Xây dựng thương hiệu cho gạo đặc sản Điện Biên theo chỉ dẫn địa lý
II. Thương hiệu sản phẩm
12
1. Thành phần của thương hiệu sản phẩm
12
1.1 Thành phần chức năng
12
1.2 Thành phần cảm xúc
12
2. Quá trình xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm
13
3. Tác dụng của việc xây dựng thương hiệu sản phẩm
16
3.1 Với doanh nghiệp
16
3.2 Với người tiêu dùng
17
III. Chỉ dẫn địa lý
19
1. Sự phát triển CDĐL và TGXX trên thế giới
19
1.1 Giới thiệu chung
19
SV Nguyễn Thị Huyền Trang – CQ483041 Kinh tế phát triển 48B
5
Xây dựng thương hiệu cho gạo đặc sản Điện Biên theo chỉ dẫn địa lý
1.2 CDĐL và Hiệp định TRIPS
20
2. Thể chế và chính sách của Việt Nam về CDĐL và TGXX
22
2.1 CDĐL và TGXX trong các quy định về thể chế của Việt Nam
22
2.2 Quy trình xây dựng CDĐL và TGXX
23
IV. Kinh nghiệm trong xây dựng và bảo hộ CDĐL cho sản phẩm
28
1. Trên thế giới
28
1.1 Thái Lan với tiến trình sử dụng quy định về CDĐL
28
1.2 Kinh nghiệm xây dựng CDĐL cho cà phê chè ở Indonexia
30
2. Ở Việt Nam
33
2.1 Xây dựng và bảo hộ sản phẩm chè Shan Tuyết Mộc Châu
33
2.2 Xây dựng CDĐL gạo Tám xoan Hải Hậu
34
Phần II. Thực trạng xây dựng thương hiệu gạo đặc sản Điện Biên
SV Nguyễn Thị Huyền Trang – CQ483041 Kinh tế phát triển 48B
6
Xây dựng thương hiệu cho gạo đặc sản Điện Biên theo chỉ dẫn địa lý
36
I. Đặc điểm cơ bản địa bàn nghiên cứu
36
1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên
36
2. Tình hình kinh tế xã hội
45
II. Thực trạng sản xuất và phân phối gạo đặc sản Điện Biên
49
1. Thực trạng sản xuất lúa
49
2. Tình hình sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao
51
3. Thực trạng phân phối và tiêu thụ gạo đặc sản
52
III. Cơ sở xây dựng thương hiệu gạo đặc sản Điện Biên
55
1. sự cần thiết xây dựng thương hiệu gạo đặc sản Điện Biên
55
2. Cơ sở xây dựng thương hiệu gạo đặc sản Điện Biên
57
IV. Điều kiện xây dựng thương hiệu gạo Điện Biên theo CDĐL
SV Nguyễn Thị Huyền Trang – CQ483041 Kinh tế phát triển 48B
7
Xây dựng thương hiệu cho gạo đặc sản Điện Biên theo chỉ dẫn địa lý
59
1. Điều kiện về sản phẩm
59
2. Điều kiện chính quyền địa phương
60
V. Các thủ tục tiến hành xây dựng thương hiệu gạo Điện Biên
65
1. Xác định chủ thể
65
2. Xác định bộ hồ sơ
65
3. Tiến hành các thủ tục nộp đơn và theo đuổi đơn
67
VI. Những vấn đề còn tồn tại trong xây dựng thương hiệu gạo Điện Biên
68
1. Khung thể chế và pháp lý chưa hoàn thiện
68
2. Sự hiểu biết về CDĐL và TGXX còn hạn chế
69
3. Chưa có sự thống nhất về vai trò, trách nhiệm của các bộ ngành có liên quan
70
4. Vai trò của Hiệp hội, nghiệp đoàn trong xây dựng thương hiệu còn mờ nhạt
SV Nguyễn Thị Huyền Trang – CQ483041 Kinh tế phát triển 48B
8
Xây dựng thương hiệu cho gạo đặc sản Điện Biên theo chỉ dẫn địa lý
70
Phần III. Giải pháp
72
1. Hoàn thiện khung pháp lý của nhà nước về CDĐL
72
2. Nâng cao sự hiểu biết về TGXX và CDĐL
73
3 Phân rõ vai trò, trách nhiệm của các bộ ngành có liên quan
73
4 Tiến tới xây dựng Hiệp hội sản xuất gạo Điện Biên, nâng cao vai trò của người
nông dân
58
5 Một số giải pháp khác
59
Tài liệu tham khảo
61
SV Nguyễn Thị Huyền Trang – CQ483041 Kinh tế phát triển 48B
9
Xây dựng thương hiệu cho gạo đặc sản Điện Biên theo chỉ dẫn địa lý
Lời nói đầu
Ngày nay, người tiêu dùng luôn nhìn thấy các nhãn hiệu trong quá trình mua
bán các sản phẩm. Trong xã hội hiện đại nếu không có nhãn hiệu người tiêu dùng sẽ
mất định hướng trong tiêu dùng, khó chọn lựa các mặt hàng mà mình tin tưởng hoặc
theo nhu cầu. Những sản phẩm sản xuất tại những địa danh nổi tiếng, người mua
hàng hoàn có thể tin cậy vào sản phẩm mang nhãn hiệu đó. Sự hình thành tên gọi
của nông sản đặc sản đó gắn liền với địa danh vùng sản xuất nguyên liệu và được
giới hạn bởi ranh giới của một lãnh thổ (có thể là một xã, nhiều xã, nhiều huyện )
mà ở đó có những điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu đặc biệt hoặc rất có thể do những
tập quán kỹ thuật canh tác khác biệt đã tạo nên chất lượng sản phẩm có sự khác biệt
và trở thành những nông sản đặc sản nổi tiếng.
Những sản phẩm nổi tiếng ngày càng bị đối mặt với những thách thức nhằm
bảo vệ quyền lợi thuộc về quyền sở hữu trí tuệ; và đặc biệt hơn, những kiến thức
truyền thống và tài nguyên của "tác giả" phải chống lại sự bắt trước, nhái lại sản
phẩm; quyền lợi của người sản xuất không được bảo vệ, người tiêu dùng bị lừa gạt
bởi những sản phẩm giả danh, kém chất lượng.
Gạo Điện Biên là một trong những nông sản đặc sản mà hiện nay nhiều người
tiêu dùng trong nước biết đến. Tuy nhiên, cho đến nay thị trường tiêu thụ sản phẩm
gạo này không được ổn định, người tiêu dùng không được sử dụng sản phẩm gạo
đúng chất lượng thực sự. Điều này khiến người nông dân trồng lúa bị thua thiệt
nhiều trong sản xuất và danh tiếng bị ảnh hưởng.
SV Nguyễn Thị Huyền Trang – CQ483041 Kinh tế phát triển 48B
10
Xây dựng thương hiệu cho gạo đặc sản Điện Biên theo chỉ dẫn địa lý
Xuất phát từ vấn đề trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xây dựng
thương hiệu cho gạo đặc sản Điện Biên theo hình thức chỉ dẫn địa lý” với mong
muốn đề tài nghiên cứu sẽ góp phần khẳng định và nâng cao vị trí của sản phẩm đặc
sản này trên thị trường trong nước, xây dựng cơ sở khoa học cho việc đăng bạ tên
gọi xuất xứ, nhằm bảo hộ không chỉ những cho người sản xuất mà cho cả người tiêu
dùng.
Phần I. Cơ sở lý luận
I. Một số khái niệm cơ bản
1. Thương hiệu
Trước thập niên 80, khái niệm giá trị thương hiệu hoàn toàn xa lạ với giới kinh
doanh cũng như đối với những chuyên gia thẩm định giá trị doanh nghiệp. Bước
sang thập niên 80, sau hàng loạt các cuộc sáp nhập người ta bắt đầu nhận thức
được “Thương hiệu” là một loại tài sản đáng giá. Điều này được minh chứng
qua giá cả giao dịch của những vụ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp trên thị trường
thời bấy giờ, tập đoàn Nestlé đã mua Rowntree với giá gấp 3 lần giá trị của công ty
trên thị trường chứng khoán và gấp 26 lần lợi nhuận của công ty. Kể từ đó, quá trình
định hình giá trị thương hiệu ngày một rõ ràng hơn. Cho đến lúc này sự tồn tại của
giá trị thương hiệu trong thế giới kinh doanh là điều tất yếu. Các nhà quản trị cũng
như các chuyên gia đều phải thừa nhận rằng “Sức mạnh của Công ty không chỉ
đơn giản chứa đựng trong phương pháp chế biến, công thức hay quy trình công
nghệ riêng mà còn là cách làm sao cho mọi người trên thế giới muốn dùng”. Đó
chính là thương hiệu.
Có rất nhiều nhiều người nghĩ khả năng từ thương hiệu được dịch trực tiếp từ
tiếng Anh “Trade mark” (Trade – thương mại, mark - hiệu), nhưng đa số các doanh
nghiệp hiện nay họ dùng từ “Brand” để tạm dịch là Thương hiệu. Cho tới nay vẫn
còn có rất nhiều những quan điểm khác nhau về Thương hiệu.
Có người cho rằng Thương hiệu là nhãn hiệu, hoàn toàn không có gì khác với
nhãn hiệu. Thương hiệu chính là nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ, vì vậy được
pháp luật thừa nhận và có thể trao đổi mua bán được trên thị trường.
SV Nguyễn Thị Huyền Trang – CQ483041 Kinh tế phát triển 48B
11
Xây dựng thương hiệu cho gạo đặc sản Điện Biên theo chỉ dẫn địa lý
Một quan điểm khác cho rằng thương hiệu chính là tên thương mại, nó được
dùng cho doanh nghiệp (ví dụ Honda, Yamaha…). Theo quan niệm này thì Honda
là thương hiệu còn Future và Super Dream là nhãn hiệu hàng hoá. Nói như thế thì
Biti’s là gì? Panasonic là gì?.
Có quan điểm lại cho rằng Thương hiệu là thuật ngữ chỉ chung cho các đối
tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ như nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại,
chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hoá. Quan điểm này đến nay được nhiều
người ủng hộ, tuy nhiên một nhãn hiệu cũng có thể bao gồm cả phần tên gọi xuất xứ
và chỉ dẫn địa lý (ví dụ rượu vang Bordaux, kẹo dừa Bến Tre, lụa Hà Đông…) và
nhãn hiệu có thể được phân biệt trên cơ sở phần phân biệt trong tên thương mại (ví
dụ, Vinaconex được tạo nên từ tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng
Vinaconex…)
Theo quan điểm tổng hợp về thương hiệu: “Thương hiệu là một tập các thuộc
tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Các thành phần
marketing hỗn hợp (sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị) cũng chỉ là các thành
phần của một Thương hiệu” – Ambler & Styles.
Tóm lại, thương hiệu là tất cả các dấu hiệu có thể tạo ra một hình ảnh riêng
biệt và rõ nét của hàng hoá, dịch vụ hay cho chính doanh nghiệp trong tâm trí khách
hàng. Thương hiệu được tạo nên bởi nhiều yếu tố, bao gồm các yếu tố biểu hiện bên
ngoài: tên gọi, biểu tượng, hình tượng, tên gọi xuất xứ và chỉ dẫn địa lý …và các
yếu tố tiềm ẩn đằng sau (chất lượng hàng hoá, dịch vụ, cách phục vụ của doanh
nghiệp và những lợi ích đích thực đem lại cho người tiêu dùng từ hàng hoá, dịch vụ
đó). Đây là yếu tố quan trọng làm cho các dấu hiệu thương hiệu đi vào tâm trí khách
hàng, tạo nên uy tín thương hiệu.
2. Nhãn hiệu hàng hóa (NHHH)
Tại điều 785 Bộ Luật dân sự Việt Nam qui định Nhãn hiệu hàng hoá (NHHH)
như sau: nhãn hiệu hàng hoá là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ
cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hoá có thể
là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc
nhiều màu sắc, có tính phân biệt, dễ nhận biết và ghi nhớ: không trùng hoặc tương
tự với nhãn hiệu hàng hoá đã đăng ký hoặc nộp đơn trước đó và không thuộc các
SV Nguyễn Thị Huyền Trang – CQ483041 Kinh tế phát triển 48B
12
Xây dựng thương hiệu cho gạo đặc sản Điện Biên theo chỉ dẫn địa lý
dấu hiệu mà luật pháp không chất nhận làm nhãn hiệu. Dấu hiệu này được cá nhân,
pháp nhân chọn làm biểu tượng để đăng ký bảo hộ sở hữu theo qui định chi tiết tại
Điều 2 và 6 của Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 và được sửa đổi bổ sung tại
Nghị định số 6/2001/NĐ - CP ngày 01/02/2001 của Chính phủ.
Theo tổ chức Sở Hữu trí tuệ thế giới WIPO thì : “ Nhãn hiệu hàng hoá được
hiểu là một dấu hiệu đặc trưng để chỉ rõ một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó được
một cá nhân hay doanh nghiệp nhất định sản xuất hoặc cung cấp”.
Theo điều 15 Hiệp định về những khía cạnh liên quan đến thương mại của
quyền Sở hữu trí tuệ (TRIPS): “ Nhãn hiệu hàng hoá là bất kì một dấu hiệu hay tổ
hợp dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hay dịch vụ của một doanh
nghiệp với với hàng hoá dịch vụ của một doanh nghiệp khác.
Hiệp định thương mại Việt Mỹ có quy định cụ thể dấu hiệu có khả năng phân
biệt bao gồm từ ngữ, tên, hình chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc, các yếu tố hình dạng
của hàng hoá hoặc hình dạng của bao bì hàng hoá.
Ngày nay các yếu tố cấu thành nên nhãn hiệu hàng hoá được mở rộng, người
ta cho rằng bất kì một đặc trưng nào của sản phẩm tác động vào giác quan người
khác cũng có thể được coi là một phần của nhãn hiệu, miễn là chúng có tính phân
biệt.
Nhãn hiệu tập thể là dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm hoặc dịch vụ của
các thành viên thuộc một hiệp hội với sản phẩm hoặc dịch vụ của các cơ sở không
phải là thành viên.
Nhãn hiệu chứng nhận là loại nhãn hiệu dùng để chỉ ra rằng sản phẩm hoặc
dịch vụ mang nhãn hiệu đã được chủ nhãn hiệu chứng nhận về xuất xứ địa lý, vật
liệu sản xuất ra sản phẩm, phương pháp sản xuất ra sản phẩm, tiêu chuẩn thực hiện
dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, hoặc các phẩm chất khác.
Tên nhãn hiệu là bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể đọc được. Ví dụ: Nhãn
lồng Hưng Yên, Kẹo Kinh Đô, sữa Vinamilk…
Dấu hiệu nhãn hiệu là bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể nhận biết được
nhưng không đọc được, bao gồm các biểu tượng, hình vẽ, màu sắc,…ví dụ: logo,
biểu tượng con hổ của Tiger.
SV Nguyễn Thị Huyền Trang – CQ483041 Kinh tế phát triển 48B
13
Xây dựng thương hiệu cho gạo đặc sản Điện Biên theo chỉ dẫn địa lý
3. Tên gọi xuất xứ hàng hóa (TGXX)
Tên gọi xuất xứ hàng hoá (TGXX) được qui định tại điều 786 Bộ Luật dân sự:
Tên gọi xuất xứ hàng hoá là tên địa lý của một nước, một địa phương dùng để chỉ
xuất xứ của mặt hàng này có tính chất, chất lượng, đặc thù dựa trên các điều kiện
địa lý độc dáo và ưu việt bao gồm các yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả 2
yếu tố đó quyết định.
Trên cơ sở điều 786 Bộ Luật dân sự, tại Điều 7 của Nghị định số 63/CP ngày
24/10/1996 quy định: "Một tên giọi xuất xứ hàng hoá được bảo hộ phải là tên địa lý
của một nước hoặc một địa phương là nơi mà hàng hoá tương ứng được sản xuất và
hàng hóa đó phải có tính chất, chất lượng đặc thù do yếu tố địa lý (tự nhiên, con
người của nước, địa phương đó quyết định)".
4. Thị trường
Thị trường là một tập hợp những người mua hàng, bán hàng hiện có và sẽ có.
Theo Philip Kotler (2006), một nền kinh tế đơn giản gồm 4 thành phần: một ngư
dân, một thợ săn, một thợ gốm và một nông dân. Bốn thành phần này tìm cách thỏa
mãn nhu cầu của mình theo ba phương thức khác nhau.
Một là: tự cung, tự cấp, trong đó mỗi người tự kiếm cho mình mọi thứ cần
thiết.
Hai là: Trao đổi phân tán, mỗi người đều coi ba người còn lại là những khách
hàng tiềm năng hợp thành thị trường của mình.
Ba là: Trao đổi tập trung, Tại đây xuất hiện một nhân vật trung gian cần thiết
gọi là “ nhà buôn”, tồn tại ở đâu đó liên quan trực tiếp với 4 người này, tại nơi
người ta gọi là chợ. Cả 4 người đều đem thứ mình có đến cho nhà buôn rồi lấy thứ
mà họ cần ở đó.
Như vậy sự hình thành nhà buôn và thị trường đã làm giảm thiểu số thương vụ
cần thiết, nói cách khác là đã làm tăng hiệu quả thương mại.
Theo Robert S. Pindyck, Daniel L. Rubingeld, thì thị trường là tập hợp những
người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau dẫn đến khả năng trao đổi. Thị
trường là trung tâm của các hoạt động kinh tế.
SV Nguyễn Thị Huyền Trang – CQ483041 Kinh tế phát triển 48B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét