ cấu vốn là chỉ tiêu động, điều này đòi hỏi cán bộ quản lý phải không
ngừng nghiên cứu tìm tòi để có được cơ cấu vốn tối ưu.
Theo chế độ hiện hành, vốn cố định của doanh nghiệp được biểu hiện thành
hình thái giá trị của các loại tài sản cố định sau đây đang dùng trong quá trình
sản xuất:
- Nhà cửa vật đang dùng cho các phân xưởng sản xuất và quản lý.
- Vật kiến trúc để phục vụ sản xuất và quản lý.
- Thiết bị động lực.
- Hệ thống chuyền dẫn.
- Máy móc, thiết bị sản xuất.
- Dụng cụ làn việc, đo lường, thí nghiệm
- Thiết bị phương tiện vận tải
- Dụng cụ quản lý
- Tài sản cố định khác dùng vào sản xuất công nghiệp
5
Trong cơ cấu phải đặc biệt chú ý đến mối quan hệ giữa các bộ phận vốn cố
định được biểu hiện bằng máy móc thiết bị và bộ phận vốn cố định được biểu hiện
bằng nhà xưởng, vật kiến trúc phục vụ sản xuất
Cơ cấu vốn cố định chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố trong đó chủ yếu là đặc
điểm về kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp, điều kiện địa lý tự nhiên, sự phân bố
sản xuất. Vì vậy, khi nghiên cứu để xây dựng và cải tiến cơ cấu vốn cố định hợp lý
cần xem xét tác động ảnh hưởng của các nhân tố này
1.1.3. Vốn lưu động .
1.1.3.1 Khái niệm và đặc điểm .
Vốn lưu động là một bộ phận của vốn sản xuất, là toàn bộ biểu hiện bằng
tiền của tài sản lưu động và vốn lưu thông dể dảm bảo cho quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường .
Vốn lưu động tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, qua mỗi chu kỳ sản
xuất, vốn lưu động chuyển qua nhiều trạng tháikhác nhau (tiền, đối tượng lao động,
sản phẩm dở dang, thành phẩm và cuối cùng lại trở về tiền). Khác với vốn cố định,
vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm sau mỗi chu kỳ sản xuất. Quá
trình vận động của vốn lưu động thể hiện dưới 2 hình thức : hiện vật và giá trị .
* Về mặt hiện vật :vốn lưu động gồm nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang,
bán thành phẩm, thành phẩm…
Về mặt giá trị, vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền giá trị của nguyên vật
liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, giá trị tăng thêm do việc sử dụng lao động sống
trong quá trình sản xuất và những chi phí bằng tiền trong lĩnh vực lưu thông. Sự lưu
thông về mặt giá trị và hiện vật được thể hiện bằng công thức: T- H- sản xuất -H’-
T’.
Trong quá trình vận động, biến đổi từ hình thái này sang hình thái khác, sau
đó chở về hình thái ban đầu. Một vòng khép kín đó là một chu kỳ vận động của
vốn lưu động, nó là cơ sở để đánh giá hiệu quả sản suất kinh doanh và hiệu quả sử
dụng vốn. Vì vậy, doanh nghiệp thường tìm cách rút ngắn chu kỳ vận động của
vốn.
6
1.1. 3.2. Cơ cấu của vốn lưu động.
Xác định cơ cấu vốn lưu động hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong công tác quả
lý vốn lưu động. Nó đáp ứng yêu cầu về vốn cho từng khâu, từng bộ phận, đảm bảo
cho việ sử dụng tiết kiệm, hợp lý vốn lưu động trên cơ sở đó đáp ứng được yêu cầu
sản suất kinh doanh trong điều kiện thiếu vốn cho sản xúât.
Cơ cấu vốn lưu động là tỷ lệ giữa các bộ phận cấu thành vốn lưu động và
mối quan hệ giữa các bộ phận đó. Tỷ lệ giữa các bộ phận trong toàn bộ vốn lưu
động hợp lý thì chỉ hợp lý tại một thời điểm nào đó. Vì vậy trong quản lý phải
thường xuyên nghiên cứu xây dựng một cơ cấu vốn thích hợp, đáp ứng yêu cầu sản
xuất trong từng thời kỳ, đánh giá cơ cấu về mặt giá trị của từng bộ phận vốn lưu
động hay tổng vốn lưu động. Để thuân lợi cho việc quản lý, người ta thừng phân
loại vốn lưu động bằng một số cách sau.
Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và luân chuyển của vốn lưu động:
. Vốn dự trữ: là loại vốn dùng để mua nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế, dự
trữ để đưa vào sản xuất.
Vốn trong sản xuất: là loại vốn phục vụ trực tiếp cho giai đoạn sản xuất như
sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, chi phí chờ phân bố…
Vốn lưu thông : là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai đoạn lưu thông
như thành phẩm, vốn bằng tiền …
Căn cứ vào phương pháp xác định :
* Vốn định mức là vốn lưu động mức tối thiểu cần thiết cho sản xuất kinh
doanh, bao gồm vốn dự trữ vốn trong sản xuất, sản phẩm trong hàng hoá ngoài
dùng cho tiêu thụ sản phẩm, vật tư thuê ngoài chế biến…
* Vốn lưu thông không định mức: là vốn lưu thông có thể phát sinh trong
quá trình sản xuất nhưng không có căn cứ tính toán xác định như thành phẩm trong
đường gửi đi …
Căn cứ vào nguồn vốn lưu động :
7
* Vốn lưu động tự bổ sung : là vốn lưu động mà doanh nghiệp tự bổ sung lợi
nhuận, các khoản tiền phải trả như tiền lương, tiền nhà …
* Vốn lưu động do NSNN cấp : là vốn mà doanh nghiệp được Nhà nước giao
cho quyền sử dụng trong hoạt động sản xuât kinh doanh. Doanh nghiệp có trách
nhiệm bảo toàn và phát triển số vốn được giao này.
* Vốn liên doanh : là vốn mà doanh nghiệp nhận liên doanh với các đơn vị
khác, vốn này có thể bằng tiền hoặc bằng hiện vật .
* Vốn tín dụng : là vốn mà doanh nghiệp vay Ngân hàng
* Vốn vay các đối tượng khác.
Căn cứ vào cách phân loại trên của vốn lưu động mà doanh nghiệp có cơ sở
xác định vốn lưu động cần thiêt, làm cơ sở để huy động vốn từ nhiều nguồn khác
nhau nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh.
1.2. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN
1.2.1. Quan niệm về hiệu quả sử dụng vốn .
Đây là vấn đề đặt ra mọi doanh nghiệp đều phải quan tâm một cách thoả
đáng. Từ những cách huy động vốn khác nhau doanh nghiệp cần phải nghiên cứu
và chọn cho mình những cách thức phu hợp. Đi đôi với việc sử dụng vốn có hiệu
quả thì doanh nghiệp mới thu được hiệu quả kinh doanh cao .
Thông thường vốn trong doanh nghiệp được chia làm 2 loại : vốn cố định và
vốn lưu động. Tuỳ theo mỗi doanh nghiệp, mỗi loại hình kinh doanh mà cơ cấu
vốn hai loại này khác nhau. Vốn cố định dùng để đầu tư dài hạn (mua sắm, lắp đặt,
xây dựng các loại tài sản hữu hình và vô hình ) và các hoạt động kinh doanh thường
xuyên sản xuất các sản phảm hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp. Vốn lưu động
dùng để đầu tư tài sản lưu động, mua sắm nguyên vật liệu trả tiền cho cán bộ công
nhân viên …
Vấn đề sử dụng vốn có hiệu quả hay không, người ta dựa vào mức độ đạt được
của mục đề ra.
8
- Nhóm các mục tiêu kinh tế.
- Nhóm các mục tiêu xã hội.
Cả hai nhóm mục tiêu này xét đến cùng vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy xét về
lợi nhuận kinh tế. Thì lợi nhuận cực đại là bao trùm và tổng quát nhất. Tuy nhiên
theo từng giai đoạn mà doanh nghiệp có một hoặc một số mục tiêu khác nhau.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn vốn, nguồn lực… của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong quá
trình kinh doanh với tổng chi phí thhấp nhất.
Để đánh giá chính xác có cơ sở khoa học hiêu quả kinh doanh của doanh
nghiệp, cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêuphù hợp, cả chỉ tiêu tổng hợp và chỉ
tiêu chi tiết. Các chỉ tiêu đó phải phản ánh được sức sản xuất, suất hao phí và sức
sinh lời của từng loại vốn.
Công thức đánh giá hiệu quả chung:
Kết quả đầu ra
Yếu tố đầu vào
Hiệu quả kinh doanh =
Kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như: giá trị tổng sản lượng, tổng
doanh thu thuần, lợi nhuận thuần, lợi tức gộp…, còn yếu tố đầu vào bao gồm lao
động, vốn chủ sở hữu và vốn vay…
Công thức này phản ánh mức sản xuất (hay mức sinh lợi) của các chỉ tiêu
đầu vào, đựơc tính cho tổng số và cho riêng phần ra tăng.
Hiệu quả kinh doanh còn được tính theo công thứcsau:
Chi phí đầu vào
Kết quả đầu ra
Hiệu quả kinh doanh =
9
Công thức này phản ánh xuất hao phí của các chỉ tiêu đầu vào, nghĩa là để có
một đơn vị kết quả đầu ra thì hao phí hết mấy đơn vị chi phí (hoặc vốn) ở đầu vào.
1.2.2.1-Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả dụng vốn cố định.
Hiệu quả sử vốn cố định được đánh giá bằng nhiều chỉ tiêu, nhưng phổ biến là
các chỉ tiêu sau đây:
Doanh thu (hoặc thu thuần) trong kỳ
- Hiệu suất sử dụng =
vốn cố định Số vốn cố định bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định có thể tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ.
Lợi nhuận thuần
- Tỷ suất lợi nhuận =
vốn cố định Số vốn cố định bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một tầng vốn cố định trong kỳcó thể tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế thu nhập).
Số vốn cố định bình quân tropng kỳ
Hàm lượng =
vốn cố định Doanh thu (hoặc doanh thu thuần trong kỳ)
Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu hoặc doanh thu thần cần
bao nhiêu đồng vốn cố định.
Doanh thu (hoặc doanh thu thuần trong kỳ)
- Hiệu suất sử dụng =
tài sản vốn cố định Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
Phản ánh một đồng tài sản cố định trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh
thu hoặc doanh thu thuần.
1.2.2.2-Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả dụng vốn lưu động.
Hiệu quả chung về sử dụng vốn lưu động được phản ánh qua các chỉ tiêu
như:
10
Tổng doanh thu thuần
- Hiệu quả sử dụng =
vốn lưu động Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có thể tạo ra bao nnhiêu đồng
doanh thu thuần.
Lợi nhuận thuần
Mức doanh lợi =
vốn lưu động Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận trong kỳ.
Như chúng ta đã biết trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động vận
động không ngừng, thường xuyên qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất (dự
trữ - sản xuất – tiêu thụ). Đẩy nhanh tốc độ của vốn lưu động sẽ góp phần giải
quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Để xác định tốc độ luân chuyển của vốn lưu động, người ta thường sử dụng các chỉ
tiêu sau:
Tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ
Số vòng quay của =
vốn lưu động vốn lưu động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ, nếu số vòng
quay tăng, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại.
360 ngày
Kỳ luân chuyển =
Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện, số ngày càn thiết cho vốn lưu động quay được một
vòng. Thời gian một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn.
Hiệu quả sử dụng vốn càng cao, số vốn tiết kiệm được càng nhiều.
Vốn lưu dộng bình quân trong kỳ
Hiệu quả đảm nhiệm =
vốn lưu động Tổng doanh thu thuần
11
Qua chỉ tiêu này ta biết được để có được một đồng luân chuyển thì cần mấy
đồng vốn lưu động.
1.2.2.3. Phân tích khả năng sinh lợi của vốn.
Ngoài việc xem xét hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh dưới góc độ sử dụng vốn
cố định và vốn lưu động, khi phân tích, cần xem xét cả hiệu quả sử dụng vốn dưới
góc độ sinh lợi. Để đánh giá khgả năng sinh lợi của vốn, người ta thường dùng chỉ
tiêu sau:
Lợi nhuận
Hệ số doanh lợi của =
Vốn kinh doanh Vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn kinh doanh đem lại mấy đồng lợi nhuận.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
1.2.3.1. Môi trường kinh doanh.
Doanh nghiệp kinh doanh trong môi trường thế nào thì phải thích ứng với môi
ttrường đó. Môi trường kinh doanh thuận lợi (giao thông vận tải phát triển, khả
năng thanh toán nhanh chóng…), sẽ làm cho doanh nghiệp ít cần dự trữ các loại
nguyên vật liệu, hàng bán thu được tiền nhanh, như vậy sẽ làm giảm nhu cầu về
vốn lưu động. Nếu kinh doanh trong môi trường mà đất hoặc bất động sản cho thuê
theo hợp đồng phát triển thì doanh nghiệp cũng có thể tiết kiệm được khá nhiều vốn
cố định. Môi trường cạnh tranh cũng chỉ ảnh hưởng lớn tới việc doanh nghiệp sử
dụng vốn ra sao. Nếu doanh nghiệp có rất nhiều đối thủ cạnh tranh thì sẽ phải áp
dụng các biện pháp ưu đãi cho khách hàng (hạ giá, chiết khấu bán hàng trả
chậm…), nhằm giành lấy thị phần, những biện pháp này tiêu tốn một lượng vốn
khá lớn, nhiều công ty đã phá sản khi nguồn vốn của mình không đủ đáp ứng cho
việc theo đuổi cạnh tranh
1.2.3.2 Loại hình kinh doanh.
12
Khi nhìn vào loại hình kinh doanh của một doanh nghiệp, ta có thể hiểu được
nó sử dụng vốn như thế như nào. Các doanh nghiệp sản xuất (nhất là công nghiệp
nặng), thường yêu cầu chiếm một lượng vốn cố định chiếm tỷ trọng lớn. Những
doanh nghiệp chế tạo máy lại thường xuyên yêu cầu một lượng vốn dự trữ hàng
hoá (do sản phẩm của họ không phải lúc nào cũng được tiêu thụ liên tục). Các
doanh nghiệp sản xuất hay kinh doanh sản phẩm nông nghiệp thì có đặc trưng rõ
nét là nhu cầu vốn thay đổi theo mùa. Các doanh nghiệp công nghiệp nhẹ thì nguồn
vốn lưu động chiếm một vai trò quan trọng và nhu cầu thường ổn định theo thời
gian.
1.2.3.3. Quy mô doanh nghiệp.
Hiển nhiên là doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì lượng vốn cần thiết cho nó
càng nhiều. Tuy nhiên vốn được sử dụng như thế nào lại biến đổi theo quy mô
doanh nghiệp. Những doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn được sử dụng chủ yếu phục vụ
trực tiếp cho sản xuất ra sản phẩm. Khi quy mô doanh nghiệp lớn dần thì tỷ trọng
vốn giành cho bộ phận gián tiếp và các hoạt động phí sản xuất cũng tăng theo,
nhiều công ty lớn trên thế giới đã đầu tư một khoản chi phí đáng kể cho tiếp thị,
quảng cáo. Nếu chỉ xét riêng tới bộ phận sản xuất sản phẩm thì việc tăng quy mô
đồng nghĩa với tăng hiệu quả sử dụng vốn. Việc tăng quy mô của dự trữ hay bán
thành phẩm, đẩy nhanh tốc độ khấu hao tới sử dụng vốn có hiệu quả hơn.
1.2.3.4. Chính sách kinh doanh.
Hơn ai hết chính bản thân doanh nghiệp chính là người quyết định vốn của mình
sẽ được sử dụng vốn như thế nào. Để thâm nhập vào một thị trường lớn hay để gia
tăng thị phần trong thị trường truyền thống, một Công ty có thể tung ra một lượng
vốn để quảng cáo, tiếp thị. Bán chịu hay phá giá sản phẩm của mình. Nhiều doanh
nghiệp đã sẵn sàng chịu những khoản lỗ đáng kể để giành được thị trường. Hiện
tượng này đã diễn ra ở nhiều nơi, trong đó có Việt Nam, chiến thắng cuối cùng sẽ
thuộc về ai nhiều vốn hơn. Ngược lại nếu mục đích của doanh nghiệp là nâng cao
lợi nhuận, thì doanh nghiệp sẽ xem sét toàn bộ các khsâu từ đầu vào tới đầu ra để
có thể nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn của mình lên mức tối đa. Doanh nghiệp
cũng có thể sử dụng đòn bẩy tài chính (dùng vốn vay kết hợp với vốn tự có) để tối
đa hoá tỷ suất lợi nhuận cho lượng vốn của mình bỏ ra.
13
PHẦN II:
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN Ở CÔNG TY GIỐNG VẬT
TƯ NÔNG LÂM NGHIỆP TUYÊN QUANG.
2.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY
2.1.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty Giống vật tư Nông lâm nghiệp Tuyên Quang là một doanh nghiệp
nhà nước, được thành lập theo quyết định số 448 ngày 29/6/120065 của Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Công ty được thành lập trên cơ sở sát nhập 2 doanh nghiệp:
- Công ty giống vật tư cây trồng.
- Công ty giống thức ăn gia súc.
Trụ sở của Công ty: Tổ 7 phường Tân Quang - thị xã Tuyên Quang là doanh
nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có tài
khoản tại Ngân hàng, có con dấu riêng.
Công ty hoạt động theo kế hoạch và định hướng của nhà nước, đồng thời thực hiện
chế độ tự chủ trong kinh doanh, lấy thu nhập bù đắp chi phí và có lợi nhuận.
Vốn và tài sản của doanh nghiệp được hình thành chủ yếu từ các nguồn:
Ngân sách nhà nước, nguồn vốn viện trợ và nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung.
Giám đốc doanh nghiệp do nhà nước bổ nhiệm, phải chịu trách nhiệm trước nhà
nước và doanh nghiệp bảo vệ và phát triển vốn - tài sản được giao theo quyết định
hiện hành của nhà nước.
Nhiệm vụ chủ yếu của Công ty là:
- Tổ chức mạng lưới cung ứng vật tư nông nghiệp bao gồm: Giống cây, con,
phân bón, thuốc trừ sâu, nông cụ, thức ăn gia súc, vật tư chăn nuôi thú y… từ tỉnh
đến các huyện, các xã và dịch vụ tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp cho nông dân.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét