Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

355 Định hướng hoàn thiện chính sách thuế trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tại Việt Nam




1.2. Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế của Việt Nam

1.2.1. Quan điểm của nhà nước Việt Nam về hội nhập kinh tế

Hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan. Nó đặt ra cơ hội và thách
thức đối với bất cứ nước nào. Đối với Việt Nam cũng như vậy. Chính vì vậy,
quan điểm của nhà nước Việt Nam là chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, kết
hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phát huy tối đa nội lực với thu hút
ngoại lực. Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những biện pháp quan trọng
để thực hiện các mục tiêu xây dựng nền kinh tế thò trường, thực hiện dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh. Việc chậm trễ để mất cơ hội
phát triển, tụt hậu xa hơn về kinh tế là chệch hướng.

Tuy nhiên, do nước ta hội nhập với thế giới trong hoàn cảnh điểm xuất phát
thấp, do vậy cần có một lộ trình thích hợp, vừa không đốt cháy giai đoạn, tránh
chủ quan duy ý chí, vừa đi tắt đón đầu, đồng thời phải tỉnh táo để tránh mắc
phải những sai lầm như một số nước đi trước đã rơi vào tình trạng nợ nần
chồng chất, lệ thuộc về kinh tế dẫn đến khủng hoảng kinh tế chính trò và mất
ổn đònh xã hội. Bởi vậy trong các bước đi cụ thể, cần tận dụng tối đa cơ hội do
toàn cầu hoá đem lại nhưng lại phải vượt qua mọi thử thách mà nó đặt ra.

Về quan điểm chủ động hội nhập, chúng ta phải nhanh chóng hoàn chỉnh thể
chế kinh tế thò trường trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của thò
trường thế giới và các nước phát triển. Bởi không có kinh tế thò trường phát
triển thì không thể hội nhập thành công. Quá trình toàn cầu hoá sẽ giúp chúng
ta từng bước tiếp cận với nền văn minh nhân loại trong vấn đề hoàn thiện thể
chế kinh tế thò trường của đất nước. Đồng thời phải chú trọng khai thác những
lợi thế so sánh của đất nước như: đất đai, lao động, tài nguyên. Hội nhập kinh
tế quốc tế phải được coi như mặt trận, trong đó có cả hợp tác cùng có lợi, có cả
cạnh tranh khốc liệt. Do vậy, việc chuẩn bò kỹ lưỡng cả về chiến thuật, chiến
lược và nhất là lực lượng về con người đáp ứng các yêu cầu của quá trình hội
nhập quốc tế có ý nghóa sống còn.



3




1.2.2. Quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam

1.2.2.1 Quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam trong những năm qua

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã được khởi động từ lâu,
như tham gia buôn bán quốc tế thông qua cửa Hội An, cảng Sài Gòn xưa; tham
gia quá trình liên kết xã hội chủ nghóa trong khối SEV; và đặc biệt được tăng
tốc với những chuyển động mới về chất khi Việt Nam chính thức thông qua
Luật Khuyến Khích Đầu Tư Nước Ngoài vào tháng 12 năm 1996 và có hiệu
lực từ năm 1997. Thực hiện chính sách đổi mới trong đó có chính sách đối
ngoại tích cực mở cửa. Việt Nam đã tạo ra thế và lực mới trên trường quốc tế.
Cho đến nay, trong lónh vực hợp tác quốc tế Việt Nam đã dần khẳng đònh vai
trò của mình khi:
- Là môi trường đầu tư hấp dẫn cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài;
- Trở thành thành viên đầy đủ của IMF, WB, ADB từ năm 1993;
- Là thành viên chính thức của ASEAN năm 1995, cùng với điều đó là tham
gia AFTA từ năm 1996;

- Tham gia diễn đàn hợp tác Á- Âu (ASEM) với tư cách thành viên sáng lập
từ năm 1996;
- Trở thành thành viên của APEC từ năm 1998
- Ký hiệp đònh khung với EU
- Hiệp đònh thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ bắt đầu có hiệu lực từ 11.12.2001
- Và quan trọng nhất là đang trong giai đoạn cuối đàm phán gia nhập WTO,
tổ chức thương mại toàn cầu lớn nhất và quan trọng nhất thu hút tới 145
nước (trong số khoảng 200 nước là thành viên liên hiệp quốc) và chi phối
tới 95% tổng kim ngạch thương mại toàn thế giới.

Ở lónh vực hợp tác quốc tế trong lónh vực thuế, Việt Nam đã đưa mạng lưới
Hiệp Đònh tránh đánh thuế hai lần đã ký với các nước là 42 Hiệp đònh, trong
đó, 38 Hiệp Đònh đã có hiệu lực (nguồn của Tổng cục Thuế)

1.2.2.2 Những thành tựu đạt được trong việc hội nhập kinh tế toàn cầu

4

- Góp phần to lớn trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Toàn cầu hoá làm nổi bật tầm quan trọng đang tăng lên của nền kinh tế quốc
tế đối với các nước đang phát triển. Các luồng tài chính, thông tin, kỹ năng,
công nghệ, hàng hoá và dòch vụ giữa các nước đang tăng lên một cách nhanh
chóng. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những nhân tố năng
động nhất trong luồng các nguồn lực quốc tế đang tăng lên ở các nước đang
phát triển. Luồng FDI là đặc biệt quan trọng bởi vì FDI là một gói các tài sản
hữu hình và vô hình bởi vì các công ty triển khai chúng (các công ty xuyên
quốc gia-TNC) hiện đang là nhân tố quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu.

Tại Việt Nam, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã xuất hiện từ sau khi có luật
đầu tư nước ngoài và tăng trưởng rất tốt. Tỷ trọng của khu vực này năm 2003
đạt 14% đã cao gấp 2 lần năm 1994.

Đầu tư nước ngoài, bao gồm nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và nguồn vốn hỗ
trợ phát triển (ODA), chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn đầu tư phát triển
của nước ta.

Theo đăng ký tính từ 1988 đến cuối tháng 27/12/2004, nguồn vốn FDI đã đạt
gần 46 tỷ USD. Nếu xếp theo nhóm ngành kinh tế thì công nghiệp-xây dựng
đứng đầu với hơn 26,6 USD, tiếp đến là dòch vụ gần 17,7 USD và nông, lâm
nghiệp- thủy sản hơn 3,4 tỷ USD. Theo đòa bàn, đứng đầu là TP Hồ Chí Minh
đạt gần 11,5 tỷ USD, tiếp đến là Hà

Nội trên 8,1 tỷ USD, Đồng Nai gần 7,5 tỷ USD, Bình Dương hơn 4,2 tỷ, Bà ròa-
Vũng Tàu hơn 2,1 tỷ USD, Hải Phòng gần 1,8 tỷ USD,… Theo đối tác, đứng
đầu là Singapore gần 8 tỷ USD, tiếp đến là Đài Loan gần 7,3 USD, Nhật Bản
trên 5,4 tỷ USD, Hàn Quốc 4,7 tỷ, Hồng Kông trên 3,2 tỷ USD, Quần đảo
Virgin thuộc Anh gần 2,4 tỷ USD, Pháp gần 2,1 tỷ USD, Hà Lan hơn 1,8 tỷ,
Thái Lan gần 1,4 tỷ, Malaysia hơn 1,3 tỷ, Anh trên 1,2 USD, Mỹ gần 1,3 USD,
… (Nguồn từ Bộ Kế Hoạch và đầu tư - trích từ thời báo Vietnam Investment
reviews)

Nguồn vốn FDI thực hiện tính từ 1988 đến 27/12/2004 đã đạt được xấp xỉ 26,8
tỷ USD. Tỷ lệ FDI thực hiện trên tổng số vốn đầu tư phát triển qua các năm
như sau: năm 1996 đạt 26%, năm 1997 đạt 28%, năm 1998 đạt 20,8%, năm
1999 đạt 17,3%, năm 2000 đạt 18,7%, năm 2001 đạt 18,4%, năm 2002 đạt
18,5% và năm 2003 đạt 16,8%.
5


Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài từ chỗ không có gì, đến nay đã chiếm 14%
GDP, thú hút được trên 64 vạn lao động trực tiếp, chiếm 36,1% giá trò sản xuất
công nghiệp, 50,4% kim ngạch xuất khẩu. Trong toàn bộ khoản nộp ngân sách
của khu vực doanh nghiệp, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm
36,6%. Một thành tựu quan trọng là nước ta đã từng bước tiếp thu công nghệ,
đào tạo được đội ngũ cán bộ và nhiều nhà quản lý doanh nghiệp nắm được
nghiệp vụ, ngoại ngữ tham gia hội nhập.

- Toàn cầu hóa tạo sự mở rộng và đa dạng hóa thò trường xuất khẩu:

Trước đây, thò trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là các nước Đông u
thuộc khối SEV và một số nước Xã hội chủ nghóa khác. Sau khi chế độ Xã hội
chủ nghóa ở Liên Xô và các nước Đông u sụp đổ, tỷ trọng xuất khẩu sang khu
vực này giảm dần từ 57% trong tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm 1990
xuống xấp xỉ 2% như hiện nay.

Nhờ quan hệ thương mại của Việt Nam đã được mở rộng hơn trong việc gia
nhập các tổ chức thương mại quốc tế nên dù có những biến động trên thò
trường thế giới trong hơn một thập niên qua, xuất khẩu có lúc bò chững lại
nhưng nhìn chung tỷ trọng xuất khẩu trong GDP tại nước ta không ngừng tăng
lên, từ 22,8% năm 1990 lên 31% năm 1996 và đạt 50% năm 2001. Kim ngạch
xuất khẩu tăng gấp 10 lần từ 789 triệu USD trong năm 1986 lên 7.255 triệu
USD năm 1996. Trong giai đoạn 1991-2001, xuất khẩu đã tăng 7.5 lần từ
2.042 triệu USD lên 15.027 triệu USD. Đến năm 2004, kim ngạch xuất khẩu
đã lên tới 26 tỷ USD tăng 29% so với năm 2003 và là mức tăng cao nhất kể từ
năm 2001 (Trích nguồn của Bộ Thương mại).

- Toàn cầu hóa giúp đa dạng hóa và chuyển dòch cơ cấu xuất khẩu theo
hướng tăng giá trò gia tăng

6

Kể từ giai đoạn hội nhập năm 1991 cho đến nay, xuất khẩu Việt Nam tăng đều
ở một số mặt hàng có lợi thế so sánh như dầu thô, gạo, cà phê, giày dép, hàng
dệt may, hải sản, sản phẩm gỗ tinh chế và linh kiện điện tử, trong khi tỉ trọng
các nguyên vật liệu thô và khoáng sản có xu hướng giảm xuống. Nhưng đáng
nói hơn là sự năng động thương mại từ toàn cầu hóa. Mở rộng xuất khẩu thúc
đẩy việc đạt được giá và chất lượng cạnh tranh quốc tế, dẫn đến cải thiện năng
xuất lao động và làm đa dạng, chuyển dòch cơ cấu xuất khẩu theo hướng tăng
giá trò gia tăng. Nhập khẩu tăng cũng gây áp lực buộc các nhà sản xuất trong
nước phải tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm. Minh chứng cho vấn đề này
là tỷ trọng hàng chế biến trong xuất khẩu của Việt Nam tăng tương đối nhanh
đặc biệt là từ sau năm 1997. Điều này cũng phản ánh sự gia tăng tốc độ
chuyển giao vốn, dây chuyền sản xuất, công nghệ từ các nước phát triển sang
Việt Nam.

- Tự do hóa thương mại và hội nhập thúc đẩy sự phát triển các ngành dòch
vụ của Việt Nam

Để có thể phát triển được xuất khẩu hàng hóa thì các dòch vụ hạ tầng phục vụ
xuất khẩu phải phát triển. Đồng thời tự do hóa thương mại không chỉ dừng lại
ở tự do hóa thương mại hàng hóa mà còn phải tự do hóa khu vực dòch vụ. Đối
với Việt Nam, xuất khẩu dòch vụ ra nước ngoài tuy còn khó khăn, nhưng sức ép
cạnh tranh đã làm phong
phú và nâng cao chất lượng các hình thức cung cấp dòch vụ của các ngành du
lòch, ngân hàng, bưu chính viễn thông, điện nước,… Chính sự nâng cấp này
mang lại nguồn thu lớn cho đất nước.

- Toàn cầu hóa còn tạo ra nhiều cơ hội để Việt Nam tăng mậu dòch:

Không những đơn thuần thúc đẩy hình thành môi trường kinh doanh cởi mở và
công bằng hơn mà còn giúp nâng cao chất lượng các nguồn lực đầu vào như
nguồn vốn, công nghệ, trình độ nhân lực, trong đó phải kể đến các doanh nhân
Việt Nam nâng cao kỹ năng và trình độ kinh doanh.
Qua những thành tựu đạt được trên, chúng ta khẳng đònh đường lối chủ động
tham gia hội nhập kinh tế toàn cầu của Đảng và nhà nước trong thời gian qua
là đúng đắn phù hợp với yêu cầu phát triển chung của nền kinh tế trên thế
giới.

1.2.2.3 Đònh hướng hội nhập kinh tế toàn cầu của Việt nam trong giai
đoạn từ nay đến 2010, những thuận lợi, khó khăn:

- Mục tiêu chủ động hội nhập kinh tế của Đảng và nhà nước ta:

• Việt Nam đang cố gắng để được trở thành thành viên của WTO vào
năm 2005.

7

• Tiếp tục thực hiện cam kết của Chính Phủ Việt Nam với tư cách là
thành viên Asian tham gia khu vực mậu dòch tự do AFTA (The Asian
Free Trade Area) trong việc hoàn thành cắt giảm thuế theo lộ trình
CEPT (chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung – The Common
Effective Preferential Tariff) và hoàn thành vào tháng 1/1/2006.

• Cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Trong đó, việc tham gia vào WTO là đích hội tụ và mẫu số chung trong xu
hướng mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế. Chứng nhận là thành viên của WTO
cũng là chứng chỉ quốc tế đầy uy tín cho “đẳng cấp” về sự phát triển và hoàn
thiện cơ chế kinh tế thò trường mở; đồng thời đặt quốc gia thành viên trước
nhiều cơ hội lớn và cả những thách thức mới trong quá trình phát triển kinh tế
– xã hội của mình và đó cũng là mục tiêu quan trọng nhất của Việt Nam trong
tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu trong giai đoạn sắp tới.

- Những lợi ích khi tham gia vào WTO:

Tham gia vào WTO sẽ mang lại nhiều lợi ích to lớn về mở rộng thò trường xuất
nhập khẩu, tiếp nhận những hàng hóa, dòch vụ, công nghệ kỹ thuật và quản lý
với giá rẽ hơn nhiều so với hiện nay; đồng thời, hàng hoá, vốn đầu tư và dòch
vụ của Việt Nam sẽ thâm nhập dễ dàng, với số lượng không hạn chế vào thò
trường các nước thành viên; có khả năng tăng thêm việc làm, tăng thu nhập
cho người dân, cải thiện chất lượng dòch vụ, giải quyết tốt các tranh chấp trong
thương mại quốc tế, nâng cao vò thế quốc gia trên trường quốc tế.

- Thách thức

Nhìn chung có thể thấy rằng chúng ta có một xuất phát điểm không thực sự
thuận lợi khi tham gia thực hiện AFTA và WTO. Điều này sẽ được thể hiện rõ
khi so sánh chúng ta với các nước thành viên khác:

• Trước hết đó là sự khác nhau về thể chế và cơ chế quản lý kinh tế.
Nước ta đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung sang nền kinh tế thò trường . Các quan hệ thò trường của nền
kinh tế Việt Nam chưa

thực sự trưởng thành (cái quán tính của cung cách quan liêu, bao cấp
trong quản lý còn nặng nề). Điều này thể hiện mức độ sẳn sàng đón
nhận tiến trình WTO, AFTA chưa cao xét về mặt cơ cấu quản lý.
8


• Quan trọng hơn nữa là khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế giữa
Việt Nam và các nước thành viên trong WTO (về thu nhập bình quân
đầu người, dự trữ ngoại tệ, tỷ lệ lạm phát, vốn đầu tư, trình độ công
nghệ,…) cho thấy sự khác biệt quá lớn theo hướng bất lợi cho Việt Nam.
Trình độ công nghệ sản xuất của nước ta, đặc biệt trong các ngành chủ
chốt như công nghiệp chế tạo, chế biến còn ở mức yếu kém thì liệu có
đủ sức cạnh tranh, chiếm lónh thò trường trong khi toàn cầu hóa được đặc
trưng bởi sự tự do lưu chuyển các nguồn vốn, háng hoá, dòch vụ và sự
bành trướng của các công ty xuyên quốc gia hay chỉ là nơi tiêu thụ hàng
hoá của các nước thành viên khác, thậm chí nhiều doanh nghiệp bò phá
sản, thất nghiệp theo đó gia tăng,…

• Một trong những khó khăn mà Việt Nam phải đương đầu trong quá trình
hội nhập là nhân tố con người. Trình độ của các cán bộ quản lý kinh kế
và của doanh nhân Việt Nam còn chưa đáp ứng được nhu cầu đặt ra của
tình hình mới.

• Nếu chỉ xét riêng về thực trạng của các doanh nghiệp Việt Nam trong
môi trường cạnh tranh thì phần lớn các doanh nghiệp còn rất non trẻ,
thiếu vốn kinh doanh cũng như rất yếu về trình độ quản lý, tín nhiệm và
bề dày kinh nghiệm. Phần lớn các doanh nghiệp đều mới bước vào
thương trường nên có nhiều hạn chế, thể hiện ở: kinh doanh trên diện
mặt hàng rộng nhưng thiếu chuyên ngành, mạng lưới tiêu thụ mong
manh, các doanh nghiệp còn chưa quan tâm và thiếu thành công trong
việc xây dựng các khối khách hàng tin cậy và lâu bền, thiếu thông tin
và thiếu hiểu biết về thò trường và khách hàng, thiếu các hoạt động xúc
tiến thương mại dưới nhiều hình thức.

• Ngoài ra, tác động không thuận lợi đến các doanh nghiệp còn có những
vấn đề về một môi trường vó mô thiếu ổn đònh với một hệ thống pháp
luật chưa hoàn chỉnh, các thủ tục hành chính phức tạp và không rõ ràng.

9

• Một vấn đế quan trọng nữa đặt ra là hệ thống thuế của ta rất phức tạp,
hay thay đổi. Bộ máy hành thu cồng kềnh chưa hiệu quả. Vì vậy thách
thức về lộ trình giảm thuế và dỡ bỏ hàng rào thuế quan, cải cách chính
sách thuế phù hợp với thông lệ chuẩn mực quốc tế và những cam kết
trong các hiệp đònh là một trong những thách thức lớn cần được giải
quyết.

1.3. Những khó khăn, thách thức về lónh vực thuế trong quá trình hội
nhập kinh tế:

Khó khăn lớn nhất của ngành thuế là làm sao đáp ứng được yêu cầu của hệ
thống thuế phù hợp với các quy đinh của WTO và các tổ chức thương mại khác
mà Việt Nam là thành viên mà vẫn đảm bảo được sự ổn đònh của tài khóa đất
nước, bảo vệ hợp lý thò trường nội đòa, khuyến khích đầu tư trong và ngoài
nước, góp phần thúc đẩy sự chuyển dòch cơ cấu kinh tế, điều chỉnh cơ cấu đầu
tư theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả và sức cạnh
tranh của nền kinh tế. Những khó khăn mà ngành thuế phải đương đầu trong
giai đoạn sắp tới cụ thể là:

- Theo cam kết đến năm 2006, Việt Nam sẽ hoàn thành việc cắt giảm thuế
nhập khẩu theo chương trình CEPT, AFTA với hơn 80% dòng thuế chỉ còn
thuế suất 0%, đối với hiệp đònh Việt Mỹ thì 224 dòng thuế nhập khẩu, thuế
suất sẽ giảm bình quân 30%. Các mặt hàng dệt may đã ký với EU sẽ giảm
thuế…Dự kiến khoảng năm 2005, Việt Nam sẽ gia nhập WTO. Như vậy
Việt Nam sẽ phải cam kết cắt giảm hầu hết các dòng của biểu thuế suất
thuế nhập khẩu xuống mức thấp hơn nhiều so với hiện nay. Mức thuế
trung bình của biểu thuế nhập khẩu của các nước phát triển trong WTO là
3,8%, của các nước đang phát triển là 12,3%. Theo dự báo của Bộ Tài
chính, các cam kết cắt giảm thuế của Việt Nam sẽ làm giảm nguồn thu từ
thuế khoảng 160-170 triệu USD, bằng khoảng 8,8% số thu thuế nhập khẩu
tức 2,2% tổng thu ngân sách nhà nước trong năm. Điều này sẽ gây nhiều
khó khăn cho cân đối ngân sách nhà nước, cho đầu tư phát triển của Việt
Nam nếu như quá trình hội nhập không có tác dụng kích thích tăng lượng
buôn bán đến mức mà số lượng thuế thu được do tăng doanh thu không bù
đắp được sự cắt giảm thu do giảm thuế suất.

10

- Phải đối xử công bằng trong chính sách thuế, trong hành thu thuế với tất cả
các sản phẩm hàng hóa, các dòch vụ của tất cả các nước thành viên theo
chế độ đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) tại cửa khẩu và theo chế độ đãi ngộ
quốc gia (NT) trên thò trường nội đòa. Những ưu đãi cao hơn giữa các nước
cùng thuộc một tổ chức khu vực được chấp nhận nhằm cho phép đẩy nhanh
tự do hóa thương mại giữa các
nước trong liên kết mà không mở rộng cho thành viên khác. Đồng thời
phải đảm bảo tính công bằng giữa các doanh nghiệp của các thành phần
kinh tế, giữa các đối tượng khác nhau về các quyền lợi và nghóa vụ thuế…
Điều này sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh khốc liệt cho các doanh nghiệp còn
quá nhỏ bé, quá non trẻ và thiếu kinh nghiệm thương trường như Việt
Nam. Như vậy cái khó của ngành thuế là phải xem xét những ngành nào
là ngành công nghiệp non trẻ cần bảo hộ để

đàm phán một thời hạn chuyển đổi thích hợp và một mức thuế suất trần tối
đa có thể được các nước thành viên chấp nhận.

- Đảm bảo tính minh bạch, đơn giản, rõ ràng của chính sách thuế; chỉ bảo hộ
sản xuất trong nước qua thuế quan, dỡ bỏ và không đặt ra hàng rào phi
thuế quan mới; không áp dụng hạn hạn ngạch và các biện pháp phi kinh tế
khác (trừ các trường hợp ngoại lệ đã được quy đònh), các khoản phí và lệ
phí phải được tính vào biểu thuế và phải rõ ràng, minh bạch. Điều này
cũng gây nhiều khó khăn trong việc tính toán, bảo hộ cho một số ngành,
một số khu vực của nền kinh tế quốc dân.

- Phải đảm bảo tính ổn đònh có thể dự báo trước trong chính sách thuế nhằm
thực hiện nghóa vụ của các nước thành viên là bảo đảm tính ổn đònh cho
thương mại quốc tế. Các thành viên đàm phán cam kết mức thuế trần tối
đa, các chương trình giảm thuế và không áp dụng các biện pháp phi thuế
quan gây trở ngại không cần thiết cho thương mại. Khi có yêu cầu nâng
thuế lên trên mức trần cam kết, các thành viên phải thông báo và đàm
phán với các thành viên khác có quyền lợi chủ yếu hoặc phải được các
thành viên chấp nhận được phép làm trái với nghóa vụ cơ bản trong một
thời gian xác đònh. Đối với các thành viên mới là các nước đang phát triển
và các nước đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế có thể được chấp
nhận một giai đọan quá độ nhất đònh đối với một số mặt hàng từ 5-10 năm
về chính sách thuế. Chính vì vậy, việc tìm ra cơ sở khoa học của vấn đề và
việc đàm phán song phương với một số thành viên chủ chốt và đàm phán
đa phương với các nước thành viên trong WTO có ý nghóa cực kỳ quan
trọng trong việc xác đònh thuế xuất, nhập khẩu và thời kỳ áp dụng. Thiết
nghó, nhiệm vụ này cũng thuộc về ngành thuế.

11

- Chính sách thuế phải bảo đảm quyền tự vệ chính đáng và phản ứng thích
hợp trước các biện pháp thương mại bất thường và không có nguyên tắc;
hoặc các trường hợp cạnh tranh không công bằng, các hiện tượng bán phá
giá, các hình thức trợ cấp trực tiếp cho sản xuất và kinh doanh xuất khẩu.
Đồng thời chính sách thuế
phải là cơ sở pháp lý vững chắc, là công cụ có hiệu lực để giải quyết các
tranh chấp thương mại quốc tế với các thành viên khác.

Như vậy, có thể thấy những thách thức mà hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra là
không nhỏ đối với cơ quan thuế. Để có thể đương đầu với sự phát triển trong
điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, ngành thuế cần phải khẩn trương thực hiện cải
cách cả trong việc hoạch đònh chính sách thuế và quản lý thuế.
































12


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét