Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Thực trạng quá trình cố phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam

***
Lời nói đầu
Cùng với quá trình cổ phần hóa sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nớc, cổ
phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc là một quá trình tất yếu có tính phổ biến của
sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu. Bởi vì,
việc sắp xếp và chuyển một số doanh nghiệp Nhà nớc thành Công ty cổ phần
tiến lên hình thành các tập đoàn Công ty đa quốc gia đủ mạnh hoạt động có
hiệu quả ở thị trờng trong nớc và vơn ra thị trờng thế giới là con đờng hữu
hiệu để đổi mới khu vực kinh tế Nhà nớc ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên
thế giới.
ở Việt Nam, vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc đợc đặt ra từ
năm 1991. Thực tiễn 10 năm đã khẳng định rằng cổ phần hóa doanh nghiệp
Nhà nớc không phải là t nhân hóa nền kinh tế mà là quá trình đa dạng hình
thức sở hữu, tạo cở sở cho việc đổi mới quan hệ tổ chức quản lý và phân phối
sản phẩm, thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn nhằm hiện đại hóa nền
kinh tế, tạo động lực cho doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh
doanh; đồng thời cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc cũng không có nghĩa là
làm suy yếu kinh tế Nhà nớc mà là một trong các giải pháp quan trọng để
kinh tế Nhà nớc phát huy vao trò chủ đạo thật sự của nó trong nền kinh tế thị
trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Trong bài, dựa vào những hiểu biết cá nhân về cổ phần hóa, qua sách
báo vào các phơng tiện thông tin đại chúng, em xin mạnh dạn đa ra một số
luận điểm cá nhân về thực trạng quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc
ở Việt Nam và một số giải pháp cho việc phát triển công tác cổ phần hóa
doanh nghiệp Nhà nớc tại Việt Nam.
1
Nội dung chính
I : một số lý luận và khái niệm chung
1. Doanh nghiệp
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, đợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục
đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
2. Doanh nghiệp Nhà nớc
Doanh nghiệp Nhà nớc là tổ chức kinh tế do Nhà nớc đầu t vốn thành
lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm
thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nớc giao. Doanh nghiệp Nhà n-
ớc có t cách pháp nhân có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm
về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp
quản lý.
3. Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
a. Vốn điều lệ đợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
b. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi vốn góp vào doanh nghiệp.
c. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhợng cổ phần của mình cho ngời
khác, trừ trờng hợp quy định tại Khoản 3 Điều 55 và Khoản 1 Điều 58 của
Luật này.
d. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lợng cổ đông tối thiểu là 3 và
không hạn chế số lợng tối đa.
Công ty cổ phần có t cách pháp nhân kể từ ngày đợc cấp giấy chứng
nhận kinh doanh.
2
4. Cổ tức
Cổ tức là số tiền hàng năm đợc trích từ lợi nhuận của Công ty để trả
cho mỗi cổ phần.
5. Phần vốn góp
Phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của
Công ty góp vào vốn điều lệ.
6. Vốn có quyền biểu quyết
Vốn có quyền biểu quyết là phần bốn góp, theo đó ngời chủ sở hữu có
quyền biểu quyết về những vấn đề đợc hội đồng thành viên hoặc Đại hội
đồng cổ đông quyết định.
7.Thành viên sáng lập
Thành viên sáng lập là ngời tham gia thông qua điều lệ đầu tiên của
Công ty. Cổ đông sáng lập là thành viên sáng lập Công ty cổ phần.
8. Ngời quản lý doanh nghiệp
Ngời quản lý doanh nghiệp là chủ sở hữu doanh nghiệp t nhân, thành
viên hợp doanh đối với Công ty hợp doanh, thành viên hội đồng thành viên,
chủ tịch Công ty, thành viên hội đồng quản trị, giám đốc, các chức danh quản
lý quan trọng khác do điều lệ Công ty quy định đối với Công ty trách nhiệm
hữu hạn và Công ty cổ phần.
9. Tổ chức lại doanh nghiệp
Tổ chức lại doanh nghiệp là việc chia tách hợp nhất, sát nhập và
chuyển đổi doanh nghiệp.
10. Ngời có liên quan
Ngời có liên quan là những ngời có quan hệ với nhau trong trờng hợp
sau:
a. Doanh nghiệp mẹ và doanh nghiệp con
3
b. Doanh nghiệp và ngời hoặc nhóm ngời có khả năng chi phối việc ra
quyết định, hoạt động của doanh nghiệp đó thông qua các cơ quan quản lý
doanh nghiệp.
c. Doanh nghiệp và ngời quản lý doanh nghiệp
d. Nhóm ngời thỏa thuận cùng phối hợp để thâu tóm phần vốn góp, cổ
phần hoặc lợi ích ở Công ty hoặc để chi phối việc ra quyết định của Công ty.
e. Vợ, chồng, bố, bố nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh chị em ruột
của ngời quản lý doanh nghiệp, thành viên Công ty, cổ dodong có cổ phần
chi phối.
+ Cổ phần hóa doanh nghiệp là việc chuyển đổi hình thức sở hữu từ
doanh nghiệp quốc doanh sang hình thức Công ty cổ phần, tài sản công ty đ-
ợc chia thành những phần gọi là cổ phần trên đó ghi giá trị cổ phiếu, lãi suất
và đợc bán cho cán bộ Công ty và dân chúng. Những ngời này gọi là cổ đông.
g. Thị trờng chứng khoán theo từ điển thuật ngữ kinh doanh của Anh
xuất bản năm 1985 định nghĩa: "Thị trờng chứng khoán, một thị trờng có tổ
chức, là nơi các chứng khoán đợc mua bán theo những quy tắc đã đợc ấn
định". Định nghĩa này đã đợc đa ra thuật ngữ chứng khoán (securities) mà cổ
phiếu (stocks) và trái phiếu (bonds) cũng chính là hai dạng của chứng khoán.
II - thực trạng quá trình cổ phàn hóa
doanh nghiệp ở nớc hiện nay
ở nớc ta, vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc đợc đặt ra từ năm
1991, xuất phát từ tình hình kinh tế thế giới và đặc biệt là tình hình thực tế
của nền kinh tế Việt Nam, trong đó khu vực kinh tế Nhà nớc đóng vai trò chủ
đạo. Tuy nhiên, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc diễn ra với tốc độ chậm,
do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan gây r.
ở đây, trớc hết chúng ta cần phải khẳng định rằng, cổ phần hóa doanh
nghiệp Nhà nớc là một chủ trơng đúng đắn của Đảng và Nhà nớc nhằm tạo
4
điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả hơn và phù hợp với quá
trình đổi mới và mở cửa, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa
đất nớc. Hiện nay với khoảng 5.740 doanh nghiệp Nhà nớc, nắm giữ 58%
tổng số vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế nhng hiệu quả kinh
doanh còn thấp. Chỉ khoảng 50% DNNN làm ăn có lãi trong đó thực sự làm
ăn có lãi chỉ chiếm một tỷ lệ thấp cha đến 30%.
Trên danh nghĩa, doanh nghiệp Nhà nớc nộp tới 70 - 80% tổng doanh
thu ngân sách Nhà nớc, nhng nếu trừ khấu hao tài sản cố định và thuế gián
thu thì doanh nghiệp Nhà nớc chỉ đóng góp khoảng 30% tổng doanh thu cho
ngân sahs Nhà nớc. Đặc biệt, nếu tính đủ chi phí về tài sản cố định, đất đai
theo giá thị trờng thì doanh nghiệp Nhà nớc hoàn toàn không tạo ra đợc tích
lũy. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là tài sản cổ định,
đặc biệt là máy móc, thiết bị quá cũ, lạc hậu về kỹ thuật so với thế giới từ hai
đến 3 thế hệ. Hiện có đến 54% doanh nghiệp Nhà nớc Trung Ương và 74
doanh nghiệp Nhà nớc địa phơng còn sản xuất bằng công nghệ thủ công. Quy
mô doanh nghiệp Nhà nớc còn bé nhỏ, vốn ít. Thực tế vốn hoạt động chỉ
bằng 80% vốn ghi trong danh sách, riêng vốn lu động chỉ có 50% đợc huy
động vào sản xuất kinh doanh, còn lại là công nợ khó đòi -tài sản, vật t, hàng
hóa mất mát, kém phẩm chất và thua lỗ cha đợc xử lý.
Với thực trạng kỹ thuật và tài chính nh trên, doanh nghiệp Nhà nớc
hầu nh không có khả năng đổi mới công nghệ nhằm nâng cao sức cạnh tranh
trên thị trờng. Ngân sách Nhà nớc cũng không có khả năng cấp vốn và bao
cấp cho các doanh nghiệp Nhà nớc nh trớc đây. Ngân hàng cho vay cũng đòi
hỏi doanh nghiệp phải có những điều kiện bảo đảm nh tài sản thế chấp, khả
năng kinh doanh để tính khả năng thu hồi vốn. Các doanh nghiệp Nhà nớc ở
trong cái vòng luẩn quẩn, vốn tiếu nhng không có cách nào để huy động.
Bên cạnh đó có một thực trạng là, từ sau khi đổi mới kinh tế chuyển từ
nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự quản
lý của Nhà nớc. Công cuộc đổi mới đã kéo theo hàng loạt những biến đổi tích
5
cực trong đất nớc và đem lại những kết quả ban đầu. Nhờ đa dạng hóa các
hình thức sở hữu và thiết lập một cơ cấu kinh tế hỗn hợp bao gồm các thành
phần kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, cứ thế kinh tế t bản t nhân năng lực
sản xuất đã đợc giải phóng song nhu cầu xây dựng và phát triển đất nớc đòi
hỏi ngày càng nhiều vốn nhất là trung và dài hạn. Nhng có một thực trạng là
lợng vốn tồn đọng của các ngân hàng thơng mại đã lên tới hàng ngàn tỷ đồng
trong khi nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp rất lớn. Các ngân hàng muốn
giảm lợng vốn d bằng cách giảm lãi suất huy động nhng không thể làm giảm
nhu cầu đầu t để sinh lợi nguồn vốn của ngời dân. Vì cha có thị trờng chứng
khoán và cha có chính sách về cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc, ngời dân
đành đầu t trực tiếp dới mọi hình thức nh mở cửa hàng, xây dựng khách sạn,
văn phòng cho thuê tạo ra một thời kỳ kinh tế phong trào mới. Ngợc lại
trong khi vốn của Ngân hàng d thừa thì các doanh nghiệp lại thiếu vốn để mở
rộng sản xuất kinh doanh do không đáp ứng đợc đầy đủ các quy định về cho
vay của Ngân hàng.
Hàng năm, nhu cầu vốn để đầu t phát triển xã hội của Nhà nớc ta là rất
lớn. Năm 2000, kế hoạch mà Bộ tài chính đã đặt ra để có thể thực hiện đợc
các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong năm là trên 120 nghìn tỷ đồng thì
khoảng trên 40% số vốn đầu t nói trên là của Nhà nớc. Phần còn lại thì lấy ở
đâu? Chính là phần đầu t của mọi thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội và
dân c. Nếu không có những pháp luật khơi thông mạnh mẽ (trong đó có việc
đẩy nhanh sự phát triển của thị trờng chứng khoán tại Việt Nam) thì việc thu
hút 60% số vốn này sẽ rất khó đợc nh mong muốn.
Hiện nay, việc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc đợc coi là một giải
pháp lớn để khắc phục các khó khăn nói trên, nhằm tạo ra môi trờng huy
động vốn dài hạn cho doanh nghiệp Nhà nớc đầu t chiều sâu đổi mới công
nghệ và sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng
trong nớc và quốc tế tạo ra sức bất mới trong sản xuất kinh doanh.
6
Tính đến hết năm 2002 cả nớc đã có hơn 120 DNNN thực hiện cổ
phần hóa. Báo cáo hoạt động của 50 doanh nghiệp đã cổ phần hóa trên 1 năm
cho thấy hầu hết đều biến chuyển tích cực. Doanh thu bình quân hàng năm
tăng trên 25% số lợng lao động bình quân hàng năm tăng 10% thu nhập ngời
lao động bình quân hàng năm tăng 20% (cha kể thu nhập cổ tức); lợi nhuận
bình quân hàng năm tăng trên 25%. Các khoản nộp ngân sách tăng bình quân
trên 30% năm. Vốn điều lệ (bao gồm tích lũy từ lợi nhuận phát hành cổ
phiếu, tăng bình quân 25% năm. Lãi cổ tức đạt cao hơn lãi tiết kiệm bình
quân 2,5%/ tháng.
Tuy nhiên nếu xét về góc độ là hàng hóa cung cấp cho thị trờng giao
dịch chứng khoán thì số lợng các doanh nghiệp cổ phần hóa có thể đủ tiêu
chuẩn niêm yết cổ phiếu cha nhiều, do một hạn chế sau: hầu hết các doanh
nghiệp cổ phần hóa là các doanh nghiệp nhỏ, vốn điều lệ thấp (xấp xỉ 6 tỷ/
doanh nghiệp).
Mặc dù số lợng các doanh nghiệp cổ phần hóa trong những năm gần
đây tăng lên nhanh chóng nhng so với mục tiêu đã đề ra và so với số lợng
DNNN không thuộc diện Nhà nớc nắm giữ 100% vốn thì tiến trình cổ phần
hóa vẫn còn quá chậm. Điều này chủ yếu do các nguyên nhân sau:
+ Do cơ chế chính sách cổ phần hóa chậm đợc ban hành và thiếu đồng
bộ, thiếu tính cụ thể, quy trình xác định giá trị doanh nghiệp còn quá nhiều
phức tạp, nhiều mặt cha phù hợp với cơ chế thị trờng.
+ Trớc yêu cầu đổi mới, các doanh nghiệp còn nhiều bối rối lúng túng.
+ Một số cán bộ, địa phơng, tổng Công ty Nhà nớc cha nhận thức đầy
đủ ý nghĩa chủ trơng cổ phần hóa của Nhà nớc. Do đó thiếu chủ động và cha
kiên quyết tổ chức triển khai.
+ Do công tác tuyên truyền giáo dục về cổ phần hóa từ trong bộ máy
Nhà nớc từ Trung Ương xuống địa phơng cha đợc đẩy mạnh và cha đợc triển
7
khai hiệu quả từ đó dẫn tới việc coi nhẹ và cha nhìn nhận hết vai trò của cổ
phần hóa.
+ Do môi trờng kinh tế cha thật sự bình đẳng, cha tạo đợc mặt bằng
thống nhất và cơ chế chính sách cho các thành phần kinh tế cùng cạnh tranh
phát triển, cơ chế tài chính cho các doanh nghiệp quốc doanh cha có, công ty
cổ phần cha có.
+ Việc thực hiện các quy định công khai tài chính của các doanh
nghiệp cha thành nề nếp thờng xuyên. Các thông tin về tài chính về cổ phần
hóa chỉ đợc phổ biến trong nội bộ doanh nghiệp và cơ quan liên quan, cha đ-
ợc phổ biến rộng rãi ra bên ngoài. Đây là trở ngại chính làm cho công tác cổ
phần hóa cha đợc sự hởng ứng tham gia đông đảo của công chúng đầu t bên
ngoài doanh nghiệp cổ phần hóa. Mặt khác, việc bàn cổ phiếu hiện do chính
doanh nghiệp cổ phần hóa thực hiện nên còn thiếu tính minh bạch khách
quan.
+ Nhng đặc biệt quan trọng là các chế độ chính sách u đãi, khuyến
khích cha thực sự là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia cổ phần
hóa. Nhiều doanh nghiệp còn tỏ ra rất e dè với chủ trơng này của Đảng và
Nhà nớc, cha có sự nhận thức đầy đủ và tỏ ra cha sẵn sàng để thực hiện công
tác cổ phần hóa.
III - Giải pháp cho việc phát triển công tác
cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc tại việt nam
Để thúc đẩy quá trình cổ phần hóa, nâng cao chất lợng doanh nghiệp
cổ phần hóa góp phần hỗ trợ và qua đó thúc đẩy sự phát triển của thị trờng
chứng khoán Việt Nam cần có những giải pháp cụ thể sau:
8
- Thủ tớng Chính phủ tiếp tục giao chỉ tiêu cổ phần hóa cho các địa ph-
ơng, trong kế hoạch và danh mục các doanh nghiệp cổ phần hóa của từng địa
phơng phải đồng thời xác định các doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn ra niêm yết
trên thị trờng chứng khoán, từ đó gắn quá trình cổ phần hóa với việc phát
hành chứng khoán ra niêm yết.
- Đào tạo nâng cao kỹ năng chuyên môn thực hiện cổ phần hóa của
các cán bộ Nhà nớc làm lãnh đạo doanh nghiệp.
- Tiếp tục cải tiến quy trình cổ phần hóa thu hớng đơn giản và dễ thực
hiện.
- Một giải pháp nữa nhằm thúc đẩy quá trình cổ phần hóa đó là việc
cho vay để mua cổ phần nhằm tăng tỷ lệ mua cổ phiếu của ngời lao động
trong Công ty, đồng thời giải tỏa tâm lý ngán ngại của ngời lao động khi
không có đủ tiền mua cổ phần khi các Công ty rao bán. Ngay từ đầu năm
2000, nhiều Ngân hàng đã lên kế hoạch cho lao động ở một số Công ty đang
điều hành cổ phần hóa vay vốn mua cổ phiếu. Điển hình nhất là ngân hàng
Sài Gòn Thơng Hà đã duyệt cho hơn 200 công nhân của Công ty đờng La
Ngà vay 22 tỷ đồng để mua cổ phần với phơng thức công nhân dùng thu nhập
hàng tháng để trả nợ vay và đợc trả góp trong vòng ba tháng.
- Tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp quy, hoàn thiện một hành lang
pháp lý thông thoáng cho các doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh
doanh đa ra các văn bản hớng dẫn các doanh nghiệp thực hiện công tác cổ
phần hóa doanh nghiệp một cách hiệu quả, đẩy mạnh công tác tuyên truyền
đối với đội ngũ các vị lãnh đạo các doanh nghiệp làm cho họ thấy đợc cái
đúng đắn của các chính sách về cổ phần hóa của Đảng và Nhà nớc.
Đẩy mạnh và tuyên truyền tính thời sự của công tác cổ phần hóa doanh
nghiệp cho các chủ doanh nghiệp và tuyên truyền tới các cán bộ công nhân
viên của Công ty để họ tham gia mua cổ phần của Công ty nhằm làm cho họ
nâng cao thêm ý thức của họ về tình hình làm ăn của Công ty (kết quả của
Công ty sau khi cổ phần hóa ảnh hởng trực tiếp đến quyền lợi của chính họ).
9
Ngoài ra các ngân hàng có thể dùng quỹ xóa đói giảm nghèo cho các
hệ nghèo vay vốn để mua cổ phần của Công ty.
Tuy nhiên việc vay vốn để mua cổ phần hiện nay đang còn đợc tranh
luận về tính rủi ro cao trong việc đầu t chứng khoán. Tuy là một biện pháp
đẩy nhanh quá trình bán cổ phần làm cho việc cổ phần hóa diễn ra thuận lợi
hơn, nhng có một số ý kiến cho rằng việc cho vay để mua cổ phiếu là rất mạo
hiểm rủi ro, nhng có thể nói rằng nếu giải tỏa đợc tâm lý e ngại này thì chắc
chắn ý tởng cho vay vốn để mua chứng khoán sẽ là một động lực để thúc đẩy
quá trình cổ phần hóa.
Cổ phần hóa doanh nghiệp là một giải pháp quan trọng, là một tất yếu
kinh tế của nền kinh tế thị trờng. Nếu khắc hục đợc những hạn chế còn tồn tại
và đề ra những giải pháp đúng đắn thì sẽ đẩy mạnh sự phát triển của công tác
cổ phần hóa và thông qua đó phát triển thị trờng chứng khoán và ngợc lại.
10
Kết luận
Việc chuyển đổi nền kinh tế nớc ta từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung
sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội
chủ nghĩa là một quyết định đúng đắn của Đảng và Nhà nớc. Trong tiến trình
hội nhập với nền kinh tế thế giới, việc cho ra đời thị trờng chứng khoán là tất
yếu phát triển của nền kinh tế thị trờng, tạo rạ linh hoạt về vốn cho các doanh
nghiệp khi cần mở rộng sản xuất, huy động mọi nguồn lực của xã hội vào
công tác phát triển kinh tế đất nớc.
Tuy nhiên, việc phát triển này mặc dù là một bớc tiến cho một nền
kinh tế nhng song song với nó là một sự rủi ro vô cùng to lớn nếu chúng ta
không kiểm soát đợc chúng một cách linh hoạt và hiệu quả sẽ dẫn đến kết
quả tồi tệ nh cuộc khủng hoảng kinh tế tại Thái Lan, Inđônêxia năm 1997
hay mới đây là cuộc khủng hoảng kinh tế của Argentina. Để thị trờng chứng
khoán phát triển ổn định và có thể kiểm soát đợc tình hình trng những tình
huống xấu thì Nhà nớc cần đóng một vai trò tích cực trong việc kiểm soát
thông qua những chính sách đúng đắn.
11
Tài liệu tham khảo
1. Luật Doanh nghiệp Việt Nam (chơng IV - Công ty cổ phần)
2. Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc - Nhà Xuất Bản Chính trị Quốc
gia.
3. Thời báo Kinh tế - Sài Gòn.
4. Giáo trình Luật kinh doanh trờng Đại học Quản lý và Kinh doanh
Hà Nội.
5. Một số tài liệu và tạp chí khác
12

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét