Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
dùng. Từ đó ta thấy một quá trình tiêu thụ hợp lý sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao
cho doanh nghiệp. Không nh trớc đây hiện nay các doanh nghiệp phải lăn lộn vào
thị trờng để tìm kiếm khách hàng trở thành thợng đế của doanh nghiệp. Trong thực
tế nhiều doanh nghiệp có hàng tốt nhng vẫn không tiêu thụ đợc vì không biết cách
tổ chức tiêu thụ, không đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xã hội. Vì vậy, để tiêu thụ sản
phẩm hàng hoá, đảm bảo kinh doanh có lãi thực sự không phải là vấn đề đơn giản,
đòi hỏi doanh nghiệp đặc biệt quan tâm từ khâu quản lý cho đến khâu hoạt động.
Tiêu thụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp thơng mại bởi
tiêu thụ hàng hoá là phơng tiện cho doanh nghiệp đạt đợc mục tiêu lợi nhuận, đồng
thời phản ánh chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh
nghiệp thơng mại chủ yếu thực hiện các công việc mua bán hàng hoá trong đó bán
hàng là sự cụ thể hoá những cố gắng thơng mại của doanh nghiệp. Bán hàng là
khâu cuối cùng trong kinh doanh của doanh nghiệp thơng mại. Nó trực tiếp thực
hiện chức năng lu thông hàng hoá phục vụ sản xuất và đời sống xã hội. Do vậy,
tiêu thụ hàng hoá thể hiện trình độ và khả năng của doanh nghiệp trong việc đáp
ứng nhu cầu của xã hội. Tiêu thụ hàng hoá là thể hiện quy mô kinh doanh của
doanh nghiệp về tài chính, về cơ sở vật chất kỹ thuật, về nguồn lực con ngời. Mở
rộng tiêu thụ hàng hoá là con đờng để doanh nghiệp nâng cao đợc hiệu quả sản
xuất kinh doanh của mình.
Tóm lại, về phơng diện xã hội, tiêu thụ hàng hoá có vai trò đáp ứng thoả
mãn nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của con ngời, nhu cầu về t liệu sản xuất của các tổ
chức kinh tế và doanh nghiệp khác. Ngoài ra, tiêu thụ hàng hoá tạo điều kiện để
hàng hoá thực hiện đợc giá trị và giá trị sử dụng của nó, thông qua đó các doanh
nghiệp thu đợc lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh để tái sản xuất mở rộng, giúp
ngời lao động biến tiền lơng doanh nghĩa thành tiền lơng thực tế để tái sản xuất sức
lao động. Nh vậy, tiêu thụ hàng hoá cũng là giải quyết hai vấn đề lớn là tích luỹ và
tiêu dùng trong xã hội góp phần thực hiện đảm bảo yêu cầu phân phối theo lao
động và công bằng xã hội. Bên cạnh đó, tiêu thụ hàng hoá có tác dụng thúc đẩy sản
xuất trên cơ sở phục vụ nhu cầu ngày cáng tăng của ngời tiêu dùng và cũng thông
qua đó các lĩnh vực ngành nghề kinh doanh mà nền kinh tế sẽ đợc cơ cấu lại một
cách hợp lý, tập trung những nguồn lực d thừa, sử dụng kém hiệu quả vào những
lĩnh vực kinh doanh có khả năng sinh lời cao.
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
5
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
Đối với doanh nghiệp, tiêu thụ hàng hoá quyết định đến sự tồn tại và phát
triển của doanh ngiệp. Tiêu thụ hàng hoá phản ánh một cách đầy đủ, chính xác
những đIểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp vì tiêu thụ nó thể hiện khả năng và
trình độ của doanh nghiệp thơng mại trong việc thực hiện các mục tiêu của doanh
nghiệp cũng nh đáp ứng đợc các nhu cầu của tiêu dùng xã hội.
Mở rộng tiêu thụ hàng hoá là con đờng để doanh nghiệp nâng cao hiệu quả
kinh doanh, vì vậy cần có kế hoạch tiêu thụ cụ thể. Để thực hiện tốt nghiệp vụ này cần
nghiên cứu thị trờng để nắm bắt nhu cầu từ đó xác định mặt hàng kinh doanh, thị tr-
ờng tiêu thụ, tìm hiểu bạn hàng, các đối thủ cạnh tranh, khách hàng và các biện pháp
tăng cờng công tác quảng cáo, khuyến mại, nâng cao chất lợng phục vụ, cải tiến hình
thức mẫu mã hàng hoá, áp dụng các kênh phân phối, mạng lới tiêu thụ cho hợp lý.
2.2. Đặc đIểm của nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá.
Trong nền kinh tế thị trờng, hàng hoá đợc tiêu thụ chủ yếu nhờ hoạt động th-
ơng mại, trong đó doanh nghiệp thơng mại đóng vai trò là trung gian, là cầu nối
giữa sản xuất và tiêu dùng, thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội. Ta biết rằng các
doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm hàng hoá có thể tự minh để tiêu thụ nhng do
tính chuyên môn của thị trờng, để nâng cao hiệu quả sản xuất mà doanh nghiệp sản
xuất đã chuyển việc bán hàng cho các doanh nghiệp thơng mại. Hoạt động tiêu thụ
hàng hoá thể hiện sự gặp gỡ giữa sản phẩm và tiêu dùng vào một thời điểm mấu
chốt với doanh nghiệp lúc sản phẩm hàng hoá đợc bán.
Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp thơng mại: T- H -T
'
T - H: Đây là quá trình mua hàng hoá của doanh nghiệp, là điều kiện cần để
tiến hành tiêu thụ hàng hoá. Muốn tiêu thụ hàng hoá tốt thì doanh nghiệp phải lựa
chọn hàng mua phù hợp về chất lợng, mẫu mã đáp ứng đợc nhu cầu tiêu dùng.
H -T
'
: Đây là quá trình tiêu thụ hàng hoá, bắt đầu từ khi doanh nghiệp
chuyển sản phẩm hàng hoá cho ngời tiêu dùng đồng thời ngời tiêu dùng phải trả
cho doanh nghiệp một khoản tiền tơng ứng. Nh vậy, ngời bán mất quyền sở hữu về
hàng hoá và chuyển quyền đó cho ngời mua còn ngời mua thì mất quyền sở hữu về
tiền tệ và chuyển quyền sở hữu đó sang cho ngời bán. Tuỳ theo chính sách phân
phối hàng hoá của doanh nghiệp mà hàng hoá đợc bán một lần hay nhiều lần. Ngời
mua bao giờ cũng mong muốn mua đợc hàng hoá đúng ý mình với giá mà họ sẵn
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
6
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
sàng bỏ ra chi tiêu. Ngời bán mong muốn bán đợc càng nhiều hàng càng tốt với giá
bán có thể chấp nhận đợc.
Để giúp cho quá trình tiêu thụ hàng hoá đạt hiệu quả, ngời bán phải tạo đợc
uy tín với ngời mua, thể hiện qua việc đảm bảo hàng hoá tốt về phảm chất cũng nh
chất lợng cung ứng đủ nhu cầu tiêu thụ hàng ngày. Ngoài ra, ngời bán phải xác
định đúng đắn thời đIểm hàng hoá đợc coi là tiêu thụ và phạm vi bán hàng tránh
hiện tợng bán hàng không đúng khu vực nhu cầu dân c.
2.2.1. Các phơng thức tiêu thụ hàng hoá.
Quá trình tiêu thụ hàng hoá rất đa dạng theo sự đa dạng của kinh tế thị tr-
ờng. Nó tuỳ thuộc vào hình thái giá trị cũng nh đặc điểm vận động của hàng hoá từ
sản xuất đến tiêu dùng. Các doanh nghiệp thơng mại có thể sử dụng các phơng
thức bán hàng khác nhau: Bán buôn, Bán lẻ. Ngoài hai phơng thức tiêu thụ đó
doanh nghiệp còn có thể sử dụng các hình thức tiêu thụ nh: bán đại lý, bán trả
góp,
a. Bán buôn.
Là phơng thức bán hàng hoá các tổ chức kinh tế, các đơn vị thơng mại hay các
đơn vị sản xuất để tiêu thụ bán lại cho ngời tiêu dùng hoặc tiếp tục sản xuất gia công
chế tạo ra sản phẩm mới. Việc mua bán hàng hoá này thờng đợc thực hiện bằng các
hợp đồng mua bán hàng hoá, giao dịch giữa các tổ chức bán buôn với doanh nghiệp
sản xuất, các trung gian thơng mại, nh vậy đối tợng của bán buôn rất đa dạng.
Đặc điểm chủ yếu của phơng thức này là khối lợng hàng hoá tiêu thụ lớn,
bán theo từng lô. Hàng hoá sau bán vẫn nằm trong lĩnh vực lu thông để tiếp tục lu
thông hoặc sản xuất ra sản phẩm mới rồi đa vào lu thông. Trong bán buôn, cơ cấu
hàng hoá thờng không phong phú, giá trị sử dụng của hàng hoá cha đợc thể hiện.
Hiện nay, các doanh nghiệp thờng áp dụng hai hình thức bán buôn: Bán
buôn qua kho và bán buôn chuyển thẳng.
a1. Bán buôn qua kho.
Bán buôn qua kho là hình thức bán hàng mà hàng hoá đợc đa về kho của ng-
ời bán buôn rồi mới tiếp tục chuyển bán. Khi hình thành thủ tục giao nhận hàng
cho bên mua thì nghiệp vụ buôn bán kết thúc.
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
7
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
Bán buôn qua kho có hai hình thức bán hàng:
+ Bán buôn qua kho theo hình thức lấy hàng trực tiếp: Theo hình thức này
thì khách hàng sẽ đến tận cửa kho của ngời bán để lấy hàng hoá. Đặc điểm của
nghiệp vụ này là: Tại địa điểm cửa kho thì quyền sở hữu về hàng hoá đợc di
chuyển từ ngời bán sang ngời mua đó là thời đIểm hoạt động bán hàng đợc thực
hiện. Đối với hình thức này thì mọi tổn thất và thiếu hụt hàng hoá trong quá trình
chuyên chở hàng bên mua hoàn toàn chịu trách nhiệm.
+ Bán buôn qua kho theo hình thức gửi hàng: Căn cứ vào hợp đồng kinh tế
đã ký kết ngời ta tiến hành chuyển hàng hoá đến cho khách hàng theo một địa
điểm trớc trong hợp đồng. Khi hàng hoá đợc xuất ra khỏi kho, nó vẫn thuộc quyền
sở hữu của ngời bán do đó ngời bán vẫn theo dõi sổ hàng này nh một hàng tồn kho
của doanh nghiệp. Tại địa điểm giao hàng khi ngời mua nhận hàng và ký nhận
chứng từ thì sẽ di chuyển quyền sở hữu từ ngời bán sang ngời mua, trách nhiệm và
rủi ro về hàng hoá đợc chuyển từ ngời bán sang ngời mua đó là thời điểm hoạt
động bán hàng đợc thực hiện.
a2. Bán buôn chuyển thẳng.
Bán buôn chuyển thẳng là phơng thức bán hàng bán khi mua không nhập về
kho của doanh nghiệp mà chuyển thẳng từ ngời cung cấp của ngời bán buôn cho ngời
mua. Tơng tự nh bán buôn qua kho, bán buôn chuyển thẳng có hai hình thức bán:
+ Bán buôn chuyển thẳng theo hình thức lấy hàng hay còn gọi là hình thức
giao tay ba. Đơn vị cung cấp, bên mua, bến bán cùng giao nhận hàng hoá, bên
mua ký xác nhận vào hoá đơn bán hàng. Khi thủ tục giao nhận hoàn thành thì hàng
hoá đợc xác nhận là tiêu thụ. Kế toán doanh nghiệp phản ánh doanh thu bán hàng
và thanh toán tiền cho đơn vị cung cấp. Đơn vị mua thực hiện vận chuyển hàng hoá
từ đơn vị cung cấp, mọi tổn thất xẩy ra trong quá trình vận chuyển, trách nhiệm
thuộc về đơn vị mua, tuỳ theo từng nguyên nhân phát sinh mà xử lý cho thích hợp.
+ Bán buôn chụyển thẳng theo hình thức gửi hàng. Đơn vị bán buôn trực
tiếp nhận hàng từ đơn vị cung cấp và chuyển thẳng cho đơn vị mua bằng phơng
tiện của mình hay thuê ngoài. Khi bên mua tiếp nhận đợc hàng và chấp nhận thanh
toán thì hàng hoá xác định là tiêu thụ. Cũng nh bán buôn qua kho theo hình thức
gửi hàng, mọi tổn thất, thiếu hụt hàng hoá phát sinh trong quá trình vận chuyển
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
8
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
bên đơn vị bán phải chịu trách nhiệmvà khi khách hàng nhận đợc hàng và ký nhận
vào chứng từ thì mọi rỉ ro và trách nhiệm về hàng hoá sẽ do bên mua chịu.
b. Bán lẻ.
Bán lẻ là phơng thức bán hàng trực tiếp cho ngời tiêu dùng, ngời tiêu dùng có
thể là cá nhân, các tổ chức, Phơng thức bán hàng này có đặc đIểm là khối lợng
hàng hoá giao dịch nhỏ nhng chủng loại, cơ cấu mặt hàng thì đa dạng và phong phú.
Sau khi hoạt động mua bán diễn ra thì hàng hoá tách khỏi lĩnh vực lu thông và đi
vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị của hàng hoá đợc thực hiện hoàn toàn. Hàng hoá đợc
xác định là tiêu thụ cuối ngày hoặc cuối ca khi nhân viên bán hàng lập báo cáo bán
hàng.
Có rất nhiều phơng thức bán lẻ với mục đích thuận tiện nhất cho ngời tiêu
dùng. Một số hình thức bán lẻ.
b1. Bán lẻ hàng thu tiền phân tán:
Là hình thức bán hàng mà bên bán hàng vừa giao hàng vừa nhận tiền và chịu
trách nhiệm vật chất về số hàng nhận bán. Hình thức này thuận lợi cho khách hàng
nhng nhân viên bán hàng cùng một lúc phải đảm đơng nhieèu công việc, dễ gây
mất mát tổn hao tiền hàng.
b2. Bán lẻ hàng thu tiền tập trung:
Là hình thức bán hàng mà hai nghiệp vụ giao hàng và thu tiền hàng tách rời
nhau. Mỗi quầy đều có nhân viên thu tiền, viết hoá đơn cho khách hàng. Khách
hàng mang hoá đơn đến nhận hàng và trả lại hoá đơn cho ngời bán. Cuối ngày
nhân viên thu tiền nộp tiền cho thủ quỹ, nhân viên bán hàng kiểm kê hàng hoá, lập
báo cáo bán hàng tiến hành đối chiếu với số tiền thực thu. Hình thức này thì tiền và
hàng đợc quản lý chặt chẽ nhng không thuận lợi cho ngời mua.
b3. Bán lẻ tự phục vụ:
Là hình thức mà ngời mua tự lấy hàng và thanh toán tiền. Quá trình mua bán
diễn ra nhanh chóng nhng đòi hỏi có trang thiết bị kỹ thuật tốt mới tránh đợc thất
thoát hàng hoá. Hình thức này rất thuận lợi cho ngời mua.
c. Giao nhận đại lý:
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
9
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
Bên nhận đại lý là phơng thức bán hàng mà doanh nghiệp giao hàng cho một
tổ chức kinh tế khác và nhận tiền bán hàng khi đơn vị này tiêu thụ đợc hàng hoá.
Doanh nghiệp phải trả một khoản hoa hồng cho đơn vị nhận đại lý và hạch toán
khoản này vào chi phí bán hàng. Khi phát sinh nghiệp vụ này, hai bên phải tiến
hành ký kết hợp đồng, xác định rõ mặt hàng giao đại lý, giá bán cha thuế, thuế
VAT, tỷ lệ hoa hồng, phơng thức thanh toán, phơng thức giao nhận. Đồng thời hai
bên phải xác định rõ nghiệp vụ và quyền lợi của từng bên.
- Đối với bên giao đại lý: Đây là đơn vị chủ hàng nên họ phải quản lý chặt
chẽ số hàng đã giao cho từng cơ sở kể từ khi giao hàng cho đến khi xác định tiêu
thụ và đợc phép tính doanh thu bán hàng. Về trách nhiệm, sau khi hàng hoá đợc
xác định là tiêu thụ ( nhận đợc tiền của cơ sở đại lý ) thì bên giao đại lý phải thanh
toán đầy đủ kịp thời cho ngời nhận đại lý hoa hồng.
- Đối với ngời nhận đại lý: Phải có trách nhiệm quản lý số hàng đã nhận, tổ
chức bán và thanh toán đầy đủ tiền hàng kịp thời cho ngời giao đại lý khi hàng hoá
đã tiêu thụ. Về quyền lợi, ngời nhận đại lý phải đợc hởng khoản tiền hoa hồng để
bù đắp chi phí và hình thành lợi nhuận.
d. Bán hàng trả góp.
Bán hàng trả góp là phơng thức bán hàng mà tiền hàng thu làm nhiều lần.
Tổng số tiền thu bao gồm số tiền theo giá trị bán thông thờng ( bán thu lần ) và số
tiền lại mà ngời mua phải trả do trả chậm nhiều lần và số tiền lãi này kế toán thu
vào hoạt động tài chính.
Trên đây là bốn phơng thức bán hàng, tuỳ từng mặt hàng tiêu thụ, đặc đIểm
quy mô và loại hình kinh doanh mà doanh nghiệp lựa chọn cho mình phơng thức
hợp lý nhất góp phần thu hút khách hàng, nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh
nghiệp.
2.2.2. Phạm vi và thời điểm xác định hàng hoá:
Trong doanh nghiệp thơng maị, quá trình tiêu thụ hàng hoá đợc bắt đầu
từ khi doanh nghiệp chuyển giao sản phẩm hàng hóa cho khách hàng, đồng thời
khách hàng phải trả tiền theo sự thoả thuận mua bán giữa hai bên và quá trình này
đợc kết thúc khi việc thanh toán giữa ngời mua và ngời bán diễn ra và hoàn thành.
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
10
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
Hàng hoá đợc tiêu thụ với nhiều mục đích khác nhau, việc xác định đúng
đắn hàng hoá đợc coi là tiêu thụ có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quản lý,
tiêu thụ hàng hoá. Hàng hoá đợc coi là hàng bán phảI đảm bảo đủ các điều kiện
sau:
Hàng hoá phải đợc tiêu thụ thông qua phơng thức mua bán và thanh toán
tiền hàng theo một thể thức nhất định.
Error! Not a valid link. Biển bản mất quền sở hữu về hàng hoá, đợc quyền sở hữu
về tiền tệ hoặc đòi tiền.
Hàng bán ra phải là hàng đã đợc hạch toán mua trớc hoặc có thể sản xuất
ra để bán.
Một số trờng hợp không đợc coi là hàng hoá.
Hàng mẫu của cơ sở sản xuất
Hàng nhận bán hộ, nhận đại lý.
Hàng xuất nhờ bảo quản hộ, để gia công.
Hàng bị hao hụt tổn thất trong quá trình lu chuyển mà theo hợp đồng bên
bán chịu.
Một số trờng hợp đặc biệt có thể coi là hàng hoá.
Hàng hóa xuất dùng để trả lơng, trả thởng cho công nhân viên trong doanh
nghiệp .
Hàng hoá bị hao hụt trong ngày ngoài định mức mà theo hợp đồng bên
mua chịu.
Xuất hàng hoá để sửa chữa tài sản cố định.
Hàng hoá để biếu, tặng.
Đồng thời với việc xác định phạm vi hàng bán cần phải xác định đúng đắn
thời điểm hàng hoá đợc coi là tiêu thụ, tạo doanh thu. Thời đIểm xác định tiêu thụ
hàng hoá tuỳ thuộc vào từng phơng thức bán khác nhau. Xác định đúng đắn thời
đIểm này đảm bảo nguyên tắc phù hợp của kế toán.
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
11
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
2.2.3 Giá cả hàng hoá.
Giá cả là một đặc trng của một sản phẩm mà ngời tiêu dùng có thể nhận
thấy trực tiếp nhất. Đây là dấu hiệu vừa mang tính kinh tế, cần phải trả bao nhiêu
để có, vừa mang dấu hiệu tâm lý xã hội, nhng giá trị thu đợc khi tiêu dùng sản
phẩm và vừa mang dấu hiệu về một mức chất lợng giả định. Ngoài ra, giá còn là
một yếu tố tạo ra sức cạnh tranh trong nền kinh tế và cũng rất quan trọng trong quá
trình tiêu thụ hàng hoá. Vì vậy, mỗi doanh nghiệp phải xác định cho mình một
chính sách giá phù hợp cho từng loại thị trờng, từng loại khách hàng về mặt hàng
kinh doanh của mình. Một mức giá hợp lý, thích hợp sẽ đẩy nhanh mức tiêu thụ
của hàng hoá, tăng sức cạnh tranh trên thị trờng. Tuỳ từng thời kỳ, địa đIểm kinh
doanh, thị trờng tiêu thụ mà có những chính sách khác nhau cho phù hợp.
Chính sách định giá thấp: nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, đặc biết đối
với những doanh nghiệp đang xâm nhập vào thị trờng.
Chính sách định giá cao: khi doanh nghiệp đã thực sự củng cố đợc sức mạnh,
vị thế trên thị trờng, sản phẩm độc quyền rất đợc a chuộng thì sẽ chọn chính sách này.
Chính sách giá biến đổi: giá cả các mặt hàng sẽ đợc áp dụng một cách linh
hoạt theo sự biến đổi của thị trờng.
Khi đã xây dựng một chính sách gía phù hợp, doanh nghiệp sẽ xác định đợc
giá bán cho từng loại hàng hoá. Doanh nghiệp xác định giá bán dựa trên cơ sở mua
thực tế và giá bán phải đảm bảo bù đắp chi phí và thu nhập của doanh nghiệp và
mục đích cuối cùng của hoạt động kinh doanh là kiếm lời. Tuy nhiên mức giá này
phải đợc thị trờng chấp nhận.
Để xác định đợc giá bán hợp lý có thể dựa vào công thức sau:
Trong các doanh nghiệp thơng mại:
Giá bán = Giá mua thực tế + Thặng số thơng mại
Trong đó: Thặng số thơng mại là khoản chênh lệch giữa giá bán và giá mua thực tế
của hàng hoá, để bù đắp các chi phí kinh doanh và hình thành lợi nhuận định mức.
Thặng số thơng mại = Giá mua ì tỷ lệ thặng số thơng mại ( TSTM )
Do đó ta có:
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
12
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
Giá bán = Giá mua thực tế ì ( 1+ tỷ lệ TSTM ).
Vì vậy ta có thể tính giá mua nh sau:
Giá mua =
Giá bán
1+ tỷ lệ TSTM
Đối với các doanh nghiệp áp dụng thuế giá trị gia tăng theo phơng pháp
khấu trừ thì giá bán đợc xác định là giá không có thuế. Với doanh nghiệp kinh
doanh hàng hóa không chịu thuế hoặc chịu thuế giá trị gia tăng theo phơng pháp
trực tiếp thì giá bán bao gồm cả thuế. Các phơng thức xác định trị giá vốn của hàng
đã tiêu thụ trong các doanh nghiệp thơng mại có thể áp dụng.
* Phơng pháp giá thực tế đích danh.
Theo phơng pháp này, hàng hoá đợc quản lý trên cơ sở từng lô hàng riêng biệt.
Hàng hoá đợc theo dõi tình hình xuất, nhập, tồn theo từng nhóm hàng, lô hàng. Ph-
ơng pháp này đảm bảo giá trị xuất kho kịp thời, cả về số lợng lẫn giá cả.
Công thức xác định:
Giá vốn hàng hoá
= Pi ì Qi
Xuất kho tiêu thụ
Trong đó: i : nhóm hàng, lô hàng.
Pi: giá mua thực tế của nhóm hàng i.
Qi: số lợng hàng i xuất kho tiêu thụ
* Phơng pháp giá bình quân: Phơng pháp này để xác định giá bình quân của
hàng hoá luân chuyển trong tháng khi không xác định đợc hàng hoá thuận lợi mua
vào.
Giá bình quân
Trị giá hàng tồn đầu kỳ+ trị giá hàng nhập trong kỳ
của hàng luân chuyển
trong kỳ
Số lợng hàng tồn đầu kỳ + số lợng hàng nhập trong kỳ
Khi đó giá vốn của từng mặt hàng tiêu thụ đợc xác định.:
Giá vốn của hàng = giá bình quân từng mặt hàng ì số lợng hàng hóa
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
13
Trờng Đại học Thơng mại Luận văn tốt nghiệp
Xuất kho tiêu thụ
* Phơng pháp nhập trớc, xuất trớc:
Theo phơng pháp này, quản lý hàng hoá theo từng nhóm hàng, lô hàng, lô nào
nhập trớc thì xuất trớc, nhập sau xuất sau, đảm bảo đơn giản trong việc bố trí kho
hàng, vận chuyển hàng hoá thuận tiện, hàng hoá xuất ra đảm bảo chất lợng nhng
khó xác định giá trị thực tế.
Giá vốn hàng bán = Trị giá hàng hoá sẵn có để bán - Giá vốn hàng tồn kho
Giá vốn hàng tồn kho = Số lợng hàng tồn kho ì Giá mua lần cuối
*Phơng pháp nhập sau, xuất trớc:
ở phơng pháp này, hàng hoá nhập kho sau lại đợc xuất trớc. Do đó hàng hoá
tồn kho cuối kỳ là những hàng hoá tồn đầu kỳ và là hàng hoá cũ nhất. Phơng pháp
này đảm bảo giá trị thự tế của hàng hoá nhng hàng hoá xuất bán sau không đảm
bảo chất lợng nên phải bảo quản hàng hoá cẩn thận.
*Phơng pháp hệ số giá của hàng hoá.:
Đợc áp dụng cho các doanh nghiệp sử dụng giá hạch toán để kế toán bán
hàng. Phải xác định giá vốn của hàng hoá đã tiêu thụ trong kỳ đến cuối kỳ tính toán
khoản chênh lệch gía thực tế và giá hạch toán từ đó xác định giá vốn của hàng đã
tiêu thụ.
Trị giá vốn của hàng hoá = Hệ số giá ì Trị giá hạch toán
tiêu thụ trong kỳ của hàng hoá của hàng xuất kho
=
Trị giá vốn thực tế
+
Trị giá vốn thực tế
Hệ số giá của của hàng tồn đầu kỳ của hàng nhập trong kỳ
hàng hoá Trị giá hạch toán
+
Trị giá hạch toán
Của hàng tồn đầu kỳ Của hàng nhập trong kỳ
Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trờng cần thiết
phải sử dụng giá cả nh một công cụ sắc bén để xâm nhập vào thị trờng đa chúng
thành mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp. Do vậy, để có các quyết định đúng đắn
Ngô Thị Hơng Giang- K33-D7 Trang
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét