Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Phân tích các biện pháp hỗ trợ và giải quyết việc làm cho người lao động

Bài tập học kì – luật lao động Việt Nam
Mục lục
Mục lục 1
ĐỀ BÀI 1
BÀI LÀM 2
A, Phân tích các biện pháp hỗ trợ và giải quyết việc làm cho người lao động 2
2.1 Chương trình việc làm 4
2.3. Tổ chức giới thiệu việc làm 7
2.4. Dạy nghề gắn với việc làm 7
2.6. Một số biện pháp khác 9
B GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG 9
a/ Công ty M có thể sa thải chị H được hay không? 9
b/ Khi sa thải H, công ty cần lưu ý những vấn đề gì? 12
c/ Việc công ty M cho chị H tạm đình chỉ công việc như trên là đúng hay sai? 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
ĐỀ BÀI
Bài Tập Số 14
1.Phân tích các biện pháp hỗ trợ và giải quyết việc làm cho người lao động.
( 4 điểm)
2.
Giang Thị Tuyết 351765 Page 1
Bài tập học kì – luật lao động Việt Nam
Chị H là nhân viên thu ngân của công ty quảng cáo M theo hợp đồng lao
động 1 năm ( từ tháng 01/2005 đến tháng 1/2006). Hết thời hạn hợp đồng, chị H
vẫn tiếp tục làm việc cho công ty, nhưng công ty chưa kí tiếp hợp đồng lao động
với chị .
Trong đợt kiểm tra tài chính của công ty đầu năm 2007, nhân viên phòng Tài
chính – Kế toán của công ty đã phát hiện chị H gian lận số tiền 34 tr đồng bằng
cách thu tiền của một số đơn vị thuê quảng cáo, có viết hóa đơn chứng từ nhưng
không vào sổ thu tiền và không chuyển tiền cho phòng kế toán.
Sau khi nhận được báo cáo của phòng tài chính kế toán, công ty m đã yêu cầu
chị H truy nộp số tiền nói trên, nhưng chị H cố tình không trả với lý do công ty cần
thành lập Tổ thanh tra nội bộ làm rõ số tiền nói trên có chính xác không và là tiền
của những đơn vị nào thuê quảng cáo.
Vụ việc kéo dài đến tháng 4/2009 nhung chị H vẫn không chịu trả số tiền nói
trên cho công ty. Trong thời gian từ 02/2007 đến tháng 4/2009, công ty M đã ra
quyết định tạm đình chỉ công việc đối với H cho đến khi giải quyết xong vụ việc,
hưởng 50% lương. Đồng thời, chuyển vụ việc sang cho cơ quan điều tra khởi tố và
xác định rõ hành vi vi phạm của chị H.
Đầu tháng 11/2009, sau khi có kết luận của cơ quan Công an về hành vi tham
ô của chị H với số tiền 34 triệu đồng, công ty quyết định sa thải H và yêu cầu H bồi
thường cho công ty số tiền 34 triệu đồng đã chiếm đoạt của công ty.
Hỏi:
a/ Công ty M có thể sa thải chị H được hay không?
b/ khi sa thải H, công ty cần lưu ý những vấn đề gì?
c/ Việc công ty M cho chị H tạm đình chỉ công việc như trên là đúng hay sai?
BÀI LÀM
A, Phân tích các biện pháp hỗ trợ và giải quyết việc làm cho người lao động
Việc làm cho người lao động là một trong những vấn đề có tính toàn cầu và
là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia. Giải quyết tốt vấn đề việc làm ở nước
Giang Thị Tuyết 351765 Page 2
Bài tập học kì – luật lao động Việt Nam
ta, sẽ là một trong những nhân tố có tính chất quyết định để đất nước sớm thoát
khỏi tình trạng lạc hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới. BLLĐ và
nhiều văn bản luật đã được ban hành quy định chi tiết về việc làm, các biện pháp
hỗ trợ và giải quyết việc làm, tạo khung pháp lý để giải quyết tốt vấn đề việc làm.
Ta cùng đi tìm hiểu về các biện pháp hỗ trợ và giải quyết việc làm ở nước ta hiện
nay:
1. Một Số Vấn Đề Chung Về Việc Làm Và Giải Quyết việc làm.
Việc làm là một khái niệm phức tạp, ta có thể hiểu trên nhiều phương diện
khác nhau. Về phương diện kinh tế xã hội, có thể hiểu việc làm là các hoạt động
tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho NLĐ được xã hội thừa nhận.
Theo Điều 13 BLLĐ quy định “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu
nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”, như vậy việc làm
có nội hàm rất rộng, bao gồm nhiều công việc, nghành nghề khác nhau mang lại
thu nhập hợp pháp cho người lao động. Mỗi Nhà nước – xã hội đề tạo ra chính
sách việc làm riêng.
Cùng với việc làm, giải quyết việc làm luôn là luôn là một chính sách xã hội
lớn mà tất cả cá quốc gia đều phải quan tâm giải quyết.
Giải quyết việc làm là việc một quốc gia thực hiện các chính sách, biện pháp
nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp, đảm bảo đời sống, thu nhập của người lao
động, góp phần phát triển kinh tế ổn định, vững mạnh lâu bền.
Trong những năm qua cùng với chính sách phát triển kinh tế Đảng và Nhà
nước ta đã ban hành một hệ thống chính sách xã hội hướng vào việc phục vụ lợi
ích của con người một cách toàn diện. Trong đó nổi bật lên là các chính sách về
việc làm và giải quyết việc làm.
Việc làm và giải quyết việc làm có ý nghĩa to lớn cả về mặt kinh tế - xã hội
và pháp lý, cả trên bình diện quốc gia cũng như đối với cá nhân người lao động.
Đối với mỗi quốc gia, đảm bảo việc làm cho công dân là một trong những
chỉ tiêu quan trọng dùng để đánh giá mức độ phát triển của một quốc gia, tính ưu
việt của một chế độ xã hội.
Giang Thị Tuyết 351765 Page 3
Bài tập học kì – luật lao động Việt Nam
Đối với toàn xã hội, giải quyết tốt vấn đề việc làm, hạn chế thất nghiệp giúp
cho xã hội phát triển ổn định, bền vững, đảm bảo sự hài hòa giũa tăng trưởng kinh
tế và phát triển xã hội, ngăn ngừa hạn chế tiêu cực xã hội.
Đối với mỗi cá nhân, việc làm không chỉ là nguồn sống quan trọng mà còn
là một trong những điều kiện tối quan trọng để phát triển nhân cách và giữ gìn
nhân phẩm con người.
Vậy việc giải quyết việc làm là một vấn đề quan trọng, cần có những biện
pháp tích cực và triệt để cho vấn đề này.
2. Các Biện pháp Hỗ Trợ Và Giải Quyết Việc Làm.
Để giải quyết việc làm cho NLĐ, Nhà nước có thể sử dụng nhiều biện
pháp khác nhau. Có những biện pháp nhằm trực tiếp giải quyết việc làm cho
NLĐ nhưng cũng có những biện pháp chỉ mang tính chất hỗ trợ cho việc giải
quyết việc làm. Các biện pháp cụ thế đó là:
2.1 Chương trình việc làm
Chương trình việc làm là một trong những biện pháp để Chính phủ thực
hiện vấn đề bảo đảm việc làm, hạn chế thất nghiệp. Chương trình này nhằm mục
tiêu về giải quyết việc làm do Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ
VII(1996) đề ra và trên tinh thần tuyên bố của chính phủ nước Cộng hòa XHCN
Việt Nam tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tại
COPENHAGEN – Đan Mạch tháng 3/1995.
Theo quy định tại điều 15 BLLĐ, hàng năm Chính phủ có trách nhiệm lập
chương trình Quốc gia về việc làm và trình Quốc hội quyết định, Ủy ban nhân
dân Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lập chương trình và quỹ giải quyết
việc làm ở địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định.
Việc lập chương trình việc làm nhằm bảo đảm cho mọi người lao động có
khả năng lao đông, có nhu cầu làm việc tiến tới có việc làm đầy đủ, việc làm có
hiệu quả, thông qua đó giải thích hợp lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
với giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần thực hiện công bằng và
tiến bộ xã hội.
Giang Thị Tuyết 351765 Page 4
Bài tập học kì – luật lao động Việt Nam
Về nội dung chương trình việc làm gồm: mục tiêu, chỉ tiêu việc làm mới, các nội
dung hoạt động,thời gian, các giải pháp nguồn tài chính, tổ chức thực hiện và quản
lý chương trình( Điều 4 NĐ 39/2003/NĐ-CP). Bộ lao động - thương binh và xã hội
chủ trì phối hợp với Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ tài chính trình Chính phủ chương
trình quốc gia về việc làm và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế quản lý
và điều hành cơ chế quản lý và điều hành hoạt động quỹ quốc gia về việc làm. Bộ
kế hoạch và đầu tư chủ trì phối hợp với bộ tài chính, Bộ lao đông – thương binh và
xã hội lập kế hoạch các nguồn tài chính hàng năm và năm cho chương trình quốc
gia về việc làm. Đối với chương trình giải quyết việc làm ở địa phương sẽ do
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện và báo cáo kêt quả về Bộ
lao động – thương binh và xã hội và Bộ kế hoạch và đầu tư.
Mục tiêu: Chương trình việc làm đặt ra mục tiêu cụ thể là định ra chỉ tiêu tạo
ra chỗ làm việc làm mới hàng năm, chỉ tiêu giảm tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị và
nâng tỉ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn.
Nguồn lực dành cho chương trình là số kinh phí từ ngân sách nhà nước và
các nguồn khác được dung cho mục tiêu giải quyết việc làm, được thực hiện qua
cơ chế tài chính quỹ quốc gia về việc làm.
Chương trình việc làm được triển khai theo hai hướng cơ bản sau:
Thứ nhất, tạo việc làm mới thông qua việc thúc đẩy phát triển kinh tế, kết
hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với giả quyết việc làm. Đây là hướng cơ bản
và quan trọng nhất.
Thứ hai, duy trì, bảo đảm việc làm cho NLĐ, chống sa thải nhân công hàng
loạt, từng bước xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
Nước ta vừa thực hiện thành công chương trình quốc gia về việc làm giai
đoạn 2006 – 2010, theo quyết định số 101/2007/QĐ_TTg ngày 6/7/2007. Chương
trình đã góp phần thực hiện mục tiêu chung của nền khinh tế về đảm bảo việc làm
và giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống dưới 5% năm 2010 chương trình đã tọa
việc làm cho số lượng lớn lao động, đưa vào sử dụng nhiều kênh việc làm đáp ứng
thông tin về thị trường lao động. Các dự án đã và đang được thực hiện đó là: cho
vay vốn tạo việc làm, hỗ trợ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, hỗ trợ
phát triển thị trường lao động… thu được nhiều kết quả khả quan.
Giang Thị Tuyết 351765 Page 5
Bài tập học kì – luật lao động Việt Nam
2.2Quỹ giải quyết việc làm
Theo quy định taị khoản 1 Điều 45 BLLĐ, Chính phủ lập quỹ quốc gia về
việc làm từ ngân sách nhà nước, nguồn kinh phí hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân
trong nước và nước ngoài và các nguồn khác. Thủ tướng Chính phủ đã quyêt định
số 15/2008/QĐ_TTg về cơ chế quản lý, điều hành vốn cho vay của quỹ quốc gia về
giải quyết việc làm. Sau đó có thông tư số 14/2008/TT-LĐTBXH ngày 29/07/2008
của liên bộ Lao đông – thương binh xã hội, Tài chính, Kế hoạc và đầu tư hướng dẫn
thi hành thực hiện quyết định trên của Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra còn có văn
bản 2539/NHCS-TD này 16/09/2008 và 2812/NHCS-TD này 09/10/2010 của tổng
giám đốc ngân hàng chính sách xã hội …
Theo quy định của các văn bản trên vốn cho vay của quỹ quốc gia về việc
làm được dùng để cho vay hỗ trợ các dự án nhỏ nhằm tạo thêm việc làm, được quản
lý thống nhất từ trung ương đến địa phương. Quỹ cho vay giải quyết việc làm được
đặt tại ngân hàng chính sách xã hội. Ngân hàng chính sách xã hội có nhiệm vụ quản
lý và cho vay theo các quy định tại nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002
của chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
Đối tượng cho vay gồm: Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp sản xuất, hợp tác xã
hoạt động theo luật hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng lao động là người
tàn tật, doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động theo luật doanh nghiệp, chủ trang trại,
trung tâm giáo dục lao động xã hội, hộ gia đình.
Hiện nay, nước ta có ba loại quỹ đó là:
Quỹ quốc gia về việc làm: quỹ này sử dụng vào các mục đích là cho vay vốn
theo dự án nhỏ để giải quyết việc làm cho một số đối tượng, cho các doanh
nghiệpvay để hạn chế lao động mất việc làm và nhận người thất nghiệp, hỗ trợ củng
cố và phát triển hệ thống tổ chức giưới thiệu việc làm và các hoạt động phát triển
thị trường lao động.
Quỹgiải quyêt việc làm địa phương: quỹ được hình thành từ các nguồn ngân
sách địa phương do hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết
Giang Thị Tuyết 351765 Page 6
Bài tập học kì – luật lao động Việt Nam
định, các nguồn hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các nguồn hỗ
trợ khác. Quỹ được sử dụng theo đúng mục tiêu của chương trình giải quyết việc
làm ở địa phương.
Quỹ việc làm cho người tàn tật: quỹ được hình thành từ các nguồn: ngân sách
địa phương, quỹ quốc gia về việc làm, khỏan thu từ các doanh nghiệp nộp hàng
tháng do không nhận đủ số lao động tàn tật theo quy định, các tổ chức, cá nhân
trong và ngoài nước trợ giúp và thu hút các nguồn khác. Quỹ được sử dụng vào
mục đích cấp để hỗ trợ hoặc cho vay với lãi suất thấp cho một số cơ sở, doanh
nghiệp, các nhân sử dụng lao động tàn tật; các hoạt động phục hồi chức năng cho
người tàn tật.
2.3. Tổ chức giới thiệu việc làm
Việc thành lập các tổ chức giới thiệu việc làm được coi là một trong những
biện pháp hỗ trợ giả quyết việc làm cho NLĐ.
Thông qua hoạt động của các tổ chức này mà các quan hệ lao động có điều
kiện và khả năng được hình thành. Tổ chức giới thiệu việc làm theo Điều 12 Nghị
định 39/2003/NĐ-CP bao gồm các trung tâm giới thiệu việc làm và các doanh
nghiệp chuyên giới thiệu việc làm. Trung tâm giới thiệu việc làm do cơ quan nhà
nước, tổ chức chính trị xã hội thành lập là đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo một
phần chi phí hoạt động. Đối với các doanh nghiệp chuyên đảm bảo về giới thiệu
việc làm phải đảm bảo đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật và có giấy
phép hoạt động giới thiệu việc làm.
Nhiệm vụ của các tổ chức giới thiệu việc làm là tư vấn, giới thiệu việc làm
cho NLĐ, cung ứng và giúp tuyển lao động theo yêu cầu của NSDLĐ, thu nhập và
cung ứng thông tin về thị trường lao động, có quyền dạy nghề gắn với tạo việc làm.
Như vậy, nước ta đã duy trì mạng lưới dịch vụ công về việc làm và cho phép
mở nhiều kênh giải quyết việc làm khác. Thông qua hoạt động này, NSDLĐ cần
tuyển NLĐ và NLĐ nhanh chóng gặp nhau, việc làm cho NLĐ được giải quyết.
2.4. Dạy nghề gắn với việc làm
Dạy nghề và việc làm có mối quan hệ mất thiết với nhau. Có nghề nghiệp là
điều kiện tiên quyết đối với NLĐ để có thể nhanh chóng được tìm việc làm và có
chỗ làm ổn định.
Giang Thị Tuyết 351765 Page 7
Bài tập học kì – luật lao động Việt Nam
Theo luật dạy nghề(2006). Các trình độ đào tạo trong dạy nghề bao gồm: trình
độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng. Có hai hình thức dạy nghề là chính quy và dạy
nghề thường xuyên. Mục tiêu của dạy nghề là: đào tạo nhân lực kĩ thuật trong sản
xuất, dịch vụ có năng lực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức
lương tâm nghề nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi
tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn,
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
2.5 Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
Đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài được coi là một
trong những hoạt động quan trọng nhằm giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng
cao tay nghề, tiếp cận công nghệ tiên tiến cho NLđ thông qua đó góp phần phát
triển nguồn nhân lực.
Nước ta đã hợp tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài từ những
năm 1980. Nhà nước thực hiện việc quản lý việc đưa người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài. Nhiều văn bản pháp luật được ban hành nhằm tạo cơ sở
pháp lý cho hoạt động này, như: Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài năm 2006, Nghị định 126/2007/NĐ-Cp ngày01/08/2007 quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở
nước ngoài, Nghị định số 144/2007/NĐ-CP ngày 10/09/2007 quy định về xử phạt vi
phạm hnahf chính trong hoạt động đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài…
Theo quy định tại điều 5 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài năm 2006. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân Việt Nam có đủ
điều kiện đi làm việc ở nước ngoài, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ đi làm
việc ở nước ngoài và của doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa NLĐ đi làm việc ở
nước ngoài.
Điều 6 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài năm 2006
quy định: Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo một trong các hình thức là:
Hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ,
với tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động trong lĩnh vực này, hợp đông với doanh
nghiệp trúng thầu, nhận thầu ở nước ngoài hoặc tổ chức cá nhân đầu tư ra nước
ngoài có đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, hợp đông theo hình thức thực tập ,
nâng cao tay nghề và HĐLĐ do cá nhân NLĐ trực tiếp kí với NSDLĐ nước ngoài.
Giang Thị Tuyết 351765 Page 8
Bài tập học kì – luật lao động Việt Nam
Theo thống kê đến tháng 6/2009 Việt Nam có hơn 96000 lao động đi làm
việc ở nước ngoài, phần lớn là làm việc tại các thị trường truyền thống như Hàn
quốc, Đài loan, Nga, Đức chiếm tới 95%; số còn lao sang một số nước ở Châu Âu
và Châu mỹ.
2.6. Một số biện pháp khác
Ngoài các biện pháp hỗ trợ và giải quyết việc làm nói trên, Nhà nước còn có
các chính sách khuyến khích NLĐ tự tạo việc làm, khuyến khích sử dụng lao động
tự do và tự do hợp đồng. Cho phép các đơn vị sử dụng lao động được quyền tự do
tuyển dụng lao động trên cơ sở nhu cầu sản xuất kinh doanh của đơn vị.NLĐ được
quyền tự do thiết lập quan hệ lao động trên cơ sở hợp đồng lao động. Đồng thời với
những biện pháp đó, Nhà nước còn thực hiện hàng loạt các biệ pháp khác để giải
quyết việc làm như thực hiện chính sách dân số, phân bổ lại dân cư, cơ cấu lại lực
lượng lao động, xóa đói giảm nghèo gắn với giải quyết việc làm…
B GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
a/ Công ty M có thể sa thải chị H được hay không?
Theo nội dung mà tình huống nêu ra,dựa trên các quy định của pháp luật ta
khẳng định công ty M có thể sa thải được chị H.
Sa thải là hình thức kỷ luật được NSDLĐ áp dụng đối với NLĐ bằng cách
đơn phương chấm dứt HĐLĐ, buộc NLĐ phải nghỉ việc không phụ thuộc vào hiệu
lực của HĐLĐ khi NLĐ vi phạm một trong những trường hợp quy định tại khoản 1
Điều 85 Bộ luật Lao động và đã được quy định trong nội quy của đơn vị. Điều 85
BLLĐ quy định như sau:
“ 1- Hình thức kỷ luật sa thải chỉ được áp dụng trong những trường hợp sau
đây:
Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghệ, kinh
doanh hoặc có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của
doanh nghiệp…”.
2 - Sau khi sa thải người lao động, người sử dụng lao động phải báo cho cơ
quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
biết.”
Giang Thị Tuyết 351765 Page 9
Bài tập học kì – luật lao động Việt Nam
Mặt khác, theo nghị định của chính phủ số 33/2003/NĐ – CP ngày 02 tháng
4 năm 2003 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 41/CP ngày 06 tháng 7
năm 1995 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
BLLĐ về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất có quy định:
“3. Hình thức sa thải được áp dụng đối với người lao động vi phạm một trong
những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 85 của Bộ Luật Lao động và đã cụ thể
hóa trong nội quy lao động được quy định như sau:
a) Người lao động vi phạm một trong các trường hợp quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 85 của Bộ Luật Lao động, nếu hành vi vi phạm đó chưa có đầy đủ
hoặc khó xác định chứng cứ thì yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra, xác minh,
kết luận để làm căn cứ xử lý kỷ luật…”
Thứ nhất: Theo tình huống ở trên ta thấy, hành vi của chị H thuộc trường hợp
điểm a khoản 1 Điều 85 BLLĐ đó là hành vi mà chị H đã tham ô 34 triệu đồng của
công ty M. Chị H đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình là nhân viên thu ngân
để thu tiền của 1 số đơn vị quảng cáo, có viết hóa đơn chứng từ nhưng không ghi
vào sổ thu tiền và không chuyển tiền vào phòng kế toán. Đó là hành vi cụ thể, xác
thực để xác định chị H đã có hành vi tham ô tài sản ( tiền) của công ty M.
Thứ hai: Đồng thời theo nghị định của chính phủ số 33/2003/NĐ – CP ngày
02 tháng 4 năm 2003 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 41/CP ngày 06
tháng 7 năm 1995 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của BLLĐ về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất thì “kết luận của Công
an về hành vi tham ô của chị H với số tiền 34 triệu đồng” đó cũng chính là căn cứ để
xác định xử lý kỷ luật sa thải”.
Chị H đã vi phạm kỉ luật lao động, đối với vi phạm trên chị H phải chịu hình
thức kỉ luật là sa thải. Trong trường hợp này thời hiệu xử lý kỷ luật chưa hết. Điều
86 Bộ luật lao động quy định “Thời hiệu để xử lý kỷ luật lao động tối đa là ba
tháng,kể từ ngày xảy ra vi phạm, trường hợp đặc biệt cũng không được quá sáu
tháng”
Nghị định của chính phủ số 33/2003/NĐ – CP ngày 02 tháng 4 năm 2003
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 41/CP ngày 06 tháng 7 năm 1995
của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về kỷ
luật lao động và trách nhiệm vật chất có quy định rõ về thời hiệu xử lý vi phạm kỷ
Giang Thị Tuyết 351765 Page 10
Bài tập học kì – luật lao động Việt Nam
luật lao động: "Điều 8. Thời hiệu để xử lý vi phạm kỷ luật lao động theo Điều 86
của Bộ luật Lao động được quy định như sau:
1. Thời hiệu để xử lý vi phạm kỷ luật lao động tối đa là ba tháng, kể từ ngày
xảy ra hoặc phát hiện vi phạm, trường hợp có hành vi vi phạm liên quan đến tài
chính, tài sản, tiết lộ bí mật công nghệ, kinh doanh của doanh nghiệp thì thời hiệu xử
lý kỷ luật lao động tối đa là 6 tháng.
2…
c) Chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra, xác minh và kết luận đối
với hành vi vi phạm được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 85 của Bộ luật Lao
động.
d) Người lao động nữ có thai; nghỉ thai sản; nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.
Người lao động nam phải nuôi con nhỏ dưới 12 tháng.
Khi hết thời gian quy định tại các điểm a, b, c khoản 2 Điều này, nếu còn thời
hiệu để xử lý kỷ luật lao động thì người sử dụng lao động tiến hành xử lý kỷ luật lao
động ngay, nếu hết thời hiệu thì được khôi phục thời hiệu để xử lý kỷ luật lao động,
nhưng tối đa không quá 30 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên.
Khi hết thời gian quy định tại điểm d khoản 2 Điều này, mà thời hiệu xử lý kỷ
luật lao động đã hết thì được kéo dài thời hiệu để xem xét xử lý kỷ luật lao động,
nhưng tối đa không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên.”
Như vậy, vi phạm của chị H bị phát hiện từ đầu năm 2007, công ty đã ra quyết
định đình chỉ tạm thời công việc của chị từ tháng 2/2007 đến tháng 4/2009 và đồng
thời chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra khởi tố hành vi vi phạm của chị. Cho tới
tháng 11/2009 cơ quan Công an có kết luận về hành vi tham ô của chị H, lúc này
công ty M ra quyết định sa thải chị H.Ở đây hành vi vi phạm liên quan đến tài chính
nên thời hiệu xử lý kỷ luật là sáu tháng.Khi có kết quả điều tra, thời hiệu được khôi
phục lại để xử lý kỷ luật.
Vậy với lý do sa thải chính đáng và trong thời hiệu xử lý kỉ luật, nên công
ty M có thể ra quyết định sa thải chị H.
Giang Thị Tuyết 351765 Page 11
Bài tập học kì – luật lao động Việt Nam
b/ Khi sa thải H, công ty cần lưu ý những vấn đề gì?
Khi tiến hành sa thải H công ty cần lưu ý tới nhiều vấn đề cụ thể đó là:
Thứ nhất, về lý do sa thải : công ty M phải đưa ra lý do việc sa thải H. Căn
cứ vào quy định của điểm a khoản 1 Điều 85 BLLĐ, hành vi của H được xác định
là tham ô tài sản và đã có kết luận của Công an điều tra, vậy đây là lý do công ty M
cần phải đưa ra để có thể sa thải chị H.
Thứ hai, thẩm quyền xử lý kỷ luật sa thải: Theo điều 10 Nghị định số 42/CP
và đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 1 Nghị định số 33/2003/NĐ-CP thì
người có thẩm quyền xử lý vi phạm kỷ luật lao động là NSDLĐ. Người được
NSDLĐ ủy quyền thì chỉ được xử lý theo hình thức khiển trách. Trường hợp này,
chị H bị xử lý kỷ luật sa thải vì vậy thẩm quyển kỷ luật sa thải sẽ là công ty M.
-Thứ ba, thời hiệu xử lý kỷ luật: thời hiệu xử lý kỷ luật là vấn đề đặc biệt
cần chú ý.Căn cứ theo quy định tại Điều 86 BLLĐ về thời hiệu xử lý kỉ luật lao
động và được cụ thể hóa tại Điều 8 Nghị định số 41/CP ngày 06/7/1995 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về kỷ luật lao
động và trách nhiệm vật chất và được sửa đổi, bổ sung một số điều ở Nghị định số
33/2003/NĐ-CP ngày 02/4/2003.
Vậy về thời hiệu xử lý vi phạm kỷ luật thì công ty M cần chú ý thời hạn xử lý kỷ
luật với H vì hành vi vi phạm liên quan đến tài chính, tài sản của doanh nghiệp thì
thời hiệu xử lý kỷ luật lao động tối đa là 6 tháng và khi hết thời hiệu thì được khôi
phục lại với thời gian tối đa không quá 30 ngày, chờ kết quả điều tra của cơ quan có
thẩm quyền. Vụ việc phức tạp cần phải điều tra lâu dài thì công ty cần tiến hành
điều tra riêng và vẫn cho chị H làm việc bình thường để thời hiệu xử phạt được tính
từ khi có kết luận về hành vi tham ô của chị H.
Thứ tư, thủ tục tiến hành xử lý kỷ luật lao động .
Giang Thị Tuyết 351765 Page 12
Bài tập học kì – luật lao động Việt Nam
Công ty cần tiến hành phiên họp kỷ luật: Nghị định số 41/CP ngày 06/7/1995
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về kỷ
luật lao động và trách nhiệm vật chất có quy định:
“ Điều 11
1. Việc xem xét, xử lý vi phạm kỷ luật lao động theo Điều 87 của Bộ Luật lao
động được quy định như sau:
a) Người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động
bằng các chứng cứ hoặc người làm chứng (nếu có);
b) Phải có sự tham gia của đại diện Ban chấp hành Công đoàn cơ sở, trừ
trường hợp xử lý vi phạm kỷ luật lao động theo hình thức khiển trách bằng miệng;
c) Đương sự phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư, bào chữa viên
nhân dân, hoặc người khác bào chữa. Trong trường hợp đương sự là người dưới 15
tuổi thì phải có sự tham gia của cha, mẹ, hoặc người đỡ đầu hợp pháp của đương
sự. Nếu người sử dụng lao động đã 3 lần thông báo bằng văn bản mà đương sự vẫn
vắng mặt thì người sử dụng lao động có quyền xử lý kỷ luật và thông báo quyết định
kỷ luật cho đương sự biết”.
Căn cứ vào Nghị định số 33/2003/NĐ-CP ngày 02/4/2003 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 41/CP ngày 06/7/1995 của Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về kỷ luật lao động và trách
nhiệm vật chất thì thành phần của phiên họp kỷ luật gồm có Công ty M (NSDLĐ)
hoặc NSDLĐ ủy quyền là người chủ trì phiên họp. Đương sự là chị H bắt buộc phải
có mặt, nếu chị H có lý do chính đáng để vắng mặt thì phiên họp phải hoãn; nếu chị
H cố tình trốn tránh, công ty M đã 3 lần gửi thông báo bằng văn bản mà vẫn vắng
mặt thì công ty M có quyền xử lý kỷ luật; đại diện Ban chấp hành Công đoàn cơ sở
của công ty M, người bào chữa, luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác
bào chữa….
Sau khi đã có đầy đủ các thành phần, công ty M tiến hành phiên họp. Trong
phiên họp công ty M phải chứng minh được lỗi của chị H bằng các chứng cứ hay
Giang Thị Tuyết 351765 Page 13
Bài tập học kì – luật lao động Việt Nam
kết luận của cơ quan Công an, chứng minh được hành vi vi phạm kỷ luật của chị H
và mức độ lỗi tương ứng với hình thức kỷ luật là sa thải. Chị H có quyền tự bào
chữa, nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác bào chữa cho mình.
Quá trình xử lý kỷ luật phải được ghi thành biên bản với những nội dung
được quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định số 41/CP ngày 06/7/1995 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về kỷ luật lao
động và trách nhiệm vật chất.
“ 2. Biên bản xử lý vi phạm kỷ luật lao động gồm các nội dung chủ yếu sau
đây:
- Ngày, tháng, năm, địa điểm xử lý vi phạm kỷ luật lao động;
- Họ, tên, chức trách những người có mặt;
- Hành vi vi phạm kỷ luật lao động, mức độ vi phạm, mức độ thiệt hại gây ra
cho doanh nghiệp (nếu có);
- Ý kiến của đương sự, của người bào chữa, hoặc người làm chứng (nếu có);
- Ý kiến của đại diện Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở;
- Kết luận về hình thức xử lý vi phạm kỷ luật lao động, mức độ thiệt hại, mức
bồi thường và phương thức bồi thường (nếu có);
- Đương sự, đại diện Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở, người có thẩm quyền
xử lý vi phạm kỷ luật lao động ký vào biên bản. Đương sự, đại diện ban Chấp hành
Công đoàn cơ sở có quyền ghi ý kiến bảo lưu; nếu không ký thì phải ghi rõ lý do”.
Về quyết định sa thải. Khoản 3 Điều 11 Nghị định số 41/CP ngày 06/7/1995
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về kỷ
luật lao động và trách nhiệm vật chất có quy định:
“ a) Người có thẩm quyền xử lý vi phạm kỷ luật lao động theo hình thức sa
thải hoặc chuyển làm công việc khác có mức lương thấp hơn phải ra quyết định
bằng văn bản ghi rõ thời hạn kỷ luật. Khi xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải, người
sử dụng lao động phải trao đổi, nhất trí với Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở. Trong
trường hợp không nhất trí thì Ban Chấp hành công đoàn cơ sở báo cáo với Công
đoàn cấp trên trực tiếp, người sử dụng lao động báo cáo với Sở Lao động - Thương
Giang Thị Tuyết 351765 Page 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét