Từ những nhận đònh trên đã thôi thúc tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Một số
giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam
trong tiến trình hội nhập quốc tế” với mong muốn ngành Ngân hàng Việt Nam
sẽ đứng vững, phát triển và hội nhập hiệu quả vào cộng đồng tài chính khu vực
và quốc tế.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu hoạt động của các NHTM trên phạm vi cả nước.
Các nhóm đề xuất được cân nhắc và trình bày mang tính đònh hướng ở tầm
quản lý vó mô và vi mô.
3. Mục đích và ý nghóa của đề tài.
Giúp các NHTM hình dung các vấn đề cấp bách đặt ra trước bối cảnh toàn
cầu hóa thò trường tài chính và hội nhập quốc tế, thực tiễn hoạt động của các
NHTM Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp giúp các NHTM Việt
Nam củng cố và nâng cao hiệu quả để có thể cạnh tranh với các Ngân hàng nước
ngoài.
4. Phương pháp luận
Để làm rõ những nội dung trong luận văn, tôi đã sử dụng phương pháp hệ
thống, so sánh, khái quát, lòch sử, cụ thể, thu thập
5. Nội dung kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn có 60 trang… Nguồn số liệu trong luận văn được lấy từ báo cáo thường
niên của ngân hàng nhà nước, báo cáo thường niên của các NHTM, tạp chí Ngân
hàng, tạp chí tài chính tiền tệ, Internet… Nội dung kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Trang 5
Chương I: Một số vấn đề về cạnh tranh của các ngân hàng thương mại
trong thò trường tài chính toàn cầu.
Chương II: Đánh giá thực trạng và khả năng cạnh tranh của hệ thống
Ngân hàng thương mại Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của
hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Trang 6
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TRONG THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU.
1.1 Khái niệm và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại.
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh.
“Cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ
mà ở đó, dưới các điều kiện về thò trường tự do và công bằng, có thể sản xuất ra
các hàng hóa và dòch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thò trường, đồng thời tạo ra
việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế”.
Một doanh nghiệp được xem là có sức cạnh tranh khi nó có thể thường
xuyên đưa ra các sản phẩm thay thế, mà các sản phẩm này có mức giá thấp hơn
so với sản phẩm cùng loại, hoặc bằng cách cung cấp các sản phẩm tương tự với
các đặc tính về chất lượng hay dòch vụ ngang bằng hay tốt hơn. Nhìn chung khi
xét đến tính cạnh tranh của một doanh nghiệp ta cần phải xét đến tiềm năng sản
xuất một loại hàng hóa hay dòch vụ nào đó ở một mức giá ngang bằng hay thấp
hơn mức giá phổ biến mà không cần đến các yếu tố trợ giúp.
1.1.2 Các nhân tố của mô hình cạnh tranh tổng quát.
Theo Micheal Porter thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp gồm bốn
yếu tố sau:
(1) Các yếu tố của bản thân doanh nghiệp: Bao gồm các yếu tố về con
người: chất lượng, kỹ năng; các yếu tố về trình độ như khoa học kỹ thuật, kinh
nghiệm thò trường; các yếu tố về vốn. Các yếu tố này có thể chia thành 2 loại,
một là các yếu tố cơ bản như môi trường tự nhiên, đòa lý, lao động; hai là các yếu
tố nâng cao như thông tin, lao động có trình độ cao… Trong đó, yếu tố thứ hai có ý
nghóa quyết đònh đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Chúng quyết đònh
những lợi thế cạnh tranh ở độ cao và những công nghệ có tính độc quyền. Trong
Trang 7
dài hạn thì đây là những yếu tố có tính quyết đònh, phải được đầu tư một cách đầy
đủ và đúng mức.
(2) Nhu cầu của khách hàng: đây là yếu tố có tác động rất lớn đến sự
phát triển của doanh nghiệp. Thông qua nhu cầu của khách hàng mà doanh
nghiệp có thể tận dụng được lợi thế theo quy mô, từ đó cải thiện các hoạt động
kinh doanh và dòch vụ của mình. Nhu cầu của khách hàng còn có thể gợi mở cho
doanh nghiệp để phát triển các loại hình sản phẩm và dòch vụ mới. Các loại hình
này có thể được phát triển rộng rãi ra thò trường bên ngoài và khi đó doanh
nghiệp sẽ là người trước tiên có được lợi thế cạnh tranh.
(3) Các lónh vực có liên quan và phụ trợ: sự phát triển của doanh nghiệp
không thể tách rời sự phát triển các lónh vực có liên quan và phụ trợ như thò
trường tài chính, sự phát triển của công nghệ thông tin, tin học. Ngày nay, với sự
phát triển của công nghệ tin học và thông tin, các ngân hàng có thể theo dõi và
tham gia vào thò trường tài chính 24/24 giờ trong ngày.
(4) Chiến lược của doanh nghiệp, cấu trúc ngành và đối thủ cạnh tranh :
sự phát triển các hoạt động doanh nghiệp sẽ thành công nếu được quản lý và tổ
chức trong một môi trường phù hợp và kích thích được các lợi thế cạnh tranh của
nó. Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ là yếu tố thúc đẩy sự cải tiến và
thay đổi nhằm hạ thấp chi phí, nâng cao chất lượng dòch vụ.
Trong 4 yếu tố trên, yếu tố 1 và 4 được coi là yếu tố nội tại của doanh
nghiệp, yếu tố 2 và 3 là những yếu tố có tính chất tác động và thúc đẩy sự phát
triển của chúng. Ngoài ra còn hai yếu tố mà doanh nghiệp cần tính đến là những
cơ hội và vai trò của Chính phủ. Vai trò của chính phủ có tác động tương đối lớn
tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhất là trong việc đònh ra các chính
sách về công nghệ, đào tạo, trợ cấp.
Trang 8
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại.
Năng lực cạnh tranh của một NHTM là khả năng tạo ra và sử dụng có
hiệu quả các lợi thế so sánh, để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với các
NHTM khác.
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam, người ta có
thể dựa vào ba nhóm chỉ tiêu sau đây:
(1) Nhóm các chỉ tiêu cấu thành năng lực cạnh tranh của NHTM: bao
gồm
Các chỉ tiêu đánh giá năng lực quản lý, phát triển nguồn nhân lực.
Các chỉ tiêu đánh giá năng lực công nghệ ngân hàng.
Các chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính, mức độ rủi ro hoạt động.
Các chỉ tiêu phản ánh phạm vi, chất lượng sản phẩm-dòch vụ, uy tín, giá
trò thương hiệu.
Các chỉ tiêu đánh giá năng lực hệ thống và mạng lưới phân phối.
(2) Nhóm các chỉ tiêu phản ánh cơ chế, chính sách sử dụng và phát triển
các lợi thế so sánh của một NHTM: bao gồm
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu lực và hiệu quả của chính sách phát triển và
sử dụng hợp lý nguồn nhân lực.
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu lực, hiệu quả và mức độ an toàn của chính
sách phát triển công nghệ ngân hàng.
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu lực và hiệu quả của chính sách phát triển và
sử dụng hợp lý năng lực tài chính
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu lực và hiệu quả của chính sách phát triển và
sử dụng hợp lý hệ thống phân phối sản phẩm – dòch vụ.
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu lực và hiệu quả của chính sách phát triển và
sử dụng hợp lý giá trò thương hiệu.
Trang 9
(3) Nhóm các chỉ tiêu phản ánh kết quả thực hiện chính sách cạnh
tranh của một NHTM: bao gồm
Mức độ tăng trưởng của Tài sản Có, thò phần tăng thêm hoặc tỷ lệ tăng
thêm khách hàng.
Tỷ trọng thu nhập từ các sản phẩm dòch vụ mới trong tổng thu nhập của
NHTM.
Thu nhập tăng thêm nhờ các biện pháp cạnh tranh.
Sơ đồ 1
: Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh sức cạnh tranh của NHTM.
Chất lượng cao:
- Chất lượng nhân viên.
- Thủ tục giao dòch.
- Độ an toàn chính xác.
Liên tục đổi mới:
- Dòch vụ mới
- Đòa điểm cung ứng mới.
- Công nghệ tiên tiến
Thỏa mãn khách hàng:
- Tiện ích tối ưu.
- Dòch vụ đa dạng.
- Kênh phân phối rộng.
- Quan hệ khách hàng tốt
Kinh doanh có hiệu
quả:
- ROE
- ROA
- Chi phí/thu nhập.
SỨC CẠNH
TRANH NHTM.
1.2 Khả năng cạnh tranh của NHTM Việt Nam và hội nhập tài chính quốc tế.
1.2.1 Hội nhập tài chính, quá trình phát triển tất yếu của nền kinh tế nước
ta.
Quá trình toàn cầu hóa về kinh tế đang diễn ra hết sức sôi động, mở ra thời
kỳ phát triển mới với sự tương tác giữa các nền kinh tế, các khu vực. Nó chứa
Trang 10
đựng cả những nhân tố tích cực, đổi mới và năng động nhưng cũng bao hàm cả
yếu tố tiêu cực, bất ổn và trở thành thách thức đối với các nền kinh tế của các
quốc gia và khu vực. Đây là xu thế tất yếu nhưng vấn đề đặt ra đối với chúng ta
là phải phát huy tính tích cực, năng động và hạn chế những tiêu cực mà quá trình
này mang lại.
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là một tổ chức kinh tế có tính toàn
cầu, thu hút sự tham gia của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Việc thực thi
chính sách kinh tế đối ngoại mở rộng đòi hỏi chúng ta phải đàm phán và chuẩn bò
các bước đi cần thiết để nhanh chóng gia nhập tổ chức này. Gia nhập WTO sẽ cho
phép chúng ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới một cách toàn diện, có điều kiện
tiếp cận với môi trường thương mại quy mô toàn cầu, có điều kiện mở rộng thò
trường xuất khẩu, không bò phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế, được tiếp
cận với các tổ chức tài chính quốc tế, học hỏi kinh nghiệm trong thương lượng và
giải quyết tranh chấp.
Cùng với sự phát triển của quá trình toàn cầu hóa là quá trình khu vực hóa
với sự ra đời và phát triển của các khu vực mậu dòch tự do, liên minh châu Âu
EU, khu vực mậu dòch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-
Thái Bình Dương (APEC), khu vực buôn bán tự do ASEAN (AFTA)…Đối với nước
ta, tham gia ASEAN và thực hiện AFTA chính là bước khởi đầu để hội nhập kinh
tế quốc tế, bên cạnh các hiệp đònh hợp tác song phương và các diễn đàn hợp tác
khác như APEC, ASEM. Điều này cho phép chúng ta nhanh chóng đúc rút kinh
nghiệm cần thiết và quý báu trước khi tham gia vào quá trình hợp tác rộng lớn
hơn, khó khăn hơn là WTO.
1.2.2 Những quan điểm và nguyên tắc thực hiện quá trình hội nhập.
Hội nhập kinh tế quốc tế trong thời đại hiện nay không chỉ diễn ra ở một số
nước mà là đòi hỏi chung như là một tất yếu khách quan. Hội nhập kinh tế quốc
Trang 11
tế của Ngành ngân hàng nước ta trước hết phải quán triệt quan điểm và chủ
trương hội nhập của Đảng và Nhà nước với yêu cầu:
Chủ động tham gia.
Nâng cao hiệu quả họat động.
Tận dụng tối đa lợi thế đang có.
Chấp nhận cạnh tranh và mở cửa để phát triển.
Phải thực hiện nguyên tắc an tòan, hiệu quả, bình đẳng và cùng có
lợi.
Phải thực hiện cải cách một cách tòan diện và đồng bộ.
Việc thực hiện lộ trình hội nhập phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của đất
nước và của Ngành Ngân hàng nước ta, đó là: những lợi thế và những bất cập cần
phải khắc phục ngay, đồng thời phải chuẩn bò sớm các điều kiện và bước đi cụ
thể cho việc mở cửa theo lộ trình đã cam kết.
1.2.3 Tác động của hội nhập đến khả năng cạnh tranh của hệ thống NHTM
Việt Nam.
Hội nhập thực chất là đấu tranh để giành lại thò trường hàng hóa, vốn, công
nghệ nhằm tận dụng các tiềm năng bên ngòai, kết hợp với việc khai thác tối đa
nội lực nhằm không ngừng nâng cao sức mạnh tiềm lực kinh tế của quốc gia.
Hội nhập quốc tế trong lónh vực ngân hàng sẽ mang lại nhiều lợi ích to lớn,
như:
Đáp ứng các điều kiện hội nhập và thực hiện cam kết với các tổ chức
thương mại tòan cầu cũng như các nước trong khu vực, với các cam kết ngày càng
phức tạp và chặt chẽ hơn theo xu hướng nới lỏng các hạn chế, tiến tới mở cửa và
tự do hóa các giao dòch. Ngành ngân hàng cần phải có những cải cách sâu rộng
hơn, triệt để hơn nhằm đem lại hiệu quả và lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam.
Như vậy, Việt Nam có cơ hội để tăng cường sức mạnh, phát triển hệ thống ngân
Trang 12
hàng trên các lónh vực như vốn, kinh nghiệm, quản lý, điều hành hiện đại hóa
công nghệ và tăng cường các dòch vụ ngân hàng mới; qua đó, góp phần nâng cao
chất lượng dòch vụ ngân hàng hiện đại cho một nền kinh tế mở.
Hội nhập quốc tế về ngân hàng là cơ sở và tiền đề quan trọng cho
việc hội nhập quốc tế về thương mại và dòch vụ, đầu tư và các lọai hình dòch vụ
khác. Nó cũng tạo điều kiện khơi thông các kênh luân chuyển vốn từ bên ngòai
vào thò trường Việt Nam. Đồng thời cũng tạo điều kiện cho các NHTM, các tập
đòan kinh tế Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, qua đó nâng cao vò thế quốc tế của
ngân hàng Việt Nam trong các giao dòch tài chính quốc tế.
Hội nhập quốc tế cùng với việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong
hoạt động ngân hàng sẽ nâng cao được tính minh bạch và hiệu quả của toàn hệ
thống, qua đó góp phần quan trọng vào việc ổn đònh kinh tế vó mô.
Hội nhập quốc tế sẽ tạo động lực thúc đẩy quá trình cải cách ngân
hàng Việt Nam, kiện toàn hệ thống văn bản pháp luật nói chung và của ngành
ngân hàng nói riêng. Bên cạnh đó, sự tăng trưởng kinh tế trong nước cùng với sự
gia tăng về quy mô hoạt động của các NHNNg sẽ làm cho thò trường hấp dẫn hơn,
thu hút nhiều hơn vốn đầu tư của nước ngoài, nhờ đó thò trường tài chính Việt
Nam sẽ phát triển mạnh mẽ hơn.
Tuy nhiên, hội nhập cũng đồng nghóa với việc chấp nhận những thách
thức và rủi ro:
Mở cửa hôïi nhập quốc tế về ngân hàng là chấp nhận cơ chế cạnh
tranh khốc liệt. Do xuất phát điểm thấp về chất lượng dòch vụ, khả năng hạn chế
về nguồn vốn, kinh nghiệm cũng như công nghệ của các NHTM Việt Nam vì thế
sự cạnh tranh mạnh mẽ từ phía các ngân hàng nước ngoài có thể làm cho các
ngân hàng trong nước ít có cơ hội phát triển, thậm chí có thể phá sản nếu không
biết cách tận dụng các lợi thế và khắc phục các hạn chế trên.
Trang 13
Hệ thống ngân hàng Việt Nam qua nhiều năm hoạt động vẫn còn
mang nặng tư tưởng được nhà nước bao cấp, cơ chế hành chính xin cho. Để thoát
khỏi cơ chế này đòi hỏi một quá trình cải cách, đổi mới kiên quyết và sự nỗ lực
của hệ thống ngân hàng. Do vậy, cần một thời gian để đổi mới một cách căn bản
cơ chế và hệ thống quản lý ngân hàng theo hướng chấp nhận ngày càng cao xu
thế tất yếu của hội nhập.
Mức độ rủi ro cao hơn, nhất là rủi ro quốc tế. Mở cửa hội nhập quốc
tế về ngân hàng có nghóa là gia tăng sự giao dòch với bên ngoài với quy mô ngày
càng lớn, do vậy càng nhiều rủi ro hơn. Việc mở cửa và tiến tới tự do hóa trong
lónh vực dòch vụ ngân hàng ở Việt Nam cùng với sự phát triển các hoạt động của
tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam đặt ra các thách thức về mặt điều hành,
quản lý và giám sát của ngân hàng Nhà nước.
Một hệ quả tất yếu về mặt xã hội do hội nhập quốc tế là thất nghiệp.
Việc mở cửa thò trường, chấp nhận cạnh tranh sẽ dẫn đến phải cắt giảm chi phí,
nhất là chi phí quản lý và giảm biên chế. Ngoài ra, hội nhập cho phép tiến cận
với những công nghệ hiện đại song lại phải giải quyết mâu thuẫn giữa trình độ
yếu kém của đội ngũ cán bộ với công nghệ khoa học tiên tiến.
1.3 Hoạt động của ngân hàng thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa thò
trường tài chính.
1.3.1 Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế.
Trong khoảng 20 năm trở lại đây, hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một
xu thế tất yếu của thời đại và diễn ra trên nhiều lónh vực thể hiện ở sự gia tăng
quy mô và hình thức trao đổi hàng hóa, dòch vụ, lưu chuyển vốn quốc tế…Trong
xu thế đó, Việt Nam đã chủ động tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế như gia
nhập khối ASEAN; tham gia vào khu vực mậu dòch tự do (AFTA), ký kết hiệp
Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét