5
Tài liệu tham khảo 1
Phụ lục 1 3
Phụ lục 2 7
Phụ lục 3 13
Phụ lục 4 14
Phụ lục 5 15
Phụ lục 6 16
Phụ lục 7 17
6
LỜI MỞ ĐẦU
1. Ý nghóa chọn đề tài
Cùng với đường lối đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, ngành giao nhận
ngoại thương cũng đang trên bước đường hội nhập với ngành giao nhận thế giới.
Một trong những bước phát triển lớn trong hoạt động giao nhận vận tải hiện đại là
hoạt động Logistics. Trong vài thập niên gần đây Logistics đã phát triển nhanh
chóng và mang lại những kết quả rất tốt đẹp ở nhiều nước, điển hình như các nước
Tây Âu, Mỹ, tiếp sau đó là Singapore, Đài Loan,… Tại Việt Nam, nói chung và
thành phố Hồ Chí Minh, nói riêng, các công ty giao nhận hàng đầu thế giới đã có
mặt và cung cấp dòch vụ Logistics toàn cầu. Trong khi đó các công ty giao nhận
Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh, dù là những tổng công ty lớn mạnh
nhất cũng chưa có một công ty nào hoạt động trong lónh vực Logistics theo đúng
nghóa của nó. Theo từng bước của tiến trình hội nhập, các hàng rào bảo hộ dần dần
được dỡ bỏ, thò trường giao nhận vận tải ngoại thương ở thành phố Hồ Chí Minh
vốn đã cạnh tranh gay gắt sẽ ngày càng cạnh tranh gay gắt hơn. Các công ty
Logistics nước ngoài với công nghệ vượt trội chắc chắn sẽ chiếm ưu thế hơn so với
hoạt động giao nhận truyền thống của các công ty trong nước. Nếu không có sự
thay đổi trong hoạt động giao nhận, các công ty giao nhận Việt Nam sẽ thất thế
ngay trên thò trường của chính mình.
Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Một số giải pháp phát triển
Logistics trong các công ty giao nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí
Minh” để làm luận văn tốt nghiệp cao học, với mong muốn tháo gỡ một số vướng
mắc, khó khăn, tận dụng được cơ hội để phát triển hoạt động Logistics cho các
công ty giao nhận Việt Nam nhằm tăng sức cạnh tranh và hội nhập với ngành giao
nhận tiên tiến của thế giới.
2. Mục tiêu nghiên cứu
* Về phương pháp luận
+ Trình bày tóm tắt, có hệ thống để làm rõ khái niệm Logistics.
+ Qua tài liệu tổng hợp kinh nghiệm phát triển Logistics của một số nước, rút ra
các bài học cần thiết và phù hợp để phát triển Logistics trong các công ty giao
nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
* Về thực tiễn
7
+ Đánh giá về thực trạng hoạt động Logistics ở các công ty giao nhận 100% vốn
Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh; nghiên cứu các nhân tố tác động
đến việc phát triển Logistics trong các công ty này.
+ Đề xuất những giải pháp để áp dụng và phát triển Logistics trong các công ty
giao nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
+ Nghiên cứu thực trạng hoạt động Logistics tại các công ty giao nhận Việt Nam
trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
+ Nghiên cứu các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến việc áp dụng và
phát triển hoạt động Logistics trong các công ty giao nhận Việt Nam trên đòa bàn
thành phố Hồ Chí Minh.
+ Nghiên cứu những giải pháp hỗ trợ ở tầm vó mô giúp các công ty giao nhận Việt
Nam phát triển Logistics.
+ Nghiên cứu giải pháp giúp cho các công ty giao nhận Việt Nam áp dụng và phát
triển hoạt động Logistics trong công ty của mình.
* Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về nội dung
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động
Logistics trong các công ty Logistics. Đề tài ít đề cập đến hoạt động Logistics của
tự bản thân các doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu. Mặt khác, do xuất phát từ
nhu cầu thực tiễn và giới hạn về thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu sâu vào việc
phát triển hoạt động Logistics cho dòng phân phối hàng hóa (Outbound Logistics)
hơn là dòng cung cấp nguyên vật liệu đầu vào (Inbound Logistics).
+ Phạm vi về không gian
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động Logistics ở thành phố Hồ Chí
Minh, đặc biệt là trong các công ty giao nhận của Việt Nam. Ngoài ra đề tài cũng
có nghiên cứu hoạt động Logistics trong các công ty giao nhận và hãng tàu nước
ngoài hoặc liên doanh trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh để rút ra được kinh
nghiệm tổ chức hoạt động Logistics của họ.
+ Phạm vi về thời gian
Các số liệu thống kê và khảo sát phục vụ cho nghiên cứu được thu thập đến
hết năm 2003
8
4. Điểm mới của đề tài nghiên cứu
+ Do hoạt động Logistics mới xuất hiện ở Việt Nam trong thời gian gần đây nên chỉ
có một vài bài viết đăng trên các tạp chí mà chưa có đề tài nghiên cứu một cách có
hệ thống và toàn diện về lónh vực này.
+ Đây cũng là đề tài đầu tiên nghiên cứu đánh giá về hoạt động Logistics trong các
công ty giao nhận của Việt Nam.
Đề tài có những điểm mới như sau:
+ Một là, đề tài nghiên cứu kinh nghiệm phát triển Logistics của các nước. Xu thế
phát triển và tính tất yếu của hoạt động Logistics trong tương lai.
+ Hai là, đề tài nghiên cứu khá sâu về cách tổ chức, thiết kế hoạt động Logistics
trong các công ty giao nhận, đặc biệt là các điều kiện để có thể phát triển
Logistics.
+ Ba là, dựa trên phân tích điểm mạnh, điểm yếu của các công ty giao nhận Việt
Nam, cơ hội, thách thức trên thò trường vận tải giao nhận thành phố Hồ Chí Minh
đề tài mạnh dạn đề xuất những giải pháp chiến lược mang tính “đột phá” để có thể
áp dụng Logistics trong các công ty giao nhận Việt Nam và xây dựng nên những
“tập đoàn” Logistics lớn mạnh của Việt Nam.
+ Bốn là, đề tài cũng đưa ra một số kiến nghò tầm vó mô để tạo điều kiện phát triển
Logistics.
Tóm lại, đề tài có khá nhiều điểm mới vì nó được thực hiện độc lập, ít được
hưởng sự thừa kế từ các công trình nghiên cứu thực tiễn về hoạt động Logistics
trước đó.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng những phương pháp sau:
+ Phương pháp duy vật biện chứng; phương pháp tư duy Logistics; phương pháp
thống kê, tổng hợp, phân tích.
+ Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.
+ Phương pháp chuyên gia.
6. Nội dung nghiên cứu
Đề tài được trình bày 73 trang, 17 bảng, 1 hình và 6 sơ đồ được chia làm 3
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về Logistics.
9
Chương 2: Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động logistics trong các công ty
giao nhận Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển logistics trong các công ty giao nhận 100%
vốn Việt Nam trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Mặc dù đã rất nỗ lực, cố gắng, nhưng vì đề tài mới, phải khảo sát thực tế nhiều nên
khó tránh khỏi những khiếm khuyết, kính mong Cô hướng dẫn và các Thầy, Cô
trong Hội Đồng chân tình đóng góp để đề tài mang tính thực tiễn cao hơn.
10
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
LOGISTICS
11
1.1 Tổng quan về Logistics
1.1.1 Khái niệm về Logistics
Logistics theo nghóa đang sử dụng trên thế giới có nguồn gốc từ từ
Logistique trong tiếng Pháp. Logistique lại có gốc từ từ “Loger” nghóa là nơi đóng
quân. Từ này có quan hệ mật thiết với từ “Lodge” – nhà nghỉ (một từ cổ trong
tiếng Anh, gốc Latinh). Logistics được dùng ở Anh bắt đầu từ thế kỷ thứ 19. Một
điều thú vò là từ này không hề có mối liên quan gì với từ “Logistic” trong toán học,
có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Logistikos” và đã được dùng ở Anh từ thế kỷ 17.
Cho đến nay vẫn chưa tìm được thuật ngữ thống nhất, phù hợp để dòch từ Logistics
sang tiếng Việt. Có người dòch là hậu cần, có người dòch là tiếp vận hoặc tổ chức
dòch vụ cung ứng, thậm chí là vận trù. Theo một số chuyên gia trong lónh vực này,
tất cả cách dòch đó đều chưa thoả đáng, chưa phản ánh đúng đắn và đầy đủ bản
chất của Logistics. Chính vì vậy, trong đề tài này, tác giả xin giữ nguyên thuật ngữ
Logistics mà không dòch sang tiếng Việt.
Theo ESCAP (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific – Ủy
ban Kinh tế và Xã hội châu Á – Thái Bình Dương) Logistics được phát triển qua 3
giai đoạn:
Giai đoạn 1: Phân phối vật chất
Vào những năm 60, 70 của thế kỷ thứ 20, người ta bắt đầu quan tâm đến vấn
đề quản lý một cách có hệ thống những hoạt động có liên quan với nhau để đảm
bảo cung cấp sản phẩm, hàng hoá cho khách hàng một cách có hiệu quả. Những
hoạt động đó bao gồm: vận tải, phân phối, bảo quản hàng hoá, quản lý tồn kho,
bao bì đóng gói, phân loại, dán nhãn những hoạt động nêu trên được gọi là phân
phối/ cung ứng sản phẩm vật chất hay còn có tên gọi là Logistics đầu vào.
Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics
Đến những năm 80, 90 của thế kỷ trước, các công ty tiến hành kết hợp quản
lý 2 mặt: đầu vào (gọi là cung ứng vật tư) với đầu ra (phân phối sản phẩm), để tiết
kiệm chi phí, tăng thêm hiệu quả của quá trình này. Sự kết hợp đó được gọi là hệ
thống Logistics.
Giai đoạn 3: Quản trò dây chuyền cung ứng.
Đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trò chuỗi nối tiếp các hoạt
động từ người cung cấp - đến người sản xuất - khách hàng tiêu dùng sản phẩm,
cùng với việc lập các chứng từ có liên quan, hệ thống theo dõi, kiểm tra làm tăng
thêm giá trò sản phẩm. Khái niệm này coi trọng việc phát triển các quan hệ với đối
tác, kết hợp chặt chẽ giữa người sản xuất với người cung cấp, với người tiêu dùng
12
và các bên có liên quan, như: các công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và người cung
cấp công nghệ thông tin (IT - Information Technology).
Logistics phát triển quá nhanh chóng, trong nhiều ngành nhiều lónh vực, ở
nhiều nước, nên có rất nhiều tổ chức tác giả tham gia nghiên cứu, đưa ra nhiều đònh
nghóa khác nhau, cho đến nay vẫn chưa có được khái niệm thống nhất về Logistics.
Có thể nói, có bao nhiêu sách viết về Logistics thì có bấy nhiêu đònh nghóa về khái
niệm này.
Trước hết trong lónh vực sản xuất, người ta đưa ra đònh nghóa Logistics một
cách đơn giản, ngắn gọn nhất là cung ứng, là chuỗi hoạt động nhằm đảm bảo
nguyên nhiên vật liệu, máy móc, thiết bò, các dòch vụ cho hoạt động của tổ chức/
doanh nghiệp được tiến hành liên tục, nhòp nhàng và có hiệu quả; bên cạnh đó còn
tham gia vào quá trình phát triển sản phẩm mới. Giờ đây, một trong ba hướng phát
triển quan trọng của quản trò cung ứng là quản trò chuỗi/ dây chuyền cung ứng
(Supply Chain Management - SMC)
Dưới góc độ quản trò chuỗi cung ứng, thì Logistics là quá trình tối ưu hoá về
vò trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/ yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu
tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu
dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế (xem Logistics and
Supply Chain Management, tác giả Ma Shuo, tài liệu giảng dạy của World Maritime
University, 1999).
Đònh nghóa này cho thấy Logistics bao gồm nhiều khái niệm, cho phép các
tổ chức có thể vận dụng các nguyên lý cách nghó và hoạt động Logistics trong lónh
vực của mình một cách sáng tạo, linh hoạt và có hiệu quả. Để hiểu chính xác về
bản chất và phạm vi ứng dụng của Logistics chúng ta hãy xem xét một số khái
niệm có liên quan.
Trước hết ta xem xét từ Quá trình. Điều đó cho thấy Logistics không phải là
một hoạt động đơn lẻ (isolated action), mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, có
liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, được thực hiện một cách
khoa học và có hệ thống qua các bước nghiên cứu, hoạch đònh, tổ chức, quản lý,
thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện. Do đó, logistics là quá trình liên quan
tới nhiều hoạt động khác nhau trong cùng một tổ chức, từ xây dựng chiến lược đến
các hoạt động chi tiết, cụ thể để thực hiện chiến lược. Logistics cũng đồng thời là
quá trình bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm từ các yếu tố đầu vào cho đến giai
đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng.
Logistics không chỉ liên quan đến nguyên nhiên vật liệu mà còn liên quan
tới tất cả nguồn tài nguyên/ các yếu tố đầu vào cần thiết để tạo nên sản phẩm hay
dòch vụ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng. Ở đây nguồn tài nguyên không
13
chỉ bao gồm: vật tư, vốn, nhân lực mà còn bao hàm cả dòch vụ, thông tin, bí quyết
công nghệ…
Logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch đònh và tổ chức. Cấp độ thứ nhất các
vấn đề được đặt ra là phải lấy nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, dòch
vụ ở đâu? vào khi nào? và vận chuyển chúng đi đâu?. Do vậy tại đây xuất hiện vấn
đề vò trí. Đây cũng là điểm khác biệt cơ bản trong khái niệm Logistics cổ điển và
hiện đại. Có một thời người ta cho rằng: Logistics chỉ tập trung vào “luồng”, còn
Logistics ngày nay có phạm vi rộng lớn hơn, bao gồm cả vò trí. Cấp độ thứ hai quan
tâm tới việc làm thế nào để đưa được nguồn tài nguyên/ các yếu tố đầu vào từ
điểm đầu đến điểm cuối dây chuyền cung ứng; Từ đây nảy sinh vần đề vận chuyển
và lưu trữ. Ở Việt Nam hiện nay, khi nói đến Logistics người ta quá chú tâm vào
cấp độ hai - tức là khâu vận chuyển và lưu trữ, mà chưa quan tâm đúng mức đến
vấn đề nguồn tài nguyên được lấy từ đâu và đưa đi đâu.
Để có thể hiểu thấu đáo bản chất của Logistics, cần nghiên cứu các câu hỏi
cơ bản về logistics mà chúng ta thường gặp trong thực tế.
Nhóm câu hỏi thứ nhất về vò trí tối ưu: khi xem xét vò trí nguồn tài nguyên đầu vào,
nhà quản trò Logistics thường phải trả lời các câu hỏi “ở đâu?” như:
+ Tìm nguyên liệu cần thiết ở đâu?
+ Tìm nguồn cung cấp năng lượng ở đâu?
+ Tìm nguồn cung cấp lao động ở đâu?
+ Tìm nguồn cung cấp máy móc, thiết bò ở đâu?
+ Đặt nhà máy và cơ sở sản xuất ở đâu?
+ Xây dựng các kho hàng và trung tâm phân phối ở đâu?
+ Xác lập chi nhánh của công ty ở đâu?
+ Lựa chọn đối tác sản xuất kinh doanh ở đâu? …v.v.
Nhóm các câu hỏi thứ hai liên quan đến việc vận chuyển và dự trữ nguồn tài
nguyên đầu vào từ điểm đầu đến điểm cuối dây chuyền cung ứng, các câu hỏi đó
thường là:
+ Làm thế nào để vận chuyển nguồn tài nguyên từ điểm A đến điểm B, bằng
đường biển, đường hàng không, đường bộ, đường sắt, đường sông hay đa phương
thức…?
+ Khi nào thì bắt đầu vận chuyển và vận chuyển hết bao lâu?
+ Chọn tuyến vận tải nào và chọn ai vận chuyển?
14
+ Dự trữ có cần thiết không? Nếu cần thì dự trữ bao nhiêu?
+ Những loại hàng hoá nào cần vận chuyển đồng bộ? Với một lượng bao nhiêu là
tối ưu?
+ Việc đóng gói, dán nhãn có cần thiết không? Nếu có thì khi nào? Ở đâu? Do ai
làm và làm như thế nào?…
Cùng với đònh nghóa vừa được nêu và phân tích ở trên trong thực tế tồn tại
một số đònh nghóa khác cũng khá phổ biến như:
- Logistics là hệ thống các công việc được thực hiện một cách có kế hoạch nhằm
quản lý nguyên vật liệu, dòch vụ, thông tin và dòng chảy của vốn nó bao gồm cả
những hệ thống thông tin ngày một phức tạp, sự truyền thông và hệ thống kiểm
soát cần phải có trong môi trường làm việc hiện nay.
- Logistics là sự duy trì, phát triển, phân phối/ sắp xếp và thay thế nguồn nhân lực
và nguyên vật liệu thiết bò, máy móc
- Logistics là quy trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu
chuyển và dự trữ hàng hoá, dòch vụ từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ
cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng.
- Logistics là khoa học nghiên cứu việc lập kế hoạch, tổ chức và quản lý các hoạt
động cung cấp hàng hoá, dòch vụ.
- Logistics là khoa học nghiên cứu việc lập kế hoạch và thực hiện những lợi ích và
công dụng của các nguồn tài nguyên cần thiết nhằm giữ vững hoạt động của toàn
bộ hệ thống.
Chắc chắn cùng với sự phát triển của logistics sẽ xuất hiện thêm nhiều khái
niệm mới về Logistics, ở thời điểm này có thể đònh nghóa “Logistics là quá trình
tối ưu hoá về vò trí, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của
dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt
các hoạt động kinh tế”.
1.1.2 Mối quan hệ giữa Logistics - Dây chuyền cung ứng - Quá trình phân phối.
Theo Ủy ban quản trò Logistics, một trong những tổ chức chuyên môn hàng
đầu trong lónh vực này thì quản trò Logistics là quá trình hoạch đònh, thực hiện và
kiểm soát một cách hiệu lực, hiệu quả hoạt động vận chuyển lưu trữ hàng hoá, dòch
vụ và những thông tin có liên quan từ điểm đầu đến điểm tiêu thụ cuối cùng với
mục đích thỏa mãn nhu cầu của khách hàng (Douglas M Lambert, Fundamental of
Logistics, p.3, Mc Graw-Hill, 1998). Điều đó có nghóa là Logistics bao gồm mọi
dòch vụ kinh doanh liên quan đến vận tải (đường biển, đường hàng không, đường
bộ, đường thuỷ nội đòa, lưu kho, lưu bãi, sắp xếp hàng hoá sẵn sàng cho quá trình
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét