Chơng I
Những vấn đề lý luận về hội nhập kinh tế quốc
tế và vai trò của doanh nghiệp Việt nam trong
tiến trình hội nhập AFTA
1.1. bản chất và tính tất yếu của quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế.
1.1.1. Khái niệm và bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế [14], [15], [36]
Hội nhập kinh tế quốc tế (International integration) là một xu hớng vận
động tất yếu của các nền kinh tế trên thế giới trong điều kiện hiện nay khi quá
trình toàn cầu hóa và khu vực hóa nền kinh tế thế giới đang diễn ra nhanh chóng
dới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ. Toàn cầu hóa - hội
nhập kinh tế quốc tế là thuật ngữ xuất hiện trong một vài thập kỷ gần đây. Xu thế
này ngày càng là một yếu tố quan trọng và tác động rất lớn đến t duy và chính
sách của các Chính phủ cũng nh của các tổ chức quốc tế trong thế kỷ XXI. Theo tổ
chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD) thì toàn cầu hóa (globalisation) là quá
trình diễn ra do sự thay đổi về công nghệ, tăng trởng dài hạn liên tục về ĐTNN và
nguồn lực quốc tế, và sự hình thành trên phạm vi rộng lớn với qui mô toàn cầu
những hình thức mới về các mối liên kết quốc tế giữa các công ty và các quốc gia.
Sự kết hợp này làm tăng quá trình hội nhập giữa các quốc gia và thay đổi bản chất
của cạnh tranh toàn cầu
Toàn cầu hoá có thể đợc hiểu là quá trình hoàn thiện tính chỉnh thể của nền
kinh tế thế giới để làm cho tính chất thống nhất và duy nhất của nó đợc gia tăng
không ngừng. Toàn cầu hoá liên quan mật thiết với quá trình tự do hoá và việc loại
bỏ dần tính tách biệt, khác biệt thành sự hội nhập tự giác và hình thành những mối
quan hệ kinh tế tơng đồng có tính chất quốc tế. Toàn cầu hoá trớc hết đợc xem xét
về mặt kinh tế nhng nó cũng có những khía cạnh nhất định liên quan đến khía
cạnh chính trị, lối sống, văn hoá và xã hội cũng nh tâm lý, thói quen.
Cho đến nay có nhiều khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế. Một cách
thông thờng, có thể hiểu: Hội nhập kinh tế quốc tế là sự phản ánh quá trình các
thể chế quốc gia tiến hành xây dựng, thơng lợng, ký kết và tuân thủ các cam kết
song phơng, đa phơng và toàn cầu ngày càng đa dạng hơn, cao hơn và đồng bộ
hơn trong các lĩnh vực đời sống kinh tế quốc gia và quốc tế. Theo quan niệm
của Hội đồng khoa học Đại học Kinh tế Quốc dân thì Hội nhập kinh tế là quá
trình loại bỏ dần các hàng rào thơng mại quốc tế, thanh toán quốc tế và việc di
5
chuyển các nhân tố sản xuất giữa các nớc .
Tuy nhiên, khái niệm tơng đối phổ biến, đợc nhiều nớc hiện nay chấp nhận,
đó là: Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của một n ớc vào các tổ
chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nớc
thành viên có sự ràng buộc theo những qui định chung của khối. Nói cách khác,
hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình thực hiện chính sách kinh tế mở, tham gia
vào các định chế kinh tế và tài chính quốc tế, thực hiện thuận lợi hoá và tự do
hoá thơng mại, đầu t và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác. Theo khái niệm
này, hội nhập kinh tế quốc tế vừa là một trạng thái, vừa là một quá trình của sự
phát triển nền kinh tế quốc gia trong mối quan hệ thống nhất với nền kinh tế thế
giới. [4], [14], [21]
Tác giả luận án cho rằng, các khái niệm nêu trên cơ bản là thống nhất với
nhau, sự khác nhau có chăng là do chúng xuất phát từ những khía cạnh khác nhau
và nhấn mạnh một đặc trng nào đó. Với cách tiếp cận của luận án này, hội nhập
kinh tế quốc tế (international integration) đợc hiểu nh là các chính sách, biện pháp
mà chính phủ thực thi nhằm mở cửa kinh tế hay trở thành thành viên của một hệ
thống tổ chức quốc tế. Chính sách hội nhập kinh tế quốc tế gắn liền với mở cửa
và trao đổi nguồn lực, không những trên cả lĩnh vực kinh tế mà còn trên các lĩnh
vực khác nh văn hóa, khoa học kỹ thuật, và sẽ còn mở rộng sang các lĩnh vực khác
của đời sống xã hội.
Từ khái niệm trên, đối chiếu vào quá trình diễn biến của hội nhập kinh tế
quốc tế trên thế giới, có thể thấy bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện ở
một số khía cạnh sau:
- Hội nhập kinh tế quốc tế là xoá bỏ từng bớc và từng phần các rào cản về
thơng mại cũng nh về đầu t giữa các quốc gia theo hớng tự do hoá kinh tế.
- Hội nhập kinh tế quốc tế là tạo điều kiện thuận lợi và đòi hỏi hệ thống
doanh nghiệp phải thích ứng nhanh chóng với các đổi thay của nền kinh tế thế
giới, qua đó mà nâng cao sức cạnh tranh của từng doanh nghiệp.
- Hội nhập kinh tế quốc tế là tạo điều kiện thuận lợi và đòi hỏi sự cải cách
nhất định về thể chế kinh tế, trớc hết là các chính sách và phơng thức quản lý kinh
tế vĩ mô, qua đó phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trờng.
- Hội nhập kinh tế quốc tế là tạo dựng các nhân tố mới và điều kiện mới cho
sự phát triển của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế (khơi dậy nguồn lực bên
trong và thu hút nguồn lực bên ngoài, mở rộng thị trờng, chuyển giao công nghệ
và kinh nghiệm quản lý tiên tiến).
6
Tuy nhiên, bên cạnh những khía cạnh tích cực trên, hội nhập kinh tế quốc tế
cũng có thể đa tới tình trạng dễ tổn thơng của nền kinh tế quốc gia, tình trạng lệ
thuộc bên ngoài về kinh tế và chủ quyền quốc gia, tình trạng đối xử thiếu công
bằng giữa các thành viên cũng nh gây sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp.
Từ khái niệm và bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế nêu trên cần xác định rõ nội
dung của quá trình hội nhập kinh tế để từ đó thấy rõ những công việc cần làm ở
mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi đơn vị. Trong thực tiễn, quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế diễn ra rất phong phú và đa dạng nhng có thể thấy nó tập trung ở những nội
dung chủ yếu sau đây:
- Tiếp cận thị trờng thế giới cả về bề rộng và bề sâu với các thông tin cập
nhật và có khả năng dự báo đợc. Nội dung này đặt ra không những đối với cơ quản
lý và hoạch định chính sách mà đối với tất cả các doanh nghiệp, các đơn vị sản
xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế.
- Thực hiện việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế đề vừa đảm bảo cho sự tăng tr-
ởng bền vững của nền kinh tế trong nớc, vừa phát huy lợi thế so sánh và chủ động
tham gia vào phân công lao động quốc tế, nâng cao khả năng xâm nhập thị trờng
quốc tế của hàng hoá dịch vụ.
- Nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia, của từng ngành
và từng doanh nghiệp thông qua việc áp dụng mọi biện pháp để giảm thiểu các
chi phí đầu vào, các chi phí trung gian không cần thiết, áp dụng công nghệ mới để
nâng cao chất lợng hàng hoá dịch vụ, thờng xuyên cải tiến mẫu mã, kiểu dáng, bao
bì hàng hoá để ngời tiêu dùng trong và ngoài nớc chấp nhận.
- Công tác quản lý và điều hành vĩ mô nền kinh tế phải tạo nên sự phản ứng
linh hoạt, chuẩn xác trớc những đòi hỏi và diễn biến của thị trờng thế giới; phối
hợp có hiệu quả giữa định hớng kế hoạch của Nhà nớc với cơ chế thị trờng; thực
hiện tốt các cơ chế tự vệ, tránh sự lệ thuộc, tránh bị tổn thơng trớc tác động của thị
trờng thế giới.
- Tạo điều kiện về thể chế, chính sách và tâm lý thuận lợi cho sự phát triển
bình đẳng mọi thành phần kinh tế, trong đó một mặt chú trọng tiếp tục cải cách
doanh nghiệp Nhà nớc, một mặt khuyến khích phát triển kinh tế t nhân, lành mạnh
hoá và nâng cao sức cạnh tranh của tất cả các loại hình doanh nghiệp.
- Tăng cờng đầu t cho việc phát triển nguồn nhân lực trong đó đặc biệt chú
trọng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao.
Các nội dung nêu trên cần đợc cụ thể hoá trong kế hoạch, chơng trình hoạt
động của các ngành, các cấp, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội từ Trung
ơng đến địa phơng sao cho có sự tính toán phù hợp với lộ trình hội nhập.
7
1.1.2. Các loại hình hội nhập kinh tế quốc tế [14], [25], [30]
Hội nhập kinh tế quốc tế có nhiều hình thức khác nhau, thể hiện qua các biện
pháp tự do hoá và mở cửa kinh tế đơn phơng (nhất là về thơng mại và nới lỏng kiểm
soát FDI và các luồng vốn) hay qua việc tham gia các cam kết, thoả thuận song ph-
ơng, khu vực và đa phơng ở phạm vi toàn cầu. Các loại hình liên kết kinh tế song ph-
ơng và khu vực có thể bao gồm việc nới lỏng hoặc xoá bỏ rào cản đối với thơng mại
hoặc sự luân chuyển các nhân tố sản xuất (nh vốn, lao động) cho đến việc thống nhất
các chính sách kinh tế. Chính vì vậy các loại hình liên kết kinh tế quốc tế cũng chính
là các hình thức của hội nhập kinh tế quốc tế.
Xu thế này diễn ra sâu rộng và lan truyền trên phạm vi toàn cầu trong
những thập kỷ cuối của thế kỷ XX đã tạo ra những xu thế mới nh xu thế khu vực
hóa và toàn cầu hóa (regionalisation - globalisation). Sau đây là các hình thức chủ
yếu của hội nhập kinh tế quốc tế (hoặc liên kết kinh tế quốc tế).
Bảng 1- Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế
Đặc
Đặc trng
Các
loại hình
Hàng hoá và
dịch vụ di
chuyển tự do
Thống nhất
chính sách
thuế quan với
các nớc không
phải thành
viên
Sức lao
động và
vốn đầu t
di chuyển
tự do
Thống nhất dự trữ
tiền tệ, phát hành
đồng tiền tập thể,
thống nhất giao
dịch tiền tệ và chính
sách hối đoái
Thống nhất và kết
hợp hài hoà các
chính sách kinh tế,
tài khoá, tiền tệ,
hình thành cơ cấu
kinh tế khu vực
Khu vực
mậu dịch tự
do
Có Không Không Không Không
Đồng minh
thuế quan
Có Có Không Không Không
Thị trờng
chung
Có Có Có Không Không
Liên minh
tiền tệ
Có Có Có Có Không
Liên minh
kinh tế
Có Có Có Có Có
Nguồn: Franklin R.Root, International Trade and Investment South - Western Publishing
Company, 1992 [67].
a-Khu vực mậu dịch tự do (The Free Trade Area - FTA)
FTA là hình thức và mức độ hội nhập đầu tiên và thấp nhất của quá trình
8
liên kết kinh tế quốc tế khu vực. Trong FTA, các hàng rào thơng mại giữa các nớc
sẽ bị dẹp bỏ, tiến hành tự do trao đổi giữa các nớc. Trên thực tế, FTA đợc hình
thành do loại bỏ hàng rào thơng mại đối với một số hàng hóa hay dịch vụ nào đó.
Ví dụ, FTA không có hạn chế về mậu dịch đối với các sản phẩm nông nghiệp. Đặc
điểm đáng chú ý nhất của FTA là mỗi nớc có quyền định ra chính sách của chính
mình có liên quan đến các thành viên không tham gia trong khu vực. Nói cách khác
các thành viên sẽ đặt bất kỳ thuế quan, hạn ngạch, hoặc những hạn chế khác mà họ
lựa chọn để buôn bán với các nớc không thuộc FTA đó.
FTA nổi tiếng nhất là FTA Châu Âu (European Free Trade Area - EFTA).
FTA Châu Âu đợc hình thành vào năm 1960 với sự thỏa thuận của 8 nớc châu Âu
(Anh, áo, Đan Mạch, Na Uy, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ và Phần Lan); giữa
các nớc này không có hàng rào thơng mại. Sau này, EFTA đã mất dần tầm quan
trọng của nó vì sự ra đời của một tổ chức có mức độ hội nhập cao hơn là Cộng
đồng Châu Âu (European Community) và tiếp theo là Liên minh Châu Âu (EU -
European Union) . Hơn nữa, rất nhiều thành viên của EFTA tìm cách để tham gia
vào Liên minh Châu Âu hoặc hợp tác trong khu vực kinh tế Châu Âu nói chung.
Một Khu vực mậu dịch tự do FTA điển hình khác là NAFTA (Hiệp ớc th-
ơng mại tự do Bắc Mỹ - North American Free Trade Agreement) trên cơ sở hiệp -
ớc thơng mại giữa Mỹ, Canada có hiệu lực vào năm 1989, đợc mở rộng với sự
tham gia của Mêhicô vào hiệp ớc này năm 1994, còn AFTA chính là Khu vực mậu
dịch tự do của các nớc ASEAN đợc khởi đầu từ 1/1/1993 và cơ bản sẽ hoàn tất
lịch trình hội nhập của nó vào năm 2003. Một số nớc thành viên của khu vực này
do gia nhập chậm hơn nên tiến trình này có thể kéo dài đến năm 2006 và năm
2008.
Khu vực mậu dịch tự do là hình thức đơn giản nhất của hội nhập kinh tế
quốc tế, tuy nhiên, để đi đến hình thức hội nhập ổn định này, các quốc gia thành
viên có thể áp dụng một hình thức quá độ là xây dựng khu vực u đãi thơng mại
hoặc những hình thức tơng tự.
b- Đồng minh thuế quan (the Custom Unions)
Đồng minh thuế quan là bớc cao hơn trong việc hội nhập kinh tế quốc tế.
Giống nh các thành viên trong FTA, các thành viên trong đồng minh thuế quan
cũng loại bỏ hàng rào về thơng mại hàng hóa và dịch vụ giữa các nớc này. Ví dụ,
Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) ra đời vào năm 1957 bao gồm CHLB Đức,
Pháp, ý, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg. Trình độ liên kết cao hơn của loại hình đồng
minh thuế quan cũng thể hiện ở việc thiết lập một chính sách thơng mại chung cho
9
các thành viên không thuộc đồng minh thuế quan đó.
Với hình thức liên kết kinh tế này, chính sách mậu dịch của các nớc thành
viên trở thành một bộ phận của chính sách mậu dịch của các nớc trong cộng đồng.
Ví dụ, một hình thức thuế nhập khẩu từ các nớc không thuộc đồng minh thuế quan
thì chịu cùng một thuế xuất nhập khẩu khi bán cho bất kỳ thành viên nào. Hiệp
định chung về thơng mại và thuế quan (GATT-General Agreement for Trade and
Tariffs) cũng là một hình thức của liên kết này. Việc chuyển từ Hiệp định chung
về thơng mại và thuế quan lên thành Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) có thể
làm tăng cờng hơn đặc trng và mở rộng phạm vi của loại hình liên kết này.
c- Thị trờng chung (Common Market)
Bớc tiếp theo của chuỗi hội nhập kinh tế quốc tế là thị trờng chung (Common
Market). Giống nh đồng minh thuế quan, thị trờng chung không có hàng rào thơng
mại giữa các thành viên và có một chính sách đối ngoại chung. Tuy nhiên, các yếu
tố lao động, sản xuất, vốn và công nghệ cũng đợc dịch chuyển tự do giữa các nớc.
Vì thế việc cấm nhập c, di c và ngăn cản đầu t ra nớc ngoài giữa các nớc thành viên
bị bãi bỏ. Tuy nhiên, tầm quan trọng của sự dịch chuyển giữa các yếu tố cho sự tăng
trởng kinh tế không thể đề cao quá mức.
Mặc dù đạt đợc các lợi ích cụ thể, các thành viên trong thị trờng chung phải
chuẩn bị hợp tác chặt chẽ trong chính sách tiền tệ, tài chính và việc làm. Thị trờng
chung sẽ nâng cao năng suất của toàn thể thành viên nhng không hẳn là bản thân
mỗi nớc đạt đợc lợi ích nh nhau. Thị trờng chung Châu Âu (EEC) trớc đây là một ví
dụ cho hình thức hội nhập này.
d-Liên minh tiền tệ (Monetary Union)
Liên minh tiền tệ là hình thức của liên kết kinh tế quốc tế diễn ra trên lĩnh
vực tiền tệ. Liên minh tiền tệ là một hình thức hội nhập trong đó các nớc thành
viên cùng phối hợp và thống nhất các chính sách tiền tệ, giao dịch tiền tệ quốc tế,
dự trữ tiền tệ, phát hành đồng tiền tập thể. Đồng thời, các quốc gia thống nhất
chính sách tỷ giá hối đoái, duy trì chế độ tỷ giá hối đoái đợc điều tiết trong một
giới hạn nhất định và có những biện pháp can thiệp trong những trờng hợp nhất
định để ổn định các quan hệ tiền tệ giữa các thành viên.
Đây là hình thức hội nhập cao hơn so với các hình thức trên đây. Liên minh
tiền tệ Châu Âu là một ví dụ điển hình của loại hình này. Liên minh tiền tệ Châu
Âu đã cho ra đời đồng tiền chung của các nớc châu Âu (EURO) kể từ 1/1/1999.
Đồng tiền EURO ra đời đã góp phần làm giảm chi phí giao dịch, thúc đẩy quá
trình tự do hoá tài chính và tự do hoá thơng mại, đầu t và lao động giữa các nớc
10
thành viên. Kể từ 1/7/2002, các đồng tiền quốc gia của các nớc thành viên đợc
thay thế bằng đồng EURO (12/15 quốc gia).
e- Liên minh kinh tế (Economic Union)
Liên minh kinh tế là hình thức phát triển ở trình độ cao của hội nhập kinh tế
quốc tế và cũng là loại hình cao nhất của liên kết kinh tế. Việc tạo ra liên minh
kinh tế cần sự hội nhập chính sách kinh tế hơn là sự di chuyển hàng hóa, dịch vụ
và yếu tố sản xuất qua biên giới. Liên minh Châu Âu (EU - European Union) đợc
thành lập từ năm 1993 đợc coi là một liên kết kinh tế. Thông qua liên minh kinh tế
quốc tế, các thành viên sẽ hòa hợp chính sách tiền tệ, chính sách thuế và chính
sách chi tiêu Chính phủ. Hơn nữa, tất cả các thành viên sẽ sử dụng chung một đơn
vị tiền tệ thống nhất. Điều này có thể thực hiện trong thực tế bởi một tỷ giá hối
đoái cố định. Rõ ràng việc hình thành liên minh kinh tế cần đòi hỏi các quốc gia
bỏ qua một phần lớn chủ quyền quốc gia. Hệ thống chính trị toàn cầu cho đến nay
vẫn dựa trên sự tự chủ và quyền lực tối cao của các quốc gia, bởi vậy việc giảm bớt
quyền lực Nhà nớc sẽ chắc chắn luôn gặp phải sự phản ứng gay gắt.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu diễn ra đối
với các tổ chức dới góc độ là một quốc gia. Bởi vì hầu hết các nớc trên thế giới đều
nhận thức rằng muốn phát triển hệ thống kinh tế xã hội của mình thì phải mở cửa
ra bên ngoài, tức là tất yếu phải tham gia vào hội nhập. Tuy nhiên, hội nhập kinh
tế quốc tế không chỉ có những ảnh hởng tích cực mà còn có những ảnh hởng tiêu
cực đến các quốc gia thành viên, và tất nhiên sự tác động tích cực hoặc tiêu cực
này cũng ảnh hởng tới các tổ chức có qui mô nhỏ hơn nằm trong hệ thống quốc
gia đó. Do vậy, hoạt động quản lý các tổ chức hiện nay và tơng lai tất yếu phải
phân tích và gắn với xu thế toàn cầu hóa này.
Các loại hình liên kết kinh tế quốc tế nêu trên là những nấc thang của quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế. Chúng hoạt động dựa trên 5 nguyên tắc sau (đây
cũng chính là 5 nguyên tắc hoạt động của WTO):
- Nguyên tắc không phân biệt đối xử nhằm đảm bảo sự đối xử bình đẳng
giữa các nớc thành viên với nhau cũng nh trên thị trờng mỗi nớc. Nguyên tắc này
đợc cụ thể thành quy chế tối huệ quốc (tất cả hàng hoá, dịch vụ và công ty của các
nớc đối tác đều đợc hởng một chính sách chung bình đẳng) và quy chế đối xử
quốc gia (tức là không phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ và ngời sản xuất
của mình với hàng hoá, dịch vụ và ngời sản xuất nớc khác trên thị trờng nội địa).
11
- Nguyên tắc tiếp cận thị trờng nhằm tạo ra một môi trờng thơng mại mà bất
cứ thành viên nào cũng đợc tiếp cận (mở cửa thị trờng cho nhau và công bố công
khai chính sách và luật lệ thơng mại).
- Nguyên tắc cạnh tranh công bằng.
- Nguyên tác áp dụng các hoạt động khẩn cấp trong trờng hợp cần thiết (khi
có đe doạ thái quá từ bên ngoài).
- Nguyên tắc u đãi giành cho các nớc đang và chậm phát triển (kéo dài thời
gian hoặc mức độ cam kết thấp hơn).
1.1.3. Tính tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tự do hóa thơng mại đợc xem là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trởng
kinh tế và nâng cao mức sống cho mọi quốc gia. Hầu hết các nớc trên thế giới đều
điều chỉnh chính sách theo hớng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ các rào cản thơng
mại, làm cho việc luân chuyển hàng hóa và các nhân tố sản xuất trên thế giới ngày
càng thông thoáng hơn. Để tránh bị tụt hậu, các nớc trên thế giới đang ngày càng
nỗ lực hội nhập vào xu thế chung để tăng cờng sức mạnh kinh tế. Quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế diễn ra từ lâu, đi từ thấp lên cao với những mức độ và phạm vi
khác nhau.
Khu vực mậu dịch tự do đợc hiểu là một nhóm gồm hai hay nhiều lãnh thổ,
trong đó thuế quan và các quy định hạn chế thơng mại đợc xóa bỏ về cơ bản trong
trao đổi thơng mại các sản phẩm có xuất xứ từ các lãnh thổ lập thành Khu vực
mậu dịch tự do. Các loại hình liên kết kinh tế tiếp theo ra đời phản ánh quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, chúng
là kết quả của quá trình quốc tế hoá, khu vực hoá mà động lực bên trong là sự phát
triển của lực lợng sản xuất mà trớc hết là của khoa học, kỹ thuật và công nghệ.
Trên thế giới, quá trình quốc tế hóa tiếp tục đang diễn ra với quy mô ngày
càng lớn, với một tốc độ ngày càng cao trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh
tế thế giới. Quá trình quốc tế hóa này diễn ra ở những cấp độ khác nhau với xu h-
ớng toàn cầu hóa đi đôi với xu hớng khu vực hóa. Xu hớng khu vực hóa thể hiện ở
việc hình thành các liên kết kinh tế khu vực với các hình thức đa dạng: Liên minh
Châu Âu (EU), Hiệp hội mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Diễn đàn kinh tế Châu
á -Thái Bình Dơng (APEC) Xu hớng quốc tế hóa đặt ra một yêu cầu tất yếu:
Mỗi quốc gia phải mở cửa ra thị trờng thế giới và chủ động tham gia vào phân
công lao động quốc tế, tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực để phát triển
bền vững.
12
Hiện nay, xu thế hoà bình, hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi
bức xúc của các dân tộc và các nớc trên thế giới. Các nớc đều cần có môi trờng
hoà bình, ổn định và thực hiện chính sách mở cửa; các nền kinh tế ngày càng gắn
bó, tuỳ thuộc lẫn nhau, tạo động lực cho tăng trởng kinh tế; các thể chể đa phơng
trên thế giới và khu vực có vai trò ngày càng tăng cùng với sự phát triển của ý thức
độc lập tự chủ, tự lực tự cờng của các dân tộc.
Toàn cầu hoá đang là một trong những xu thế phát triển chủ yếu của quan
hệ quốc tế hiện đại. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã và đang thúc đẩy
mạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tác giữa các quốc gia, làm cho lực l-
ợng sản xuất đợc quốc tế hoá cao độ. Những tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt
là lĩnh vực công nghệ thông tin, đã đa các quốc gia gắn kết lại gần nhau, dẫn tới sự
hình thành những mạng lới toàn cầu. Trớc những biến đổi to lớn về khoa học công
nghệ này, tất cả các nớc trên thế giới đều thực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế, điều
chỉnh chính sách theo hớng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và
phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hoá, luân chuyển vốn, lao động và kỹ
thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng hơn, mở đờng cho kinh tế quốc tế phát
triển.
Đại diện cho xu thế toàn cầu hoá này là sự ra đời của Hiệp định chung về
thuế quan và thơng mại - GATT vào năm 1948 với 23 nớc thành viên sáng lập với
mục tiêu xác lập những nguyên tắc điều chỉnh và thúc đẩy thơng mại quốc tế phục
vụ cho phát triển kinh tế của mỗi nớc thành viên. Kể từ 1/1/1995, GATT đã đợc
đổi thành Tổ chức thơng mại Thế giới (WTO) có vai trò điều tiết không chỉ thơng
mại hàng hoá mà mở rộng sang cả thơng mại dịch vụ, đầu t, quyền sở hữu trí tuệ.
Đến nay, với 143 nớc thành viên chiếm trên 90% tổng kim ngạch thơng mại thế
giới, WTO trở thành một tổ chức có qui mô toàn cầu và là nền tảng pháp lý cho
quan hệ kinh tế quốc tế, là diễn đàn thờng trực đàm phán thơng mại và là thể chế
giải quyết các tranh chấp thơng mại quốc tế.
Xu thế khu vực hoá xuất hiện ở những năm 1950, cũng đã và đang phát
triển mạnh mẽ cho tới ngày nay, với sự ra đời của trên 40 tổ chức kinh tế, thơng
mại khu vực, trong đó đáng chú ý là sự ra đời của Liên minh châu Âu - EU năm
1993 với 12 nớc thành viên (số thành viên dự kiến sẽ tăng lên 25 quốc gia), Hiệp
hội các nớc Đông Nam á - ASEAN năm 1967 với 10 nớc thành viên, Diễn đàn
hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng APEC năm 1989 với 21 nớc thành viên
chiếm trên 60% GDP và 50% kim ngạch thơng mại thế giới, Khu vực thơng mại tự
do Bắc Mỹ NAFTA năm 1994.
13
Các tổ chức kinh tế - thơng mại khu vực đều dựa trên nền tảng của WTO,
tuân thủ các nguyên tắc của WTO, đợc WTO công nhận, đều nhằm mục tiêu đẩy
mạnh hợp tác, thực hiện tự do hoá, thuận lợi hoá thơng mại và đầu t, tạo lập lợi thế
cạnh tranh trên trờng quốc tế. Các tổ chức khu vực đều đề cập tới các nội dung
trùng với WTO, nhng mỗi tổ chức đều chọn những lĩnh vực mà mình có lợi thế
hơn để tập trung nguồn lực, hợp tác chiều sâu, theo những phơng thức đa dạng
nhằm tạo lợi thế cạnh tranh riêng cho khu vực.
Có thể nói bản chất của các tổ chức quốc tế và khu vực là giải quyết vấn đề
thị trờng. Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá là sản phẩm của quá trình cạnh
tranh giành giật thị trờng gay gắt giữa các nớc và giữa các thực thể kinh tế quốc tế.
Với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, sức sản xuất
ngày càng phát triển kéo theo sự đòi hỏi cấp bách của vấn đề thị trờng tiêu thụ.
Với sự hợp tác quốc tế, những hàng rào cản trở giao lu thơng mại và đầu t ngày
càng giảm đi, kinh tế thế giới có xu thế ngày càng trở thành một thị trờng chung.
Tất cả các nớc, để khỏi bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển, đều phải nỗ lực
hội nhập vào xu thế chung, ra sức cạnh tranh kinh tế vì sự tồn tại và phát triển của
chính mình. Đây thực chất là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh phân chia thị tr-
ờng. Cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính - tiền tệ ở Châu á nửa cuối thập kỷ 90
không những không đảo ngợc xu thế liên kết khu vực, liên kết quốc tế về thơng
mại, đầu t trên thế giới mà thậm chí còn có phần kích thích xu thế đó phát triển.
Tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nớc tăng lên làm cho tất cả các nớc phải thờng
xuyên có những cải cách kịp thời trong nớc để thích ứng với những sự biến động
trên thế giới.
Vì vậy, hội nhập kinh tế quốc tế thực chất là cuộc đấu tranh phức tạp để góp
phần phát triển kinh tế và củng cố an ninh chính trị, độc lập kinh tế và bản sắc dân
tộc của mỗi nớc thông qua việc thiết lập các mối quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau, đan
xen, nhiều chiều, ở nhiều tầng nấc với các nớc khác. [3], [10], [24]
1.1.4. Những tác động của việc tham gia vào khu vực Mậu dịch tự do
[14], [25], [30]
Việc thành lập Khu vực mậu dịch tự do có những tác động nhất định đối với
các nớc tham gia. Những biểu hiện của các ảnh hởng này rất đa dạng. Những ảnh
hởng chủ yếu của việc tham gia vào khu vực mậu dịch tự do của một nớc đợc thể
hiện ở việc tạo lập mậu dịch và chuyển hớng mậu dịch
1.1.4.1. Tạo lập mậu dịch
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét