phủ
4. Cơ sở pháp lý .
67
5. Vấn đề bảo mật thông tin
69
6. Hệ thống thanh toán điện tử
69
II. Một số ứng dụng bớc đầu của Chính phủ điện tử ở
Việt nam 71
1. Quá trình tin học hoá quản lý hành chính nhà nớc .
71
2. Một số dịch vụ hành chính công qua Website của Chính phủ
80
III. Định hớng và một số kiến nghị nhằm phát triển
Chính phủ điện tử ở Việt nam
86
1. Định hớng Chính phủ trong việc phát triển công nghệ thông tin và ứng công
nghệ thông tin vào các dịch vụ của Chính phủ
86
2. Một số kiến nghị nhằm phát triển Chính phủ điện tử ở Việt nam
89
Kết luận
93
Tài liệu tham khảo
Danh mục từ viết tắt
AGLS: Government Locator Service Standard
ATO: Australian Taxation Office
CIO: Chief Information Officer
G2B: Government to Business
G2C: Government to Citizen
G2E: Government to Employee
G2G: Government to Government
ICT: Information and Communication Technology
IEE: Internal Effectiveness and Efficiency
IMSC: Information Management Strategy Committee
IPT: Integrated Project Team
NOIE: National Office for the Information economy
OMB: Office of Management and Budget
RCB: Registry of Companies and Businesses
RCSA: Recruitment and Consulting Service Association
Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nớc - Bài học kinh nghiệm đối với Việt nam
Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, vai trò của nhà nớc ngày càng
trở nên quan trọng. Nhà nớc đóng vai trò quyết định trong việc hoạch định
các chính sách về kinh tế, văn hoá, xã hội nhằm mục tiêu xây dựng một xã
hội công bằng, văn minh và đa nền kinh tế phát triển sánh ngang với các c-
ờng quốc kinh tế trên thế giới. Nhng làm thế nào để các chủ trơng chính sách
đó đến đợc với nhân dân mới là vấn đề mà Chính phủ cần phải suy tính.
Các nớc phát triển trên thế giới đã tìm ra lời giải cho bài toán, đó là
phát triển Chính phủ điện tử. Hầu hết các nớc này đã nhận thức đợc rằng
Chính phủ điện tử mang lại rất nhiều lợi ích cho đất nớc. Trong tơng lai, nớc
nào có một nền Chính phủ điện tử phát triển, nớc đó sẽ có lợi thế hơn các n-
ớc khác. Không một nớc nào muốn bị tụt hậu so với các nớc, do đó, phát
triển Chính phủ điện tử đã trở thành xu hớng chung của các quốc gia trên
toàn thế giới.
Thế nhng, ở nớc ta, khái niệm Chính phủ điện tử đối với hầu hết mọi
ngời là một khái niệm hoàn toàn mới mẻ và hết sức lạ lẫm. Hầu nh chẳng ai
biết Chính phủ điện tử là gì chứ không nói gì đến việc liệu Chính phủ điện tử
sẽ mang lại lợi ích gì cho đất nớc. Hiện nay có rất ít, nếu không nói là không
có tác giả trong nớc nào đề cập đến vấn đề Chính phủ điện tử. Các nớc phát
triển trên thế giới đã đề ra và thực hiện chiến lợc Chính phủ điện tử từ nhiều
năm trớc, vậy mà nớc ta mới bắt đầu triển khai các đề án tin học hoá quản lý
nhà nớc. Khởi động chậm nh vậy thì nớc ta còn rất lâu mới đuổi kịp các nớc
khác.
Do vậy, nghiên cứu về Chính phủ điện tử là vấn đề rất cần thiết đối với
nớc ta. Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề trên, em mạnh dạn lựa
chọn đề tài: "Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nớc -
Bài học kinh nghiệm đối với việt nam" với hy vọng phần nào
Khoá luận tốt nghiệp - Trần Thị Liên, Anh 5 K38B
1
Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nớc - Bài học kinh nghiệm đối với Việt nam
đó nâng cao nhận thức của mình về vấn đề này cũng nh đề xuất một số kiến
nghị nhằm phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam.
2. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Khoá luận bắt đầu bằng việc nghiên cứu những nội dung cơ bản về
Chính phủ điện tử với mục đích đem lại cái nhìn tổng quát, khách quan nhất
về Chính phủ điện tử. Từ đó, khoá luận sẽ đi sâu nghiên cứu về chiến lợc và
tổng hợp một số dữ liệu về thực trạng phát triển Chính phủ điện tử ở một số
nớc tiêu biểu, cụ thể là ba nớc Mỹ, Australia và Singapore, qua đó rút ra một
số bài học kinh nghiệm về phát triển Chính phủ điện tử. Phần cuối cùng của
bài khoá luận sẽ dành để tìm hiểu và đánh giá các tiền đề cho việc xây dựng
Chính phủ điện tử ở Việt nam, từ đó đề ra định hớng và một số kiến nghị
nhằm phát triển Chính phủ điện tử ở Việt nam.
3. Phơng pháp nghiên cứu
Bài viết áp dụng các phơng pháp nghiên cứu khoa học sau: Phơng
pháp nghiên cứu tham khảo và tổng hợp tài liệu; Phơng pháp suy luận logic,
phơng pháp so sánh.
4. Kết quả nghiên cứu
Qua nghiên cứu về chiến lợc phát triển Chính phủ điện tử ba nớc Mỹ,
Singapore và Australia, khoá luận đã rút ra đợc một số bài học kinh nghiệm
cho các nớc đi sau. Khoá luận cũng đã đi sâu tìm hiểu về tình hình chuẩn bị
cho phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam.Từ đó, khoá luận đã mạnh dạn
đề xuất các giải pháp phát triển Chính phủ điện tử phù hợp với khả năng của
nớc ta.
5. Nội dung nghiên cứu
Khoá luận gồm ba chơng:
Ch ơng I : Tổng quan về chính phủ điện tử
Khoá luận tốt nghiệp - Trần Thị Liên, Anh 5 K38B
2
Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nớc - Bài học kinh nghiệm đối với Việt nam
Ch ơng II : Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nớc và bài
học kinh nghiệm với Việt nam
Ch ơng III : Định hớng và giải pháp phát triển Chính phủ
điện tử ở Việt nam
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Thầy Nguyễn Quang Hiệp,
ngời đã tận tình hớng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này. Em cũng
xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các bạn đã giúp đỡ em trong việc
thu thập tài liệu để hoàn thành khoá luận này.
Do trình độ còn hạn chế và thời gian cũng có hạn, khoá luận này chắc
chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận đợc sự
góp ý chân thành của các thầy cô giáo và các bạn.
Hà nội, ngày 20/11/2003
Sinh viên
Trần Thị Liên
Khoá luận tốt nghiệp - Trần Thị Liên, Anh 5 K38B
3
Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nớc - Bài học kinh nghiệm đối với Việt nam
Chơng I
Tổng quan về chính phủ điện tử
I. Một số vấn đề cơ bản về Chính phủ điện tử
1. Sự ra đời Chính phủ điện tử
Ngày nay ngời ta nói nhiều về Chính phủ điện tử (e-government). Một
khi mà Internet và thơng mại điện tử ra đời, thì sự ra đời Chính phủ điện tử là
điều tất yếu. Trớc kia, hầu hết chính phủ các nớc phải giải quyết các vấn đề
kinh tế xã hội theo cách cũ, tức là hoàn toàn không có sự tham gia của công
nghệ thông tin và viễn thông. Nh đã thấy ở hầu hết các nớc, cơ cấu bộ máy
nhà nớc bao gồm các Bộ nh bộ Giáo dục, Bộ y tế, Bộ Giao thông vận tải, Bộ
Thơng mại, Bộ Khoa học và công nghệ Trung bình mỗi chính phủ có
khoảng 50 tới 70 bộ hay cơ quan khác nhau ở trung ơng. Mỗi bộ nh vậy đều
có các cơ quan chức năng riêng. Việc phát hiện một cơ quan làm không
đúng chức năng, nhiệm vụ của mình có thể là khó khăn. Tệ hơn, ngay cả các
vấn đề đơn giản nh cấp giấy phép kinh doanh cho một doanh nghiệp, bán
một căn nhà hoặc đăng ký khai sinh cho trẻ sơ sinh thì một số lớn các cơ
quan khác nhau đòi hỏi một số biểu mẫu khác nhau. Điều này là quá thừa và
không cần thiết. Hơn nữa, thủ tục giải quyết vấn đề về quản lý thờng quá r-
ờm rà, gây khó khăn cho ngời dân khi có nhu cầu.
Ví dụ nh phố Phoenix tỉnh thành Arizon thuộc bang SW Tây Nam nớc
Mỹ, dân chúng thờng xuyên phải chen lấn nối đuôi nhau để đăng ký lại xe
hơi và xe tải đã gây ồn ào và làm bẩn cả một khu vực trớc trụ sở thành phố.
Tình trạng này đã xảy ra không riêng gì ở Mỹ mà ở hầu hết các nớc trên thế
giới. Dân chúng quan hệ với các cơ quan, ban ngành của chính phủ từ trung -
ơng đến địa phơng đều nằm trong tình trạng ảm đạm và hao phí thời gian
nên họ cũng muốn tránh né càng nhiều càng hay.
Khoá luận tốt nghiệp - Trần Thị Liên, Anh 5 K38B
4
Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nớc - Bài học kinh nghiệm đối với Việt nam
Một trong các lý do cơ bản làm cho khu vực công kém hiệu quả, quan
liêu là những việc xảy ra ở trên. Hệ thống tổ chức hàng dọc hay ngang của
các cơ quan có quá nhiều ban ngành tạo ra sự phức tạp cho cán bộ nhân viên
trong lúc thừa hành nhiệm vụ. Để giải quyết tình trạng trên, Chính phủ các
nớc trên thế giới đã tìm ra giải pháp áp dụng Internet và các thành tựu khác
của khoa học công nghệ để cải thiện hoạt động của bộ máy nhà nớc.
Khả năng áp dụng Internet để cung cấp thông tin Chính phủ tới mọi
ngời ở mọi nơi mà không cần bất cứ khâu trung gian nào sẽ ảnh hởng rất lớn
tới bản thân các quan chức Chính phủ. Các doanh nghiệp nhỏ có thể thu thập
các quy tắc và các văn bản pháp luật dễ dàng hơn mà không cần phải thông
qua luật s. Ngay cả ngời dân cũng có thể nộp thuế từ nhà riêng vừa đỡ tốn
thời gian tiền bạc vừa hiệu quả. Mặt khác, việc mọi ngời có thể chủ động
hơn khi truy cập các thông tin và sử dụng các dịch vụ của Chính phủ cũng
góp phần hạn chế hiện tợng lạm dụng quyền lực của các quan chức nhà nớc,
bảo vệ quyền lợi cá nhân cho công dân và đảm bảo an toàn và bảo mật các
thông tin quan trọng của Chính phủ.
Mặc dù vẫn còn sớm để dự đoán những ảnh hởng của Internet đối với
Chính phủ, nhng có một điều chắc chắn rằng những ứng dụng của Internet
trong việc đa thông tin và dịch vụ của Chính phủ tới mọi ngời ở mọi nơi mọi
lúc tạo ra cơ hội mở rộng, cải thiện và nâng cao chất lợng thông tin và dịch
vụ của Chính phủ. Lợi ích của việc áp dụng Internet lại càng rõ ràng khi các
Chính phủ trên khắp thế giới đang tự chuyển đổi sang Chính phủ điện tử.
Vậy lý do của tất cả các hành động trên là gì và cơ sở hạ tầng thông tin đóng
vai trò gì trong việc này?
1.1. Lý do ra đời Chính phủ điện tử
Có 4 lý do chính khiến Chính phủ các nớc chuyển đổi sang Chính phủ
điện tử:
1.1.1. Tiết kiệm chi phí cho cả Chính phủ và dân chúng
Khoá luận tốt nghiệp - Trần Thị Liên, Anh 5 K38B
5
Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nớc - Bài học kinh nghiệm đối với Việt nam
Trên thế giới hầu hết các Chính phủ đều nằm trong tình trạng chịu
gánh nặng về chi phí. Mặc dù ở nhiều nớc, khoản thu từ thuế tăng lên cùng
với tốc độ tăng của nền kinh tế, đặc biệt là ở các nớc công nghiệp, các khoản
chi tiêu của Chính phủ vẫn tăng lên một cách nhanh chóng, nhất là khi dân
số và các yếu tố khác tăng làm cho các khoản chi dành cho lơng hu và các
khoản trợ cấp thất nghiệp, y tế tăng nhanh mỗi năm. Những khoản chi nh
vậy làm cho ngân sách nhà nớc ngày càng cạn kiệt, khiến cho Chính phủ
phải vắt óc nghĩ cách giảm chi phí. Chính phủ các nớc thấy rằng áp dụng
công nghệ thông tin và viễn thông vào quản lý hành chính nhà nớc và cung
cấp dịch vụ của Chính phủ vừa giúp giảm chi cho nhà nớc vừa tiết kiệm thời
gian tiền bạc cho các đối tợng sử dụng dịch vụ của Chính phủ. Rõ ràng là sử
dụng dịch vụ thanh toán bằng điện sẽ nhanh hơn và rẻ hơn rất nhiều so với
việc dùng tiền mặt hay các phơng tiện thanh toán truyền thống khác. Chính
phủ cũng tiết kiệm đợc rất nhiều nếu đăng tải các thông tin mời thầu trên
mạng thay vì phải đăng tải trên báo chí.
Từ năm 1996, thành phố Arizona của Mỹ đi tiên phong trong việc cho
phép dân chúng sử dụng dịch vụ đăng ký lại giấy phép lái xe qua trang Web.
Thay vì phải đứng xếp hàng cả buổi trớc sở giao thông để chờ đến lợt mình
thì nay dân chúng có thể lên mạng đăng ký số xe, xin bảng số 24/24 giờ liên
tục và 7 ngày một tuần. Nhờ giao dịch qua mạng nên mỗi giao dịch rút lại
trung bình chỉ còn 2 phút và ngời dân cũng tiết kiệm đợc chi phí do không
phải đóng lệ phí cho Sở Giao thông nh trớc đây. Website này do IBM xây
dựng, bảo quản và công ty này đợc trả 2% trên trị giá của giao dịch. Tiến
trình thực hiện trên mạng chỉ tốn 1,6 USD so với 6,6USD cho mỗi giao dịch
tại Sở. Việc này tiết kiệm cho Chính phủ một số tiền lớn, Sở Giao thông tiết
kiệm đợc 1,7 triệu USD mỗi năm nhờ cung cấp dịch vụ qua mạng. (Nguồn:
Kinh tế học Internet: Từ thơng mại điện tử đến Chính phủ điện tử - Vơng
Liêm, NXB Trẻ, 2001)
1.1.2. áp lực cạnh tranh từ khu vực t nhân
Khoá luận tốt nghiệp - Trần Thị Liên, Anh 5 K38B
6
Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nớc - Bài học kinh nghiệm đối với Việt nam
Ngoài vấn đề chi phí, Chính phủ phải đối mặt với áp lực cạnh tranh
ngày càng tăng và phức tạp từ khu vực t nhân. Trong nền kinh tế thị trờng và
môi trờng cạnh tranh tự do hiện nay, sản phẩm và dịch vụ khách hàng do khu
vực t nhân cung cấp ngày càng tăng về cả lợng và chất. Các công ty đang rất
tích cực tìm hiểu thị hiếu và tâm lý khách hàng để tìm cách khác biệt hoá sản
phẩm và dịch vụ của mình so với các công ty khác. Mặc dù việc này mang
lại nhiều lợi ích cho ngời tiêu dùng và xã hội, song nó lại làm nảy sinh một
vấn đề quan trọng, đó là khi các khách hàng đợc hởng dịch vụ ngày càng tốt
từ khu vực t nhân thì họ lại càng mong đợi một dấu hiệu tơng tự từ các dịch
vụ của Chính phủ. Trớc đây, khi Chính phủ cung cấp thông tin và dịch vụ
phục vụ ngời dân, việc phải bỏ ra bao nhiêu chi phí để cung cấp dịch vụ đó
luôn là vấn đề đợc xem xét đầu tiên, sau đó mới đến chất lợng dịch vụ. Nếu
cứ trong tình trạng này thì chất lợng dịch vụ do Chính phủ cung cấp không
bao giờ cạnh tranh đợc với chất lợng dịch vụ của khu vực t nhân. Vì vậy, các
công dân càng đợc hởng dịch vụ tốt bao nhiêu từ khu vực t nhân lại càng yêu
cầu bấy nhiêu từ các dịch vụ do Chính phủ cung cấp.
1.1.3. Công nghệ thông tin và viễn thông đang cải thiện chất l ợng
dịch vụ ở khắp mọi nơi
Ngày nay, với sự phát triển nh vũ bão của khoa học công nghệ, Chính
phủ cũng nhận thấy áp dụng khoa học công nghệ là một biện pháp hữu hiệu
để cải thiện chất lợng dịch vụ. Nếu một sinh viên đại học có thể đăng ký lớp
cho mình qua mạng từ nhà hay từ ký túc xá thì tại sao Chính phủ lại không
thể cho phép công dân của mình nộp thuế theo cách tơng tự nh vậy? Khi
công nghệ góp phần cải thiện chất lợng dịch vụ Chính phủ theo hớng tích
cực cả về tính kinh tế lẫn tính kỹ thuật thì Chính phủ không còn sự lựa chọn
nào khác là phải đi theo chiều hớng chung đó. Sử dụng công nghệ hiện đại,
thoạt tiên các viên chức Chính phủ cần phải giải quyết với nhiều loại giao
dịch phong phú hơn với công dân và do đó phải có kiến thức sâu rộng hơn về
công nghệ.
Khoá luận tốt nghiệp - Trần Thị Liên, Anh 5 K38B
7
Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nớc - Bài học kinh nghiệm đối với Việt nam
Các tổ chức Chính phủ cũng sẽ chịu nhiều ảnh hởng. Trớc kia, nếu
một công dân muốn xin giấy phép lái xe, đăng ký xe hay muốn nộp thuế,
anh ta sẽ phải đến ba cơ quan nhà nớc khác nhau. Chỉ để thực hiện một dịch
vụ rất đơn giản mà phải đi đến rất nhiều nơi và thực hiện nhiều thủ tục rờm
rà. Để giải quyết tình trạng này, Chính phủ cần phải rút gọn lại bộ máy hành
chính của mình. Nh vậy thì một công dân thất nghiệp khi muốn hởng trợ cấp
thất nghiệp, bồi thờng hay trợ cấp về y tế có thể ngồi ở nhà và yêu cầu qua
điện thoại hay một máy tính cá nhân thay vì cứ phải đi đến 4, 5 cơ quan khác
nhau của Chính phủ để yêu cầu.
1.1.4. Tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế
Các Chính phủ dân chủ tự do trên thế giới thấy rằng Chính phủ cũng
là một thành viên quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế đất nớc.
Chính phủ ngày nay nhận thức rõ rằng Chính phủ cần thực hiện thêm chức
năng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số-
một động lực phát triển kinh tế của thế kỷ 21. Vai trò mới này của Chính phủ
yêu cầu phải có nhiều công cụ quản lý hơn ngoài các công cụ truyền thống.
Cơ sở hạ tầng vật chất cũ nh hệ thống đờng bộ, đờng sắt, đờng ống, hệ
thống phân phối ga và điện vẫn quan trọng, song chúng cần phải đợc bổ sung
thêm các cơ sở hạ tầng mới nh mạng điện thoại cố định, điện thoại không
dây, vệ tinh, Internet không dây, Nếu không có cơ sở hạ tầng viễn thông
tiên tiến cũng nh hệ thống giáo dục và hệ thống kỹ thuật số hiện đại cho các
dịch vụ của Chính phủ thì nớc đó sẽ không có lợi thế cạnh tranh so với các n-
ớc khác.
Trên đây là một số lý do chính khiến cho Chính phủ các nớc, nhất là
các nớc phát triển, phải nhanh chóng gấp rút tạo tiền đề, cơ sở vật chất kỹ
thuật để chuyển đổi sang Chính phủ điện tử và đặt ra mục tiêu cho chiến lợc
Chính phủ điện tử của mình.
Bảng dới đây sẽ cung cấp một số thông tin về mục tiêu mà Chính phủ
các nớc G7 và một số nớc khác đặt ra trong chiến lợc phát triển Chính phủ
điện tử.
Khoá luận tốt nghiệp - Trần Thị Liên, Anh 5 K38B
8
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét