Khu vực công nghiệp cũng có thể là một nguồn cung cấp vốn cho phát
triển kinh tế, có ý nghĩa lớn là vốn tích luỹ ban đầu cho công nghiệp hoá. Theo
Timer-1988, Morris và Adelma -1981 từ kinh nghiệm thực tế của thế kỷ XIX và
nhất là thập kỷ gần đâycho thấy, phát triển nông nghiệp là một điều kiện tiên
quyết cho sự thành công của công nghiệp hoá (do tích luỹ từ công nghiệp mang
lại) hình thành và phát triển thị trờng trong nớc, giải quyết việc làm ở nông thôn
trong thời gian đầu, hạn chế áp lực làm chậm quá trình công nghiệp hoá )
Theo Timmer-1988 ở giai đoạn bắt đầu phát triển nông nghiệp chiếm
phần lớn sản phẩm trong nớc, tích luỹ chủ yếu từ nông nghiệp, nguồn thu của
Nhà nớc chủ yếu do các loại thuế đánh vào nông nghiệp.
+Giai đoạn nông nghiệp đóng góp củ yếu cho sự tăng trởng một phần
nguồn thu từ nông nghiệp đợc đầu t lại hco nông nghiệp (chủ yếu cho nghiên
cứu và cơ sở hạ tầng) sản lợng nông nghiệp tăng lên.
+Giai đoạn lao động nông nghiệp bắt đầu giảm, nông nghiệp phải đợc
liên kết về thị trờng lao động và tín dụng liên kết kinh tế thành thị-nông thôn,
nông nghiệp ngày càng phụ thuộc vào thị trờng.
+Giai đoạn nông nghiệp dới mức 20% của tổng lao động trong nớc, nông
nghiệp còn đợc hỗ trợ bằng nhiều biện pháp linh hoạt của Nhà nớc.
Để đạt đợc nh vậy thì điều kiện đầu tiên quan trọng nhất là ta phải thực
hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Đây là một nhiệm vụ rất quan
trọng của nền kinh tế quốc dân.
5
ii. chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với phát
triển nông nghiệp - nông thôn.
1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với sự phát triển của nền
kinh tế quốc dân.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là bộ phận cấu thành rất quan
trọng của nền kinh tế quốc dân, có ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển kinh tế
-xã hội ở nớc ta. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là tổng thể của kinh
tế bao gồm mối quan hệ tơng tác giữa các yếu tố của lực lợng sản xuất và quan
hệ sản xuất thuộc khu vực kinh tế nông thôn trong những khoảng thời gian và
điều kiện kinh tế xã hội nhất định.
Sau khi nghị quyết 10 của Bộ chính trị và nhiều chính sách mới đợc ban
hành đã giải đợc những khả năng buộc phong kiến phi kinh tế trong nông
nghiệp và nông thôn, tạo cho nông nghiệp đạt đợc những thành tựu to lớn góp
phần từng bớc chuyển nền nông nghiệp tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá. Sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng và nông thôn nói chung đã và
đang có sự khởi sắc, sản xuất phát triển đời sống nhân dân đợc cải thiện. Mặt
khác, việc chuyển dịch cơ cấu ngành, theo vùng, lãnh thổ, theo các thành phần
kinh tế, theo cơ cấu kỹ thuật - công nghệ hớng tới nền sản xuất hàng hoá và đạt
đợc nhiều tiến bộ đángg kể.
Thế nhng ở trong phạm vi của từng vùng trong nớc thì không hẳn thế. Do
có sự phát triển không đều giữa các vùng trong nớc, quá trình đó diễn ra ở các
vùng không giống nhau: ở vùng kinh tế phát triển , quá trình đó diễn ra theo
trình tự chung còn ở vùng kinh tế kém phát triển, quá trình đó có thể bắt đầu từ
việc phá thế độc canh hoá chuyển sang đa canh lúa, màu phát triển chăn nuôi và
bớc tiếp theô là phát triển các ngành nghề tiều, thủ công nghiệp và dịch vụ. Xu
hớng chung của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là: tỷ
trọng nông nghiệp ngày càng giảm và tỷ trọng các ngành công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng.
6
Bên cạnh đó, để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn
còn phải có sự quan hệ rất nhiều tới các ngành khác nh phát triển nông nghiệp
hàng hoá phải chịu sự tác động mạnh mẽ của công nghiệp và nông nghiệp
không thể tự đi lên nếu không có sự tác động trực tiếp của một nền công nghiệp
phát triển. Và đợc các ngành nghề mới trong nông nghiệp.
Trong nông nghiệp và nông thôn, đi cùng với sự chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp và nông thôn là sự phân công lao động cũng đợc diễn ra. Từ lao động
trồng lúa chuyển sang lao động trồng hoa màu chăn nuôi, làm các ngành nghề
tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, nó không chỉ phụ thuộc vào phục vụ cho cả
nhu cầu phát triển nông nghiệp mà còn phục vụ cho cả nhu cầu phát triển công
nghiệp, thơng nghiệp và các ngành doanh nghiệp khác.
Từ thế kỷ 20 đã chứng minh và xác định khoa học kỹ thuật công nghệ
phát triển và đổi mới nh vũ bão, tính cộng đồng trong sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm ngày càng cao, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một nớc không thể tách
rời với sự phát triển kinh tế của cộng đồng quốc tế hay cũng nh không thể tách
rời sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn với cơ cấu kinh tế
vùng và cơ cấu kinh tế chung của cả nớc.
Mặt khác, sự phân hoá giàu nghèo ở nông nghiệp và nông thôn không thể
tránh khỏi, nó diễn ra theo hớng : khi sản xuất hàng hoá kém phát triển thì
khoảng cách đó tơng đối doãng ra, khi sản xuất hàng hoá phát triển ở trình độ
cao thì khoảng cách đó thu hẹp laih và có thể trở lại khoảng cách ban đầu (nhng
ở trình độ cao hơn). Điều đó chứng tỏ sự phân hoá giàu nghèo vừa là kết quả,
vừa là động lực thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Thêm vào đó, ở đâu có trình độ dân trí thấp thì ở đó việc xác lạp và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế đơng nhiên là gặp nhiều khó khăn và khó tránh khỏi
sai lầm . Điều này cũng chứng tỏ rằng với với trình độ dân trí hay mặt bằng
trong giáo dục có chịu sự ảnh hởng trực tiếp và gián tiếp của chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp và nông thôn.
2. Kinh nghiệm của một số nớc trên thế giới
7
a. Kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Đài
Loan.
Ta biết rằng Đài Loan là một lãnh thổ nhỏ với 2/3 là đồi núi, đất canh tác
chỉ có gần 900.000 ha, khí hậu á nhiệt đối và nhiệt đới, bởi vậy cơ cấu nông
nghiệp rất đa dạng, phong phú nh trồng trọt có lúa nớc, lúa mì, khoai lâng, khoai
tây, lạc, chuối . Về chăn nuôi có lợn, gàm vịt , trâu, bò Ng nghiệp có điều
kiện thuận lợi để phát triển, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản, có những sản
phẩm xuất khẩu có giá trị nh tôm, cá
Tuy vậy, cho đến giữa thế kỷ xét xử, nông nghiệp Đài Loan vẫn ở tình
trạng lạc hậu, sản xuất tiểu nông tự cấp, tự túc. Từ đầu những năm 1950 đến nay
cơ cấu nông nghiệp Đài Loan, do có sự tác động của công nghiệp hoá, đã có
một bớc phát triển mạnh mẽ, cơ cấu nông nghiệp đã chuyển dịch theo hớng sản
xuất nông sản hàng hoá, hớng về về xuất khẩu, và đã đạt đợc những thành tựu to
lớn trong thời kỳ công nghiệp hoá. Quá trình đó của Đài Loan đợc chia làm 3
thời kỳ.
*Thời kỳ thứ nhất:
Cơ cấu nông nghiệp trong thời kỳ khôi phục kinh tế sau chiến tranh
chuẩn bị công nghiệp hoá (1949-1953).
Trong thời kỳ này, Đài Loan bắt đầu thực hiện cải cách ruộng đất do
chính quyền Quốc Dân Đảng thực hiện trong 4 năm (1949-1953) với nội dung:
giảm tô từ 50-60% xuống 37,5% (1949), chính quyền đem 130.000 ha ruộng
công bán cho 177.000 hộ nông dân thiếu ruộng (1951), ban chấp hành "luật ngời
cày ruộng: (1953), trng mua số ruộng đất quá hạn mức của địa chủ bán cho
nông dân thiếu ruộng.
Điều trên đã tạo điều kiện chuyển dịch nền kinh tế nông nghiệp phong
kiến tiểu nông sang nền kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hoá T bản chủ nghĩa,
dọn đờng cho công nghiệp hoá. Kết quả, sản xuất nông nghiệp 1952 đạt
129,7% so với năm 1940-19443 (thời kỳ kinh tế thịnh vợng trớc đây). Cơ cấu
nông nghiệp thời kỳ này vẫn là cơ cấu truyền thông. Năm 1953, trong cơ cấu
nông nghiệp, giá trị sản lợng trồng trọt chiếm 71,9%, chăn nuôi chiếm 15,6%,
8
thuỷ sản chiếm 7,4%, lâm nghiệp chiếm 5,1%. Trong ngành trồng trọt: lua
chiếm 58,7 %, mì màu 13,3%, cây công nghiệp 19,7%, rau 4,8, quả 3,5%. Trong
ngành nông sản xuất khẩu năm 1952 đạt 114 triệu USD chiếm 95,5% kim ngạch
xuất khẩu. Nó đánh dấu bớc ngoặc đầu tiên của sản xuất nông nghiệp chuyển từ
hớng nội thuần tuý sang hớng ngoại.
* Thời kỳ thứ hai
Cơ cấu nông nghiệp trong thời kỳ phát triển nông nghiệp để nuôi dỡng
công nghiệp (1953-1968): Đây là thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá ở
Đài Loan nó đợc thực hiện trong 4 kế hoạch phát triển kinh tế quốc gia (NEDP)
Biểu 1: Cơ cấu nông nghiệp thời kỳ 1953-1968
Năm Giá trị sản lợng
nông nghiệp
Trồng trọt Chăn nuôi Ng nghiệp Lâm nghiệp
1953 10.390 (1) 71,9% 15,6% 7,4% 5,1%
1968 48.883 60,1% 23,0% 10,6% 6,3%
(1) Triệu đồng Đài Loan.
Với chức năng phát triển nông nghiệp để nuôi dỡng công nghiệp trong
thời gian 1953-1968, nông nghiệp Đài Loan tập trung vào các mục tiêu:
-Nâng cao nông nghiệp bằng đa dạng hoá sản phẩm và cạnh tranh để
đảm bảo nhu cầu dinh dỡng cho nhân dân.
-Mở rộng xuất khẩu nông sản phẩm phục vụ công nghiệp hoá .
-Cung cấp nguyên liệu và lao động cho công nghiệp để phát triển công
nghiệp hoá.
Kết quả: sản phẩm trồng trọt chính (lúa, mía, rau quả) tăng từ 60-400%,
năng suất cấy trồng từ 50-200%, sản lợng thuỷ sản tăng 400%, lâm sản tăng
50%-120%. Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản đạt 266,590 triệu USD,
tăng 220%. Điểm chủ ý ở đây là cơ cấu nông nghiệp trong thời kỳ 1953-1968
đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hớng công nghiệp hoá. Giá trị sản lợng
nông, lâm ng nghiệp năm 1968 tăng 5 lần so với 1953, cơ cấu giá trị chăn nuôi
tăng từ 15,6% lên 23%, ng nghiệp từ 7,4%-10,6%, lâm nghiệp từ 5,1%-6,3%.
9
* Thời kỳ thứ ba
Cơ cấu nông nghiệp trong thời kỳ phát triển công nghiệp để hỗ trợ nông
nghiệp (1961 đến nay). Một trong những nội dung chủ yếu trong thời kỳ này là
tiếp tục chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp cho phù hợp với yêu cầu và khả năng
của công nghiệp hoá.
Số trang trại gia đình bắt đầu giảm, lao động nông nghiệp giảm từ 1,6
triệu (1969) xuống 1,09 triệu (1991). Tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng
số lao động xã hội giảm từ 38,9% (1969) xuống 12,9% (1991).
Diện tích canh tác giảm 914 ha (1969) xuống 883540 ha (1991). Giá trị
sản lợng nông nghiệp tăng 47731 triệu Đài Loan (1969) lênhà nớc 234185 triệu
(1981). Kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng 297 triệu USD (1969) lên 10,042 tỷ
USD (1991).
Biểu 2: cơ cấu giá trị sản lợng nông nghiệp (1968-1981)
Năm Giá trị Sl (1)
nông nghiệp
Tỷ trọng giá trị sản phẩm (%)
Trồng trọt Chăn nuôi Ng nghiệp Lâm nghiệp
1968 48833 60,1 23 9,5 5,6
1981 234185 47,1 29,5 21,4 2,0
(1) triệu đồng Đài Loan
Kế hoạch của Đài Loan từ nay đến sau năm 2000 là tiếp tục chuyển dịch
nền kinh tế nông nghiệp theo phơng hớng chọn đợc cơ cấu nông nghiệp hợp lý
trong điều kiện công nghiệp phát triển đạt trình độ cao, đất đai và lao động đất ở
trong nớc tập trung và sản xuất. Kế hoạch của Đài Loan từ nay đến sau năm
2000 là tiếp tục chuyển dịch chuyển nền kinh tế nông nghiệp theo hớng chọn đ-
ợc cơ cấu nông nghiệp hợp lý trong điều kiện công nghiệp phát triển đạt trình
độ cao, đất đai và lao động đất ở trong nớc tậ trung vào sản xuất các sản phẩm
cần ít đất đai, lao động, đem lại giá trị kinh tế và lợi nhuận cao và tìm cách xuất
khẩu vốn công nghệ , chuyên gia nông nghiệp ra các nớc ngoài, có đất đai và
lao động rẻ hơn, để sản xuất nông sản đa về nớc và đem xuất khẩu.
Kết luận:
10
+Trong thời gian từ 1949-1953 để mở đờng cho công nghiệp hoá Đài
Loan đã thực hiện cải cách ruộng đất, chuyển phơng thức sở hữu và sử dụng đất
phong kiến sang phơng thức sử dụng ruộng đất t bản chủ nghĩa.
+Đài Loan đã chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp từ hớng nội phục vụ nhu
cầu nhu cầu trong nớc sang hớng ngoại phục vụ nhu cầu xuất khẩu nông sản.
+Đã chuyển dịch cơ cấu nông lâm ng nghiệp cho phù hợp từng thời kỳ
công nghiệp hoá theo hớng tăng tỷ trọng sản phẩm chăn nuôi thuỷ sản, rau quả
và giảm tỷ trọng lơng thực, lâm sản.
+Chuyển dịch lao động nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp ở thành
thị và nông thôn, tạo ra thu nhập cao hơn, đáp ứng nhu cầu cho công nghiệp.
+Chuyển dịch lao động động thủ công trong nông thôn sang lao động cơ
khí trên lao động chuồng trại và trong xí nghiệp chế biến nông sản.
+ Khi công nghiệp phát triển trình độ lao động cao, sẩn xuất nông nghiệp
có xu thế giảm sản xuất mọt số nông sản và thay thế bằng nông sản nhâp khẩu
có lợi cao, chuyển sản xuất nông nghiệp từ nội địa ra nớc ngoài, nhằm vào đất n-
ớc có đất đai và lao động rẻ để sản xuất và xuất khẩu nông sẩn từ nớc ngoài có
lợi hơn.
b. Kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của
Indonesia.
Với hơn 200 triệu dân và 70% dân c sống ở nông thôn, ngành nông
nghiệp Indonesia có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nớc. Vấn đề
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nnn1 của Indonesia quan tâm sâu sắc, trong đó chính
sách phát triển nông nghiệp tập trung sản xuất lơng thực, thực phẩm vì mục tiêu
an toàn lơng thực, thực phẩm và đề cao vai trò khu vực nông thôn.
Để thực hiện việc dễ dàng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
chính phủ nớc này đã tăng cờng phát triển cơ sở hạ tầng nh đờng sá, công trình
thuỷ lợi, nghiên cứu ứng dụng các loại giống cao sản đều đ ợc trợ giá ở mức
độ khác nhau. Đây chính là điều kiện nhằm khuyến khích phát triển cho nền
kinh tế nông nghiệp.
11
Cơ cấu và diện tích cây trồng liên tục đợc mở rộng, chú trọng phát triển
những cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu ở các trang trại nhà nớc và t nhân.
Trong khu vực Đông Nam á, Indonesia thực hiện khá tốt chính sách phát triển
kinh tế trang trại. Nhờ đó, Indonesia trở thành nớc xuất khẩu ca cao, cà phê, chè
hàng đầu thế giới. Chính phủ nớc này luôn cố gắng duy trì sự cần bằng tơng đối
giữa nông nghiệp và những ngành công nghiệp, dịch vụ đa khoa học kỹ thuật
vào sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu, hỗ trợ giải quyết các yếu tố đầu vào, đầu ra
cho sản xuất nông nghiệp.
3. Các nhân tố ảnh hởng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
và nông thôn.
+Vị trí đại lý và khí hậu tự nhiên: ở những vị trí địa lý khác nhau và vùng
khí hậu khác , việc xác định cơ cấu kinh tế cũng khác nhau. Xác định cơ cấu
kinh tế nông nghiệp và nông thôn cũng có nghĩa là xác định cơ cấu kinh tế
nông nghiệp và nông thôn ở các vùng điều kiện địa lý và khí hậu tự nhiên khác
nhau của nớc ta. Bởi vậy, cơ cấu kinh tế của một nớc, một vùng bao giờ cũng
dựa trên qu thế về điạ lý và khí hậu của nớc đó, vùng đó.
+Các nguồn lợi: bao gồm tài nguyên khoáng sản,nguồn nớc, nguồn năng
lợng, đất đai có hay không có, có nhiều hay có ít các tài nguyên này sẽ ảnh h -
ởng rất lớn đến việc xác định cơ cấu kinh tế của một quốc gia nó chung và của
vùng đó nói riêng.
+Phong tục tập quán và truyền thống dân tộc: Đây là nhân tố vừa có tác
dụng thúc đẩy vừa có tác dụng kìm hãm. Một quốc gia nào hay một vùng nào đó
ở đâu đó có phong tục tập quán canh tác lạc hậu ví dụ nh du canh, du c thì ở đó
có sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất diễn ra không thể nhanh chóng và suôn sẻ đợc.
Ngợc lại, ở đâu có tập tụ, tập quán truyền thống sản xuất tiến bộ thì ở đó việc
làm chuyển biến cơ cấu kinh tế nói chung sẽ dễ dàng hơn.
+Trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ : với trình độ này càng cao thì
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ càng dễ dàng hơn và công nghệ hiện đại, tiên
tiến đó sẽ là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nói chung, nông nghiệp và nông thôn nói riêng.
12
+Con ngời: ta biết rằng cơ cấu kinh tế mang tính khách quan, thế nhng
việc nó hình thành nhanh hay chậm , hợp lý hay không hợp lý, lại do tác động
chủ quan của con ngời. Bởi vì, con ngời là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong
việc tiến hành cơ cấu kinh tế.
Ví dụ điển hình nh Nhật Bản, một nớc hiếm tài nguyên, đất nớc vơn lên
ngang tầm với các nớc phát triển nhất trên thế giới, một đất nớc có nền kinh tế,
khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển.
4. Sự cần thiết phải công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp
Chuyển dịc cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp nói riêng theo hớng ngày càng tiến boọ là một xu thế tất yếu khách quan
của các nền kinh tế quốc gia khác nhau, nó vừa có những nét chung mang tính
quy luật và vừa có những nét riêng mang tính đặc thù phù hợp với yêu cầu và
điều kiện cụ thể của nền kinh tế mỗi quốc gia ấy trong từng thời kỳ lịch sử.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là kết quả của sự phát triển trong
cạnh tranh trên thị trờng, những ngành có hiệu quả cao sẽ phát triển ngày càng
mạnh mẽ, các ngành kém hiệu quả sẽ bị thu hẹp lại, mà việc chủ động thúc đẩy
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung theo mục tiêu và nhu cầu của sự phát
triển, gắn với dự báo tiến bộ khoa học công nghệ và thị trờng là một trong những
khâu quyết định tạo ra tăng trởng kinh tế, ở những nớc có công nghệ tiên tiến thì
luôn tạo ra công nghệ mới, còn ở những nớc đang phát triển thì tiếp nhận chuyển
giao công nghệ tiên tiến, từ đó hình thành cơ cấu mới trong công nghiệp và
trong nền kinh tế với các ngành nghề mới, sản phẩm mới, tạo ra sức cạnh tranh
cao và tăng trởng nhanh.
Đất nớc ta xuất phát và đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu chính vì
vậy chúng ta phải tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và
nông thôn.
Trong nông nghiệp và nông thôn, đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại
hoá sẽ thúc đẩy nông nghiệp phát triển vợt bậc. Thực hiện công nghiệp hoá -
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn sẽ thúc đẩy đợc nhiều vùng sản xuất hàng
hoá tập trung, chuyên canh nh: lúa, cao su, cà phê, chè Hơn nữa, với ngành
13
công nghiệp chế biến nông, lâm thuỷ sản đã có những bớc tăng trởng đáng kể .
Đó là điều kiện nhằm thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông
thôn.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét