5
xuất hàng hóa lớn). Thành phần kinh tế quốc doanh có xu hướng giảm mạnh.
Nhà nước đang có biện pháp sắp xếp, rà soát lại, hoặc chuyển sang các chức
năng khác cho phù hợp với điều kiện hiện nay. Thành phần kinh tế tập thể
(kinh tế HTX) cũng chuyển đổi chức năng của mình sang các hợp tác xã
(HTX) kiểu mới làm chức năng hướng dẫn sản xuất và công tác dịch vụ phục
vụ cho nguyện vọng của các hộ nông dân mà trước đây chức năng của HTX
là trực tiếp điều hành sản xuất. Như vậy sự phát triển đa dạng của các thành
phần kinh tế cùng với việc chuyển đổi chức năng của nó làm cơ cấu thành
phần kinh tế trong nông nghiệp có những chuyển biến mạnh mẽ theo hướng
phát huy hiệu quả của các thành phần kinh tế.
2.3. Cơ cấu kinh tế theo vùng.
Sự phân công lao động theo ngành kéo theo sự phân công lao động
theo lãnh thổ đó là hai mặt của một quá trình gắn bó hữu cơ với nhau. Sự
phân công lao động theo ngành bao giờ cũng diễn ra trên những vùng lãnh
thổ nhất định, nghĩa là cơ cấu vùng lãnh thổ chính là việc bố trí các ngành
trong sản xuất nông nghiệp theo không gian cụ thể nhằm khai thác mọi ưu
thế tiềm năng to lớn. Ở đây, xu thế chuyển dịch cơ cấu vùng lãnh thổ đi vào
chuyên môn hóa và tập trung hóa hình thành những vùng sản xuất hàng hóa
lớn tập trung có hiệu quả cao với các vùng chuyên môn hóa khác, gắn cơ cấu
của từng khu vực với cơ cấu kinh tế của cả nước. Trong từng vùng lãnh thổ
coi trọng chuyên môn hóa kết hợp với phát triển tổng hợp đa dạng. Để hình
thành cơ cấu vùng lãnh thổ hợp lý thì cần bố trí các ngành trên vùng hợp lý,
để khai thác đầy đủ tiềm năng của từng vùng. Đặc biệt cần bố trí các ngành
chuyên môn hóa dựa trên những lợi thế so sánh từng vùng đó là những vùng
có đất đai tốt, khí hậu phù hợp, đường giao thông thuận lợi và các khu công
nghiệp có sẵn.
II. CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ.
1. Khái niệm:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là giành một phần tài nguyên của một bộ
phận kinh tế này cho một bộ phận kinh tế khác theo hướng có lợi hơn, đáp
ứng nhu cầu sản phẩm xã hội và tăng thu nhập của người lao động.
1. 1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Lực lượng sản xuất phát triển gắn liền với phân công lao động xã hội,
chi phối sự hình thành và biến đổi của cơ cấu kinh tế. Khi nền kinh tế tự cấp
tự túc thì lực lượng sản xuất trì trệ kém phát triển dẫn đến cơ cấu KTNN
chậm chuyển biến. Chuyển nền kinh tế thuần nông sang sản xuất hàng hóa
thì lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội mới phát triển ở trình độ
cao. Mặt khác sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã
5
6
hội là xu thế tất yếu khách quan của sự phát triển xã hội. Vì vậy chuyển dịch
cơ cấu KTNN cũng là một tất yếu khách quan. Trong điều kiện nước ta hiện
nay, điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi, nguồn lao động trẻ dồi dào
nhưng vẫn ở dạng tiềm năng chưa được huy động và khai thác đầy đủ, hợp
lý. Bởi vậy rất cần thiết để chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Mục tiêu của chuyển
dịch cơ cấu phải dựa trên cơ sở tiềm năng sẵn có hình thành cơ cấu mới
nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng đó tạo ra một tỷ suất hàng hóa lớn
hơn, hiệu quả kinh tế ngày càng cao, bền vững góp phần đắc lực vào quá
trình tăng trưởng kinh tế đất nước. Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế đất
nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nền kinh tế thị trường đang ngày
một phát triển và tác động mạnh mẽ vào mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề trên
địa bàn cả nước. Theo cơ chế đó mọi thành phần kinh tế, mọi khu vực sản
xuất kinh doanh tiến hành sản xuất phải nắm vững và bám sát thị trường.
Trong nền kinh tế hàng hóa phát triển các yếu tố sản xuất như : tài nguyên,
sức lao động, công nghệ, các sản phẩm dịch vụ tạo ra và ngay cả chất xám
đều được coi là đối tượng mua bán, là hàng hóa và cơ cấu KTNN trong cơ
chế thị trường cũng phải đảm bảo và tuân thủ các mối quan hệ đó. Trong nền
kinh tế thị trường giá cả điều tiết hành vi của người sản xuất từ đó tạo ra một
thiết chế làm nảy sinh mối quan hệ tỷ lệ nhất định trong cơ cấu kinh tế, vấn
đề đặt ra là bằng nhận thực và hành động các cơ quan hoạch định chính sách,
của các nhà quản lý có giải pháp điều chỉnh thông qua hệ thống các chính
sách kinh tế định hướng cho sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế hiệu quả cao
nhất. Những vấn đề có một cơ cấu kinh tế hiệu quả cao trong nền kinh tế thị
trường thì cơ cấu đó phải thoả mãn được những yêu cầu của thị trường đặt
ra. Như vậy chuyển dịch cơ cấu KTNN phải xuất phát từ những căn cứ mà
thị trường đòi hỏi và phải thỏa mãn tốt mọi nhu cầu thị trường.
1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Cơ cấu kinh tế
nông nghiệp là tổng thể các mối quan hệ tỷ lệ về số lượng và chất lượng
tương đối ổn định của các ngành sản xuất nông nghiệp trong những điều kiện
về thời gian và không gian nhất định của nền kinh tế.
Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu KTNN nói riêng không phải là bất
biến mà sẽ vận động phát triển và chuyển hoá từ cơ cấu cũ sang cơ cấu kinh
tế mới. Sự chuyển dịch đó đòi hỏi phải có thời gian và phải trải qua những
bậc thang nhất định của sự phát triển. Đầu tiên là sự thay đổi về lượng, khi
lượng đã tích luỹ đến độ nhất định tất yếu dẫn đến sự thay đổi về chất. Đó là
quá trình chuyển hóa dần từ cơ cấu kinh tế cũ thành cơ cấu kinh tế mới phù
hợp và có hiệu quả hơn. Tất nhiên quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó sự tác động của
con người có ý nghĩa quan trọng. Do vậy chuyển dịch cơ cấu KTNN đến
trạng thái phát triển tối ưu đạt được hiệu quả, thông qua các tác động điều
6
7
khiển có ý thức, định hướng của con người, trên cơ sở nhận thức và vận
dụng đúng đắn các qui luật khách quan.
2. Vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đối với sự phát
triển của tỉnh, của nền kinh tế.
2.1 Vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đối với sự phát
triển của tỉnh Lào Cai
(1)
.
Trong thời gian qua sản xuất nông lâm nghịêp chuyển dich theo hướng
tích cực. Góp phần xoá đói giảm nghèo đạt được nhiều kết quả. Giá trị sản
xuất nông - lâm - ngư nghiệp đạt 1.176 tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm
9,51%. Từ năm 2000 đến năm 2005 tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 72,9%
xuống còn 70,2%; chăn nuôi và dịch vụ tăng từ 27,1% lên 29,9%.
Giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác tăng từ 8 triệu đồng
lên 14 triệu đồng. Thành tựu vượt trội về nông nghiệp là tăng mạnh về năng
xuất và sản lượng cây lương thực. Việc qui hoạch sản xuất hàng hoá được
quan tâm đã và đang hình thành các vùng chuyên canh lúa, ngô, đạu tương,
rau, quả hàng hoá. Công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, ứng
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất được đẩy mạnh. Trên 85% diện
tích được cấy giống lúa năng xuất cao. Nhiều cây con có năng xuất, chất
lượng và giá trị kinh tế cao được đưa vào sản xuất , thử nghiệm và từng bước
sản xuất đại trà như giống hoa cao cấp, cây ăn quả ôn đới, cây dược liệu.
Chăn nuôi phát triển theo hướng hàng hoá, nhất là chăn nuôi đại gia
súc, bình quân hàng năm đàn trâu tăng 4,5%, đàn bò 5,3%, đàn lợn 6,5%,
đàn gia cầm 5,5%. Công tác tuyển trọn giống được chú trọng như sinh hoá
đàn bò, nạc hoá đàn lợn, phục tráng con giống địa phương có tính vượt trội
như bò vàng Xi Ma Cai, trâu Bảo Yên. Thuỷ sản có bước phát triển mới,
chuyển một số diện tích sản xuất lương thực kém hiệu quả sang nuôi trồng
thuỷ sản. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản 1.152
ha
tăng 24% so với năm 2000;
Giá trị thuỷ sản tăng bình quân hàng năm 13,1%. Một số giống thuỷ sản mới
được đưa vào sản xuất như tôm càng xanh, cá rô phi đơn tính, chép lai ba
mầu đang hình thành; phát triển cá mô hình nuôi cá hồi, cá tầm nước lạnh
ở vùng cao.
Công tác bảo vệ và phát triển rừng được quan tâm, kinh tế lâm nghiệp
phát triển mang tính toàn diện. Phát triển rừng phòng hộ gắn với kinh tế, môi
trường sinh thái và du lịch, hình thành vùng nguyên liệu cho công nghiệp
chế biến: Bảo tồn và phát triển thêm nhiều loại cây quý hiếm. Một số cây
7
8
trồng vừa có chức năng phòng hộ vừa có giá trị kinh tế được đưa vào sản
xuất như măng bát độ, dổi tàu, lát Mê Xi Cô Từng bước xã hội hoá nghề
rừng với sự tham gia của các thành phần kinh tế. Tỷ lệ tán che phủ rừng tăng
từ 37,2% năm 2000 lên 44,3%. Kinh tế trang trại phát triển ở quy mô vừa và
nhỏ, toàn tỉnh có 200 trang trại, chủ yếu tập trung ở huyện Bảo Thắng, Bát
Xát, Bảo Yên. Có 169 hợp tác xã với gần 9000 xã viên và 13.780 lao động.
Các hợp tác xã sau khi chuyển đổi, củng cố đã và đang thích ứng với cơ chế
mới, sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn.
Diện mạo nông thôn có nhiều đổi mới, đời sống vật chất, tinh thần của
nông dân, nông thôn được cải thiện, thu nhập hộ gia đình tăng 2,2 lần. Hoạt
động dịch vụ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở khu vực nông thôn có bước
phát triển, một số ngành nghề chuyền thống được khôi phục. Bước đầu được
thực hiện cơ giới hoá trong một số khâu sản xuất và bảo quản sau thu hoạch.
Cơ cấu thu nhập khu vực nông thôn có sự thay đổi tích cực, sản xuất
nông nghiệp chiếm 88, 54%, sản xuất tiểu thủ công nghiệp 1,45% và dịch vụ
10%. Hàng năm dành 60% - 70% vốn đầu tư phát triển cho vùng nông thôn
(đạt 2.500 tỷ đồng). Đến năm 2003 có 100% số xã có đường ô tô đến trung
tâm xã. Đến năm 2005 có 75% số xã có điện lưới quốc gia, 62% số hộ dân
được sử dụng điện, 70% số hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh, 12.584
hộ được hỗ trợ tấm lợp, sắp xếp ổn định dân cư 6.970 hộ, số hộ có nhà xây
kiên cố và bán kiên cố nông thôn tăng 5%. Thu nhập bình quân hộ gia đình
nông thôn tăng từ 6,6 triệu đồng lên 13,5 triệu đồng. Có 18.700 hộ sản xuất
kinh doanh giỏi, 30.600 hộ giầu và khá, tỷ lệ hội đói nghèo còn 41,01%
Mục tiêu trong thời gian tới là chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nội
ngành nông lâm nghiệp theo hướng nâng cao tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ.
Đặc biệt là chăn nuôi đại gia súc, thuỷ sản và phát triển rừng kinh tế. Đầu tư
khai thác có hiệu quả lợi thế về công nghiệp, du lịch và kinh tế cửa khẩu để
tạo bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế.
2.2. Vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đối với sự
phát triển của nền kinh tế.
“Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng
của nền kinh tế quốc dân. Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với
các yếu tố kinh tế, xã hội mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên. Nông nghiệp
theo nghĩa rộng gồm có : trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thuỷ sản có vị
trí hết sức quan trọng nó đáp ứng vào quá trình tăng trưởng và phát triển
kinh tế xã hội của cả nước và của từng địa phương. Đặc trưng trong nông
nghiệp ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt. Đối tượng của sản xuất là
(1) Báo cáo chính trị của BCH đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XIII- nhiệm lỳ 2005 – 2010)
8
9
những cây trồng vật nuôi. Trong sản xuất nông nghiệp, sự hoạt động của lao
động và tư liệu sản xuất có tính thời vụ, được tiến hành trên một địa bàn rộng
lớn và mang tính khu vực. Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế. Đặc biệt là trong giai đoạn đầu quá trình công nghiệp
hóa, tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp ảnh hưởng quyết định đến tốc độ
tăng trưởng chung của nền kinh tế. Do đó nghiên cứu mối quan hệ về vai trò
nông nghiệp đối với phát triển kinh tế có ý nghĩa quan trọng cả khía cạnh lý
thuyết và thực tiễn. Hầu hết các nước đang phát triển rơi vào cái bẫy của tình
trạng “vòng lẩn quẩn của nghèo khổ” Các yếu tố trong sơ đồ vừa là “nhân”
vừa là “quả” đã hình thành một vòng lẩn quẩn làm cho nhiều quốc gia khó
thoát khỏi tình trạng nghèo đói - kém phát triển. Khía cạnh kinh tế xuất phát
từ mức thu nhập bình quân đầu người thấp dẫn tới tích lũy, đầu tư và năng
suất thấp rồi trở lại thu nhập thấp. Khía cạnh xã hội xuất phát từ sinh đẻ
nhiều (dân số tăng nhanh) dẫn đến dinh dưỡng thấp, bệnh tật cao, đông con
và dẫn đến tình trạng dốt nát, rồi lại ảnh hưởng trở lại sinh đẻ nhiều. Kết hợp
với thu nhập thấp (khía cạnh kinh tế) làm cho tình trạng nghèo đói trở lên
trầm trọng hơn. Để thoát khỏi tình trạng trên trong chiến lược phát triển kinh
tế của các nước đang phát triển thường chọn các lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp, công nghiệp, xây dựng, vận tải, thông tin, thương mại - dịch vụ là
những mục tiêu tác động để đẩy nhanh mức tăng trưởng nền kinh tế, nâng
cao thu nhập cho người dân. Đặc biệt đối với những nước có ưu thế về tiềm
năng tự nhiên gắn với nông nghiệp thì nông nghiệp có vai trò quan trọng
trong việc thực hiện mục tiêu này. Vai trò của nông nghiệp được thể hiện chủ
yếu qua 2 khía cạnh : kích thích sự tăng trưởng nền kinh tế và đóng góp vào
mức tăng trưởng GDP của nền kinh tế”
(1)
.
Được thể hiện qua sơ đồ vòng luẩn quẩn như sau :
Sơ đồ : Vòng luẩn quẩn của nghèo khổ
Năng
suất
Sinh đẻ
nhiều
Bệnh tật
Đầu tư
Thu nhập
thấp
Dinh
dưỡng
Đông con
Dốt
Tích luỹ
9
10
Khía cạnh xã hội Khía cạnh kinh tế
“Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong
việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển.
Ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên,
ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP
nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá
lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người
những sản phẩm tối cần thiết đó là : lương thực, thực phẩm. Những sản
phẩm này cho dù trình độ khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay vẫn
chưa có ngành nào có thể thay thế được. Lương thực, thực phẩm là yếu tố
đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước”
(1)
. Qua các vấn đề nêu trên đã
chứng minh vai trò quan trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân,
nó là một ngành không thể thiếu trong cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia và
nhất là đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Vai trò của chuyển dịch cơ cấu KTNN đáp ứng sự phát triển của kinh
tế thị trường, đáp ứng về yêu cầu nông sản phẩm của xã hội, nhu cầu tiêu
dùng của dân cư, là điều kiện để mở rộng thị trường, tạo cơ sở thay đổi bộ
mặt nông thôn nói chung và bộ mặt nông nghiệp nói riêng, đồng thời tạo ra
một nền sản xuất chuyên môn hóa cao, thâm canh tiên tiến và các ngành liên
kết với nhau chặt chẽ hơn.
3. Nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu KTNN là một khái niệm mang tính khách quan, tính lịch sử xã
hội, nó không những vận động mà còn biến đổi và phát triển. Sự chuyển dịch
cơ cấu KTNN là một quá trình do vậy sự hình thành vận động, biến đổi và
phát triển là kết quả sự tác động thường xuyên và tổng hợp các nhân tố ảnh
hưởng tới cơ cấu KTNN, tựu trung lại có 3 nhân tố ảnh hưởng chủ yếu sau :
3.1. Nhân tố điều kiện tự nhiên
Các nhân tố tự nhiên tác động một cách trực tiếp tới sự hình thành,
vận động và biến đổi cơ cấu KTNN, nhóm này gồm vị trí địa lý, điều kiện
đất đai, điều kiện khí hậu, thời tiết, nguồn nước, rừng, biển… tuy tác động
ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến mỗi nội dung cơ cấu KTNN không
giống nhau, trong đó cơ cấu vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng của điều kiện tự
nhiên nhiều nhất : trong các điều kiện tự nhiên nêu trên thì điều kiện đất đai,
khí hậu, vị trí địa lý có ảnh hưởng rất rõ nét tới sự phát triển của nông nghiệp
(1). Kinh tế nông nghiệp lý thuyết và thực tiễn. TS. Đinh Phi Hổ. NXB thống kê - 2003 tr 7
10
11
( theo nghĩa rộng gồm: Nông, Lâm, Ngư nghiệp), qua nông nghiệp ảnh
hưởng trực tiếp đến các ngành khác. Trong mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ có
vị trí địa lý khác nhau, điều kiện khí hậu ( lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ) , điều
kiện đất đai ( nông hoá, thổ nhưỡng, địa chất), các nguồn tài nguyên tự nhiên
(nước, rừng, biển, các tài nguyên mỏ), hệ sinh thái khác nhau về số lượng và
qui mô các phân ngành chuyên môn nông lâm ngư nghiệp giữa các vùng có
sự khác nhau dẫn tới sự khác nhau về cơ cấu ngành, thể hiện rõ nét từ sự
phân biệt về cơ cấu các ngành kinh tế trong nông nghiệp giữa vùng Đồng
bằng - Trung du - Miền núi. Ngay giữa các vùng cơ cấu kinh tế các ngành
cũng khác nhau khá rõ do tính đa dạng và phong phú của tự nhiên nước ta và
sự phân bổ nguồn lực không đồng đều. Một số vùng có điều kiện tự nhiên
thuận lợi để phát triển một số ngành sản xuất tạo ra lợi thế so với vùng khác,
đây là cơ sở tự nhiên để hình thành các vùng kinh tế. Ngoài sự tác động ảnh
hưởng nói trên thì điều kiện tự nhiên còn ảnh hưởng tới các cơ cấu, các
thành phần kinh tế và cơ cấu kỹ thuật trong kinh tế nông nghiệp. Thông
thường những vùng nào có điều kiện tự nhiên thuận lợi thì các thành phần
kinh tế của các vùng đó phát triển với qui mô và tốc độ lớn hơn. Sự phát
triển của các thành phần kinh tế tạo điều kiện làm nảy sinh nhu cầu ứng dụng
ngày càng rộng rãi công nghệ, khoa học kỹ thuật tiên tiến vào hoạt động sản
xuất kinh doanh và dịch vụ, làm cho ứng dụng của Khoa học- Công nghệ -
Kỹ thuật tiến bộ, hiện đại ngày càng được nâng cao trong cơ cấu kỹ thuật.
3.2. Nhân tố kinh tế - xã hội
Nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới cơ cấu KTNN bao gồm thị
trường, hệ thống các chính sách vĩ mô của Nhà nước, vốn, cơ sở hạ tầng
nông thôn, sự phát triển các khu công nghiệp và đô thị, kinh nghiệm và tập
quán truyền thống sản xuất của dân cư, dân số, lao động… Trong nền kinh tế
hàng hóa nhân tố thị trường có ảnh hưởng quyết định tới sự phát triển kinh tế
nói chung và biến đổi của cơ cấu kinh tế nói riêng. Người sản xuất hàng hóa
chỉ sản xuất và đem ra thị trường trao đổi những sản phẩm mà họ thấy chúng
đem lại lợi nhuận thoả đáng và người sản xuất tự xác định khả năng tham gia
cụ thể của mình vào thị trường những loại sản phẩm hàng hóa có lợi nhất, do
đó trên thị trường sẽ xuất hiện các loại hàng hóa dịch vụ với qui mô và cơ
cấu phản ánh cơ cấu kinh tế ở từng vùng từng địa phương.
Ngày nay quá trình hợp tác và giao lưu kinh tế ngày càng mở rộng,
hầu hết các quốc gia đều thực hiện các chiến lược kinh tế mở, thông qua
quan hệ thương mại quốc tế các quốc gia ngày càng tham gia sâu hơn vào
quá tình hợp tác và phân công lao động quốc tế đó là nhân tố hết sức quan
trọng ảnh hưởng tới quá trình biến đổi cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu
KTNN nói riêng; tạo cho các quốc gia khai thác và sử dụng mọi nguồn lực
1). Giáo trình Kinh tế nông nghiệp. Trường ĐH Kinh tế quốc dân. NXH thống kê HN-2004, tr 5
11
12
của mình có lợi nhất trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh. Qua đó có cơ
hội tiếp cận thành tựu khoa học công nghệ, kỹ thuật mới thu hút nguồn đầu
tư… nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Nhà nước sử
dụng các chính sách kinh tế công cụ quan lý vĩ mô khác để quản lý nền kinh
tế thể hiện sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường trên cơ sở
đảm bảo các yếu tố của thị trường để các qui luật khách quan của thị trường
phát huy những tác động tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực tạo
điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng, phát triển với tốc độ cao và ổn định.
Để hình thành hay chuyển đổi một cơ cấu kinh tế nông nghiệp đòi hỏi
phải có điều kiện vật chất nhất định tương ứng với yêu cầu hình thành và
chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Để đáp ứng đòi hỏi về các điều kiện vật chất này
nhất thiết phải đầu tư và phải có vốn đầu tư; các nguồn vốn đầu tư chủ yếu
để hình thành và chuyển đổi cơ cấu KTNN gồm : nguồn nước của các chủ
thể kinh tế trong nông nghiệp; nguồn vốn ngân sách; nguồn vốn cho vay của
các ngân hàng; nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng; nguồn vốn đầu tư
trực tiếp hay gián tiếp của nước ngoài. Giải quyết tốt vấn đề vốn là một trong
những điều kiện quan trọng nhất để phát triển KTNN và xây dựng cơ cấu
KTNN hợp lý và phù hợp với yêu cầu khai thác tốt các nguồn lực xây dựng
cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn.
Sự phát triển của các khu công nghiệp và đô thị cũng là một nhân tố
quan trọng nó tạo ra khả năng cung cấp kỹ thuật và công nghiệp ngày càng
tiên tiến, tạo ra các nguồn vốn đầu tư ngày càng dồi dào cho khu vực KTNN.
Vấn đề dân số, lao động và trình độ của người lao động, người quản lý và
kinh nghiệm tập quán truyền thống của dân cư ở các vùng cũng là nhân tố
ảnh hưởng tới việc hình thành và phát triển chuyển dịch cơ cấu KTNN.
3.3 Nhân tố về tổ chức kỹ thuật
Nhóm nhân tố này bao gồm các hình thức tổ chức sản xuất; sự phát
triển của khoa học kỹ thuật và việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất .
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là phạm trù khách quan nhưng lại là sản phẩm
hoạt động của con người. Sự tồn tại, vận động, biến đổi cơ cấu kinh tế nông
nghiệp được quyết định bởi sự tồn tại và hoạt động của các chủ thể kinh tế
trong nông nghiệp lá cơ sở của sự hình thành và phát triển của các ngành
kinh tế, các vùng kinh tế và các thành phần kinh tế.
Các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp tồn tại và hoạt động qua các
hình thức tổ chức tổ chức sản xuất với các mô hình tổ chức tương ứng; Do
vậy các hình thức tổ chức trong nông nghiệp với các quy mô tương ứng là
một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự biến đổi cơ cấu kinh tế
nông nghiệp.
12
13
Từ những năm 1990 đến nay trong nông nghiệp nước ta kinh tế hộ
được thừa nhận trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, kinh tế tư nhân được tạo điều
kiện phát triển, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể được cải biến theo nội
dung mới, sự thay đổi về các mô hình sản xuất nêu trên đã tạo ra những điều
kiện cho nông nghiệp, nông thôn phát triển mạnh mẽ tạo ra những thay đổi
đáng kể trong cơ cấu KTNN; tỷ trọng ngành trồng trọt giảm xuống, tăng tỷ
trọng ngành chăn nuôi. Trong trồng trọt tỷ trọng cây lương thực giảm, cây
công nghiệp và cây ăn quả tăng lên, hình thành vùng chuyên canh tập trung
cây công nghiệp dài ngày.
Ngày nay, khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, sự
phát triển của khoa học kỹ thuật và ứng dụng chúng vào sản xuất có vai trò
ngày càng to lớn, góp phần hoàn thiện các phương pháp sản xuất nhằm khai
thác, sử dụng hợp lý hiệu quả các nguồn lực xã hội và khu vực nông thôn.
Như vậy chúng ta thấy rằng sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chịu ảnh hưởng
của nhiều yếu tố, hơn nữa các yêu tố đó lại tác động theo hai chiều có thể
tích cực hoặc có thể tiêu cực và thay đổi thường xuyên; do vậy cần phải nhận
thức đúng đắn các yếu tố trên để có thể sử dụng một cách hiệu quả nhất phát
huy lợi thế, giảm thiếu bất lợi, tránh sa vào chủ quan, duy ý chí.
4. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp.
4.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ cấu kinh tế và hiệu quả cơ cấu
phát triển kinh tế
Để phản ánh cơ cấu kinh tế thường sử dụng các chỉ tiêu như cơ cấu
đầu vào, cơ cấu đầu ra.
Nhóm các chỉ tiêu biểu hiện cơ cấu đầu vào bao gồm :
- Cơ cấu đất đai
- Cơ cấu đầu tư
- Cơ cấu lao động
- Cơ cấu kỹ thuật
Nhóm các chỉ tiêu biểu hiện cơ cấu đầu ra gồm :
- Cơ cấu giá trị các loại sản phẩm
- Cơ cấu giá trị các loại sản phẩm hàng hóa.
Nhóm các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cơ cấu kinh tế :
13
14
Hiệu quả cơ cấu kinh tế chính là xem xét việc bố trí cơ cấu đầu vào
(đất đai, vốn, lao động …) đã hợp lý chưa và biểu hiện của nó chính là cơ
cấu đầu ra (cơ cấu giá trị sản phẩm, cơ cấu giá trị hàng hóa. Như vậy phản
ánh hiệu quả cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp sử dụng các chỉ tiêu sau :
- Năng suất đất đai
- Hiệu quả sử dụng vốn
- Năng suất lao động
- Giá trị sản lượng/1 đơn vị diện tích (1 đơn vị diện tích tạo ra bao
nhiêu giá trị sản lượng).
- Giá trị sản lượng/1 lao động (1 lao động tạo ra bao nhiêu giá trị sản
lượng).
- Giá trị hàng hóa/1 đơn vị diện tích
- Giá trị hàng hóa/1 lao động
- Lợi nhuận
- Thu nhập
Các chỉ tiêu trên có thể áp dụng để phản ánh cơ cấu kinh tế, hiệu quả
cơ cấu KTNN trong cả nước, từng vùng lãnh thổ và các thành phần kinh tế,
tuỳ thuộc vào các phạm vi nghiên cứu mà sử dụng các chỉ tiêu, phương pháp
thích hợp.
4.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hiệu
quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chính là xem xét sự thay đổi các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu kinh tế mà
cụ thể là xem xét sự thay đổi của cơ cấu đầu vào từ đó xem xét sự thay đổi
cơ cấu đầu ra. Thực tế chính là việc sử dụng các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu
kinh tế nhưng đã được bố trí sắp xếp lại từ đó đem so sánh với các chỉ tiêu
phản ánh cơ cấu kinh tế trước đây để làm rõ quá trình chuyển dịch. Như vậy
sự thay đổi các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu hay sự chuyển dịch có thể hợp lý
hoặc có thể không hợp lý mà biểu hiện là xem xét tới sự thay đổi cơ cấu đầu
ra.
Phản ánh hiệu quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) là dựa trên
các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của CCKT nhưng có sự so sánh giữa các năm
để thấy sự biến đổi của chỉ tiêu này; sự biến đổi của hiệu quả CCKT chính là
hiệu quả của quá trình chuyển dịch, tốt hay xấu ta phải xem xét tới từng chỉ
tiêu tiêu cụ thể như năng suất đất đai tăng hay giảm; hiệu quả sử dụng vốn
tốt hay xấu; năng suất lao động tăng hay giảm; giá trị sản lượng sản phẩm
hàng hóa/1 đơn vị diện tích tăng hay không…
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét