được sự tăng trưởng mạnh mẽ. Trong quá trình kinh doanh của mình Bảo Minh
CMG đã là một trong những công ty lớn mạnh trên thị trường tính theo doanh thu
phí bảo hiểm hàng năm và hơn 50 văn phòng kinh doanh khắp cả nước. Bảo Minh
CMG là một trong những liên doanh lớn nhất thập kỷ 90 trong lĩnh vực tài chính
của Việt Nam. Đó là sự sáp nhập của công ty Bảo Minh và thành viên của tập
đoàn Commonwealth Bank.
Bảo Minh là công ty bảo hiểm thứ hai tại Việt Nam (chiếm 21.6% thị phần
trên thị trường vào cuối năm 2005) trực thuộc bộ Tài chính với số lượng nhân viên
vào khoảng 800 người, lượng vốn góp là 6.1 triệu USD. Công ty này đã có 55
công ty thành viên tại 55 tỉnh thành và trụ sở chính tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng giá trị tài sản vào khoảng 600 tỷ đồng.
CMG là thành viên của tập đoàn Commonwealth Bank, một tập đoàn dịch
vụ tài chính lớn nhất của Úc có trụ sở tại Sidney. Được thành lập vào năm 1973
hiện nay tổng giá trị tài sản vào khoảng trên 310 tỷ đôla Úc (số liệu được ghi nhận
vào cuối năm 2005). Commonwealth là tập đoàn dịch cụ tài chính quốc tế đa năng
đã và đang có mặt ở 15 nước trên thế giới. Tổng giá trị tài sản và ngân quỹ do
Commonwealth Bank quản lý lên đến 200 tỷ đô la với hơn 10 triệu khách hàng
trên khắp thế giới. CMG đặc biệt có kinh nghiệm với hình thức hoạt động liên
doanh. Ngoài Bảo Minh CMG, CMG cũng đã thành công với các liên doanh bảo
hiểm nhân thọ ở nhiều nước trên thế giới như: Malaysia, Indonesia và Trung
Quốc.
Khi thành lập Bảo Minh CMG có khoảng 800 đại lý bảo hiểm với hơn 23
chi nhánh và 14 văn phòng trên toàn quốc. Các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ chính
là: Bảo hiểm hỗn hợp, Bảo hiểm An Sinh Giáo Dục, Bảo hiểm Hưu Trí, Bảo hiểm
Bệnh Hiểm Nghèo Dài Hạn. Đến năm 2007, Bảo Minh CMG cũng như Dai-ichi
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích kinh doanh nhất định. Tổng số hợp đồng
bảo hiểm lên tới gần 300.000 hợp đồng, số lượng đại lý bảo hiểm trên 6000 đại lý
5
với hơn 50 văn phòng trên toàn quốc. Doanh thu phí bảo hiểm năm 2007 đạt 473
tỷ đồng tăng 30% so với năm 2006.
3.Một số kết quả kinh doanh chủ yếu trong những năm gần đây.
Bảng 3.1:Bảng thống kê kết quả kinh doanh
Số
năm
Doanh
thu(tỷ
đồng)
Sản phẩm
Vốn kinh
doanh(triệu đô
la Mỹ)
Lao động
(người)
1999
-200
5
205
Bảo hiểm An Sinh Giáo Dục
Bảo hiểm Hưu Trí
Bảo hiểm Bệnh Hiểm Nghèo
8 150
2005 285
Bảo hiểm Hỗn Hợp
Bảo hiểm An Sinh Giáo Dục
Bảo hiểm Hưu Trí
Bảo hiểm Bệnh Hiểm Nghèo
10 250
2006 370
Bảo hiểm Hỗn Hợp
Bảo hiểm An Sinh Giáo Dục
Bảo hiểm Hưu Trí
Bảo hiểm Bệnh Hiểm Nghèo
Bảo hiểm Tử kỳ
Bảo hiểm Tai Nạn Toàn Diện
12.2 350
2007 473
Bảo hiểm Hỗn Hợp
Bảo hiểm An Sinh Giáo Dục
Bảo hiểm Hưu Trí
Bảo hiểm Bệnh Hiểm Nghèo
Bảo hiểm Mất Khả Năng Lao
Động
25 500
6
3.1.Doanh thu:
Nhìn vào bảng thống kê kết quả kinh doanh của Bảo Minh CMG chúng ta
cũng có được cái nhìn tổng quan nhất về tình hình kinh doanh của công ty trong
những năm gần đây, từ đó đưa ra được những nhận xét về tốc độ tăng trưởng của
công ty qua các năm.
H×nh 2.1: BiÓu ®å tæng doanh thu
0
100
200
300
400
500
2003 2004 2005 2006 2007
N¨m
Doanh thu
Tæng doanh thu
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Dai-ichi Việt Nam)
7
- Trong khoảng năm 1999 -2002 doanh thu trung bình thu được là 205 tỷ
đồng, tốc độ tăng doanh thu phí bảo hiểm của công ty đạt trên 100%, thị phần khi
mới thành lập Bảo minh CMG trên thị trường chỉ chiếm chưa đầy 2% mà trong
giai đoạn này đã tăng lên tới gần 3%.
- Năm 2004 tốc độ tăng doanh thu phí bảo hiểm đã có dấu hiệu chậm lại
nhưng vẫn ở mức cao là 23%, năm 2005 tốc độ tăng là 40% đã đẩy mức doanh thu
phí lên tới 285 tỷ đồng.
- Năm 2006 tăng ở mức 30% với doanh thu đạt 370 tỷ đồng.
- Ngày 18/1/2007 Dai-ichi Life mua lại Bảo minh CMG từ sự chuẩn y của
bộ tài chính thành lập nên Dai-ichi Việt Nam, tuy tốc độ tăng doanh thu phí bảo
hiểm chỉ đạt 28% nhưng cũng đã đạt được mức doanh thu là 473 tỷ đồng. Đây là
mức doanh thu khá cao so với các công ty bảo hiểm hiện nay đánh dấu bước khởi
đầu rất tốt đẹp của Dai-ichi Việt Nam.
3.2. Lao Động:
- Nguồn nhân lực được coi là thế mạnh của ngành bảo hiểm nói chung và
công ty Bảo minh CMG nói riêng. Khi mới thành lập công ty chỉ có khoảng 800
đại lý bảo hiểm, với 23 chi nhánh và hơn 10 văn phòng đại diện trên toàn quốc.
- Sang đến năm 2007 Dai-ichi Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ với số
lượng đại lý là 6000 với 50 văn phòng trên toàn quốc. Một số nơI vừa thành lập
văn phòng như: Vĩnh Long, Bạc Liêu, Bến Tre… Nguồn lao động luôn được xem
là thế mạnh của công ty từ trước tới nay.
3.3. Các giai đoạn phát triển:
a.Giai đoạn 1999-2005:
- Thời điểm năm 1999- 2003 được coi là giai đoạn bùng nổ của ngành Bảo
hiểm Việt
8
Nam bởi lúc đó thị trường đang trong giai đoạn hình thành và phát triền mạnh mẽ.
Năm 1999 đánh dấu bước tiến lớn nhất của Bảo Minh và CMG khi hai công ty này
liên kết với nhau tạo nên một công ty Bảo hiểm nhân thọ hùng mạnh với số vốn
đầu tư lên đến 10 triệu đôla Mỹ.
- Năm 2003 các doanh nghiệp bảo hiểm lớn tiếp tục khẳng định vị trí dẫn đầu
về thị phần doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ(76%) trong đó Bảo Minh CMG
chiếm 24%. Trong lĩnh vực kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ doanh thu phí bảo
hiểm của các hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực chiếm 2.67%, doanh thu phí bảo
hiểm nhân thọ có thời hạn trên 10 năm tiếp tục chiêm tỷ trọng cao, đánh dấu một
năm đầy thành công của Bảo Minh CMG.
- Năm 2004, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có những bước tiến nhanh,
mạnh, an toàn và vững chắc xét trên nhiều tiêu chí quan trọng. Một trong những
thành công nổi bật của thị trường bảo hiểm trong năm 2004 và được dư luận đánh
giá cao là việc thực hiện thắng lợi công tác cổ phần hóa Bảo Minh CMG và công
ty Tái bảo hiểm quốc gia(Vinare). Thành công trong công tác cổ phần hóa Bảo
Minh CMG và Vinare đã tạo tiền đề thực tiễn quan trọng và là bước thử nghiệm
cần thiết cho những quy định mới mang tính đột phá trong tiến trình cổ phần hóa.
- Thị phần trên thị trường của Bảo minh CMG tiếp tục được mở rộng một
cách ổn định, lành mạnh, vững chắc và an toàn,tốc độ tăng trưởng đạt 9%. Công ty
đã đảm bảo được khả năng tài chính của mình, chất lượng dịch vụ được cải thiện
từng bước với phương châm khách hàng là trên hết.
- Công ty đã từng bước đa dạng hóa sản phẩm,người tham gia bảo hiểm có
thể lựa chọn nhiều sản phẩm bảo hiểm khác nhau tùy theo nhu cầu đa dạng của
nhiều đối tượng khách hàng. Năm 2004 công ty đã cung cấp trên 100 sản phẩm
bảo hiểm thuộc ba lĩnh vực: bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm
trách nhiệm dân sự như: Bảo hiểm an sinh giáo dục, bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm
bệnh hiểm nghèo, sản phẩm bảo hiểm tai nạn cá nhân cho người sử dụng ATM,
9
bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm của người chăn nuôi(bảo hiểm bệnh hiểm nghèo
đã tăng số quyền lợi bảo hiểm từ 21 bệnh lên đến 36 bệnh).
Năm 2004 đã đánh dấu bước phát triển to lớn của ngành bảo hiểm nói
chung và công ty Bảo Minh CMG nói riêng. Công ty đã được Phòng Thương Mại(
Auscham) tại Việt Nam trao “Giải thưởng kinh doanh Xuất sắc 2004” vì những
thành tích kinh doanh tại Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Bảo Minh CMG được trao
giải thưởng này, giải thưởng cao nhất trong những giải thưởng mà Auscham trao
cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư của úc đang hoạt động tại Việt Nam trong
năm 2004.
b. Giai đoạn 2005 – 2006:
- Sang tới năm 2005 tốc độ tăng trưởng Bảo hiểm nhân thọ không mạnh như
các năm trước mà lại có những dấu hiệu bị chững lại. Nguyên nhân:
+ Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao trên 9%, làm cho tốc độ khai thác hợp
đồng bảo hiểm mới bị chậm lại. Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao dẫn đến tâm lý
người dân sợ đồng tiền mất giá khi tham gia các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bởi
các sản phẩm này thường có thời gian tới tận 5 năm. Tâm lý này khiến cho số
lượng khách hàng tiềm năng của công ty giảm đi một cách rõ rệt.
+ Thị trường bảo hiểm nhân thọ đã qua thời kỳ bùng nổ, nhất là trong
giai đoạn mới hình thành(1999-2003). Nói cách khác thị trường đã dần đi vào thế
ổn định, do đó tốc độ doanh thu của công ty chậm lại chỉ đạt 285 tỷ đồng doanh
thu, đó cũng là kinh nghiệm của các nước phát triển đi trước.
+ các công cụ đầu tư trên thị trường ngày càng trở nên đa dạng về hình
thức, hấp dẫn về quyền lợi và tiện lợi trong phân phối, với sự xuất hiện của nhiều
hình thức tiết kiệm hưởng lãi suất cao như: tiết kiệm đinh kỳ, tiết kiệm dự
thưởng… Các hình thức này đang cạnh tranh trực tiếp với các sản phẩm bảo hiểm
nhân thọ.
Nói chung tốc độ tăng trưởng của thị trường bảo hiểm năm 2005 không
nhanh như mọi năm là do bối cảnh của nền kinh tế vĩ mô không thuận lợi, có sự
10
xuất hiện của nhiều sản phẩm cạnh tranh như tiết kiệm ngân hàng với lãi xuất khá
cao, hay như tiết kiệm bưu điện như: tiền gửi ngân hàng với lãI xuất trên
10%/năm. Nhận thức được xu thế này, trong giai đoạn hiện nay, Bảo Minh CMG
đã chú trọng nhiều hơn đến phát triển đi đôi với chất lượng, từng bước nâng cao
chất lượng của doanh nghiệp mình. Ngoài ra công ty chuyển từ kinh doanh trên
diện rộng sang tập trung vào những sản phẩm có khả năng sinh lời cao, độ rủi ro
thấp(sản phâm an sinh giáo dục liên kết với trường Đại học Quốc tê RMIT…).
b.Giai đoạn 2006 - 2007
- Năm 2006 đánh dấu với nhiều sự kiện đáng nhớ trong lĩnh vực bảo hiểm.
Việt Nam ra nhập WTO, trong đó có cam kết về dịch vụ bảo hiểm chỉ hạn chế
doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh sản phẩm bảo
hiểm bắt buộc. Việc này đang đòi hỏi các doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động
tại Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh hơn nữa. Chính điều này đã đưa Bảo
Minh CMG đến một quyết định quan trọng đó là Bảo Minh CMG sau cổ phần hóa
đã niêm yết cổ phiếu tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà nội. Giá chào sàn
của Bảo Minh CMG khá cao điều này thể hiện các nhà đầu tư và công chúng đánh
giá cao uy tín và kỳ vọng vào sự phát triển của Bảo Minh CMG nói riêng và
ngành bảo hiểm nói chung.
- Công ty đã chủ động mua thêm máy chủ và đưa các phần mềm quản lý
tiên tiến vào hoạt động nhằm đưa ra danh sách đen các đại lý bảo hiểm vi phạm
quy định của công ty, từ đó nâng cao được uy tín với khách hàng, giúp khách hàng
tin tưởng vào công ty hơn nữa. Ví dụ như một số đại lý ở Nam Định, Đồng Nai…
đã bị huỷ tư cách đại lý.
- Ngoài ra hàng loạt các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng các đại lý trên
khắp các tỉnh thành của cả nước như đại lý ở HảI Phòng, Bắc Ninh…đã được áp
dụng triệt để như:tuyển chọn thật kỹ các đại lý mới, mở các lớp đào tạo lại những
đại lý làm việc không hiệu quả…tất cả nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của
Bảo Minh CMG trên thị trường bảo hiểm.
11
- Bên cạnh đó công ty đã nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và chuẩn bị tung ra
thị trường Việt Nam một sản phẩm bảo hiểm mới-Bảo hiểm đầu tư(investment
link) cho phép khách hàng tham gia đầu tư chứng khoán. Bảo hiểm đầu tư là việc
khách hàng mua sản phẩm bảo hiểm và đóng tiền hàng tháng. Khi số tiền đóng lên
đến một mức độ nhất định, khách hàng sẽ được quyền tham gia đầu tư. Công ty sẽ
đưa ra một danh mục đầu tư để khách hàng lựa chọn. Trong số tiền khách hàng
đóng sẽ được chia ra bao nhiêu phần trăm là bảo vệ(bảo hiểm ), bao nhiêu là đầu
tư(ở các nước Châu Á sản phẩm bảo hiểm đầu tư được người tiêu dùng ưa chuộng
và rất phổ biến). Trong năm 2006 tốc độ khai thác hợp đồng mới của bảo hiểm
nhân thọ đang chững lại do cạnh tranh khốc liệt từ phía ngân hàng lớn và những
công ty bảo hiểm lớn khác như: Bảo Việt,Prudention…, sản phẩm mới được coi là
niềm hi vọng của bảo hiểm nhân thọ để gia tăng các hợp đồng mới.
Thành công của Bảo Minh CMG trong năm 2006 được thể hiện bằng lượng
doanh thu lên tới 370 tỷ đồng. Năm 2006 còn đánh dấu một sự kiện vô cùng quan
trọng đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung cũng như ngành bảo hiểm nói riêng,
đó là vào tháng 11/2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ Chức
Thương Mại Thế Giới (WTO). Đó là cơ hội và cũng là thách thức đối với ngành
bảo hiểm Việt Nam trên con đường phát triển.
c. Giai đoạn 2007-2008:
- Vào ngày 18/1/2007 Công ty Bảo hiểm nhân thọ Dai-ichi Việt Nam được
thành lập từ sự chuẩn y của Bộ Tài Chính về chuyển nhượng Bảo Minh CMG. Sau
khi sự chuyển nhượng diễn ra toàn bộ nhân viên cũ của Bảo Minh CMG vẫn được
giữ nguyên chỉ thay đổi nhà lãnh đạo và công ty đã trở thành Công ty Bảo hiểm
nhân thọ 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam .
- Sang năm 2007 với nguồn vốn mới và các chính sách mới Dai-ichi Việt
Nam cũng đã giành được nhiều thành công to lớn. Với hơn 100 năm kinh nghiệm
hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm và tiềm lực tài chính vững mạnh Dai-ichi Việt
12
Nam đã mang đến những công nghệ quản lý mới nhất nhằm quản lý tốt nhất các
đại lý và nhân viên của mình. Dai-ichi Việt Nam liên tục được sự hỗ trợ đắc lực từ
công ty mẹ Dai-ichi Life Nhật Bản để tăng vốn đầu tư từ 12.2 triệu đôla Mỹ lên
tới 25 triệu đôla Mỹ, tăng tiềm lực tài chính nhằm nâng cao năng lực thị trường,
thị phần của Dai-ichi Việt Nam ngày càng được mở rộng. Doanh thu tính tới cuối
năm 2007 đã đạt 473 tỷ đồng cao nhất từ trước tới nay.
- Công nghệ được nâng cao giúp cho Dai-ichi Việt Nam tích cực đưa ra thị
trường những sản phẩm bảo hiểm mới phù hợp hơn với các nhu cầu phát triển của
nền kinh tế, tăng thêm sự lựa chọn cho người tham gia bảo hiểm như: Bảo hiểm
Bệnh Hiểm Nghèo, Bảo hiểm Mất Khả Năng Lao Động, Bảo hiểm Từ Bỏ Thu Phí
Bảo hiểm. Hiện công ty có khoảng hơn 100 loại sản phẩm bảo hiểm khác nhau
đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng tiềm năng.
- Dai-ichi Việt Nam cũng rất chú trọng tới trình độ của các tư vấn tài chính,
các khóa học được mở định kỳ theo từng quý nhằm nâng cao nghiệp vụ hành
chính cho đội ngũ tư vấn tài chính từ đó trình độ nhân viên được nâng cao một
cách rõ rệt.
- Công ty đã tích cực tăng thêm dịch vụ gia tăng cho khách hàng tham gia
bảo hiểm bằng những hoạt động hỗ trợ: quyền ưu tiên tuyển sinh vào trường Đại
học quốc tế RMIT tại Việt Nam, quyền lợi bảo hiểm trường hợp tai nạn, quyền lợi
bảo hiểm nhận thanh toán gấp đôi…
- Các kênh bán hàng mới bên cạnh các kênh bán hàng truyền thống đang
được phát triển hết sức mạnh mẽ, đó là các cuộc hội thảo định kỳ được tổ chức
hàng tuần tại công ty nhằm tìm ra khách hàng tiềm năng thực sự quan tâm tới các
sản phẩm bảo hiểm.
- Đối với các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ, vấn đề quan trọng nhất là
quản lý dòng tiền bởi vậy công ty đã có những chính sách tuyển dụng và đào tạo
được một đội ngũ các chuyên gia về tính phí chuyên nghiệp.
13
- Công ty cũng đã trang bị được hệ thống cơ sở vật chất tương đối hiện đại,
đẹp, thuận tiện giúp cho tư vấn tài chính liên hệ với khách hàng một cách nhanh
chóng và thuận lợi nhất. Hệ thống điện thoại, máy fax, máy vi tính, máy in, mạng
internet … được đầu tư đổi mới toàn diện.
- Cách trả lương, thưởng cho các tư vấn tài chính khá tốt, tức là tính lương
và thưởng dựa trên số lượng sản phẩm bảo hiểm bán ra cộng với lương quản lý
nhân viên dưới quyền từ đó đã kích thích được tinh thần làm việc trách nhiệm và
tính sáng tạo của người lao động.
- Dai-ichi Việt Nam cũng đã ứng dụng thành công “thương mại điện tử” vào
việc bán sản phẩm bảo hiểm, người có nhu cầu về bảo hiểm có thể lựa chọn sản
phẩm bảo hiểm của doanh nghiệp ngay trên mạng. Cố gắng của Dai-ichi Việt Nam
đã được đền đáp một cách xứng đáng, doanh thu phí bảo hiểm đạt 473 tỷ đồng
tăng 28% so với năm 2006, công ty đã có một chỗ đứng vững chắc trên thị trường
bảo hiểm của Việt Nam. Các tư vấn tài chính liên tục kí kết với khách hàng những
hợp đồng lớn, khách hàng đã từng bước tin tưởng vào Dai-ichi Việt Nam chỉ sau
một năm hoạt động.
- Bên cạnh những thành công bước đầu Dai-ichi Việt Nam cũng gặp phải rất
nhiều khó khăn trở ngại lớn như:
+ Thị trường Việt Nam đã ổn định và đi vào quỹ đạo của nó, làm cho các
doanh nghiệp phải cạnh tranh nhau khốc liệt để giành giật khách hàng. Hàng loạt
các công ty bảo hiểm lớn như Bảo Việt, Prudential…và các công ty bảo hiểm nhỏ
khác cũng đưa ra các chế độ ưu đãi đặc biệt nhằm thu hút khách hàng của mình.
+ Người Việt Nam tức là khách hàng của công ty thường có tâm lý lựa chọn
các doanh nghiệp bảo hiểm của Việt Nam mà không mấy tin tưởng vào các công
ty nước ngoài. Đó cũng là tâm lý chung dễ hiểu vì khoản tiền bảo hiểm đóng định
kỳ là khoản tiền tiết kiệm từng tháng của mỗi gia đình, nếu đóng bảo hiểm vào
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét