Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

hạn chế rủi ro an toàn tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng công thương Đống Đa

5
Có thể nói, các chức năng của NHTM đều rất quan trọng và liên quan chặt
chẽ với nhau. Chức năng huy động vốn là tiền đề tạo nguồn vốn tích luỹ cho các
hoạt động nghiệp vụ. Hoạt động tín dụng và đầu tư đem lại nguồn thu nhập cho
NHTM. Còn các hoạt động dịch vụ thu hút thêm khách hàng, tạo điều kiện cho
việc mở rộng hoạt động huy động tiền gửi và kinh doanh của NHTM.
2. Tín dụng Ngân hàng
2.1. Khái niệm tín dụng Ngân hàng
Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể trong đó một bên
chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định,
đồng thời bên nhận tiền cam kết hồn trả theo điều kiện đã thoả thụân.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng với các tổ chức
kinh tế và cá nhân thể hiện dưới hình thức nhận tiền gửi của khách hàng, cho
khách hàng vay, tài trợ th mua, bảo hành hay chiết khấu…
Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng của NHTM thì hoạt động cho vay là
hoạt động phức tạp nhất. Trong bài viết này tơi chỉ xin được đề cập đến khía
cạnh cho vay của hoạt động tín dụng Ngân hàng.
2.2. Vai trò của tín dụng đối với hoạt động của Ngân hàng thương mại
Thứ nhất, tín dụng Ngân hàng thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các
doanh nghiệp, khơng chỉ đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần ktnn mà
còn tác động đến cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Tín
dụng thúc đẩy sự ra đời của các thành phần kinh tế theo mục tiêu phát triển của
đất nước.
Tín dụng Ngân hàng tham gia vào tồn bộ q trình sản xuất, lưu thơng
hàng hố, ngay cả những hoạt động dịch vụ cũng khơng thể tách ly sự hỗ trợ của
tín dụng ngân hàng.
Với các ngành sản xuất, chế biến, khai thác…để đảm bảo sản xuất ổn định
cần thết phải có vốn để dự trữ ngun vật liệu, thành phẩm bù đắp các chi phí
sản xuất…Đồng thời để khơng ngừng nâng cao năng xuất lao động, chất lượng
sản phẩm, tìm kiếm lợi thế trơng cạnh tranh, các doanh nghiệp buộc phải thường
xun cải tiến máy móc, thiết bị, đổi mới cơng nghệ đặc biệt trong thời đại khoa
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
học kỹ thuật phát triển như vũ bão hiện nay. Tất cả những cơng việc đó sẽ khơng
thể thực hiện được nếu thiếu sự hỗ trợ của ngân hàng thơng qua hoạt động tín
dụng.
Trong lĩnh vực lưu thơng, để đảm bảo đưa được hàng hố từ người sản
xuất đến người tiêu dùng, các doanh nghiệp cần có vốn để dự trữ khối lượng
hàng hố cần thiết trang trải các chi phí lưu thơng, thuế…Hơn nữa, để mở rộng
sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải dự trữ khối lượng hàng hố lớn
với chủng loại phong phú, nhưng thơng thường các doanh nghiệp này khơng có
nhiều vốn lưu động. Vì vậy, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp này cần
đến sự hỗ trợ của tín dụng ngân hàng.
Với các doanh nghiệp dịch vụ như vận tải, khách sạn, du lịch…sẽ hoạt
động ra sao khi khơng có vốn của ngân hàng tham gia vào đầu tư xây dựng tang
thiết bị vật chất, phương tiện vận tải…Khi bước vào kinh doanh trong lĩnh vực
này đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn nên hầu hết các doanh nghiệp đều cần đến tín
dụng ngân hàng và xem nó như là một trong những nguồn vốn có thể huy động
cho mục đích kinh doanh của doanh nghiệp.
Nói chung, một trong những nguồn vốn quan trọng để bổ sung vốn lưu
động và vốn cố định cho các chủ doanh nghiệp là vốn tín dụng ngân hàng vì nếu
chỉ dựa vào vốn tự có thì q ít ỏi, khơng đủ sức cạnh tranh và phát triển trong
nền kinh tế thị trường. Tín dụng ngân hàng sẽ là nguồn vốn tài trợ quan trọng
cho các dự án kinh doanh của doanh nghiệp mới.
Thứ hai, tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế để thực hiện tái sản xuất
mở rộng, tín dụng cơng nghệ, kỹ thuật tiên tiến hiện đại nâng cao năng suất và
hiệu quả kinh tế, tạo nhiều sản phẩm hàng hố tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
Ngân hàng với chức năng huy động vốn, tập trung mọi nguồn vốn trong và
ngồi nước đã phần nào đáp ứng nhu cầu về vốn của nền kinh tế. Tín dụng ngân
hàng trở thành đòn bẩy kinh tế quan trọng nhất giúp các nhà sản xuất kinh doanh
thực hiện tái sản xuất mở rộng và ứng dụng cơng nghệ để cạnh tranh thắng lợi
trên thị trường.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
Thứ ba, tín dụng ngân hàng là cơng cụ tài trợ cho các dự án tạo việc làm,
tăng thu nhập, thực hiện mục tiêu xố đói giảm nghèo, và các chương trình, dự
án mang tính xã hội khác.
Muốn nâng dần thu nhập bình qn đầu người, giải quyết việc làm khơng
thể chỉ dựa vào quỹ ngân sách Nhà nước hoặc trơng chờ vào các khoản vay
nước ngồi. Tín dụng ngân hàng thực sự giữ vai trò quan trọng trong viecẹd dầu
tư cho các dự án có ý nghĩa kinh tế và xã hội để giải quyết những việc như vậy.
Thứ tư, tín dụng ngân hàng thúc đẩy q trình tích tụ tập trung vốn sản
xuất mở rộng q trình phân cơng lao động xã hội và hợp tác kinh tế trong nước
và quốc tế. Các doanh nghiệp, các Cơng ty làm ăn có hiệu quả và uy tín được
ngân hàng tập trung đầu tư vốn tạo đà mở rộng quy mơ sản xuất và thị trường
tiêu thụ. Tín dụng ngân hàng sẽ thúc đẩy nhanh chóng q trình tập trung và tích
luỹ vốn, tạo cho các doanh nghiệp đủ điều kiện hợp tác liên doanh với các tập
đồn kinh tế nước ngồi đưa nền kinh tế nước ta hồ nhập vào nền kinh tế thế
giới.
Thứ năm, thơng qua hoạt động tín dụng ngân hàng, Nhà nước có thể kiểm
sốt các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế để đề ra các biện pháp
chính sách quản lý kinh tế và hoạt động của các thành phần kinh tế thơng qua
các chính sách về tín dụng như là các chính sách ưu đãi về lãi suất và các điều
kiện cho vay khác cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất theo mục tiêu định
hướng phát triển kinh tế của Nhà nước.
Phát huy vai trò của tín dụng ngân hàng để đạt mục tiêu phát triển là một
nhiệm vụ đầy khó khăn thử thách. Song song với việc này là phải đảm bảo an
tồn tín dụng và đó là mục tiêu lớn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM
nói chung và của Chi nhánh NHCT Đống Đa nói riêng.
II. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Khái niệm rủi ro
Rất có nhiều cách quan niệm khác nhau về rủi ro tuỳ thuộc vào chủ thể và
hoạt động của chủ thể đó trong mối quan hệ với các yếu tố khác của mơi trường.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
Tuy nhiên, các quan niệm đó đều thống nhất một nội dung coi rủi ro là sự bất
trắc khơng mong đợi, gây ra thiệt hại và có thể đo lường được.
Như vậy, trong hoạt động kinh tế nói chung và trong hoạt động Ngân
hàng nói riêng thì vấn đề rủi ro là khơng thể tránh khỏi. Vì thế, các nhà quản trị
khơng thể loại bỏ được rủi ro mà chỉ có thể phát hiện kịp thời để có những biện
pháp chủ động xử lý. Trong sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường
hiện nay, các nhà quản trị phải biết nhận biết và dự đốn trước các rủi ro để sớm
đưa ra các giải pháp phòng ngừa chống đỡ tác hại của nó.
2. Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương
mại
Rủi ro tồn tại trong hoạt động kinh doanh dưới các hình thức khác nhau.
Do đặc điểm đặc thù của hoạt động Ngân hàng làm cho hoạt động này có độ rủi
ro lớn. Có các loại rủi ro chủ yếu sau trong hoạt động của NHTM.
2.1. Rủi ro tín dụng
Tín dụng là hoạt động chủ yếu của NHTM. Nguồn thu từ hoạt động tín
dụng ln chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng thu nghiệp vụ ngân hàng và đem lại
phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng lại làhoạt
động có nhiều rủi ro nhất và phức tạp nhất. Hoạt động tín dụng liên quan chặt
chẽ đến mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Mỗi rui ro trong các lĩnh vực này đều tiềm
ẩn rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM. Trong hoạt động tín dụng,
NHTM ln đặt ra mục tiêu tối đa hố lợi nhuận, đồng thời tối thiểu hố rủi ro.
Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi NHTM phải có những giải pháp thích hợp để
quản lý và phòng ngừa rủi ro tín dụng.
2.2. Rủi ro lãi suất
Đây là loại rủi ro mang tính xã hội, nó ảnh hưởng đến hầu hết các tổ chức
kinh tế, các cá nhân trong nền kinh tế quốc dân. Người ta quan niệm lãi suất là
chi phí để vay hoặc giá phải trả để th vốn trong một thời gian nào đó. Trong
cơ chế thị trường, lãi suất ln biến động và điều này có thể gây ra rủi ro cho
hoạt động của NHTM. Chẳng hạn, ngân hàng đã ký hợp đồng cho vay một kỳ
hạn với lãi suất cố định, sự thiệt hại của ngân hàng sẽ diễn ra khi lãi suất trên thị
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
trường tăng lên. Ngược lại, khi nhận vốn với một thời hạn và lãi suất ấn định,
ngân hàng sẽ bị thiệt hại khi lãi suất thị trường giảm xuống.
Rủi ro lãi suất là loại rui ro do sự biến động của yếu tố tiền tệ. Rủi ro lãi
suất nảy sinh trong những trường hợp sau:
+ Lạm phát tăng, lãi suất buộc phải điều chỉnh theo xu hướng tăng làm chi
phí của ngân hàng phải bỏ ra cũng tăng lên, do đó làm giảm thu nhập của ngân
hàng. Khi lạm phát cao thì thường có lợi cho người vay vốn và bất lợi cho người
cho vay.
+ Do cơ cấu tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng khơng hợp lý. Ngân
hàng dùng tài sản nợ ngắn hạn để đầu tư vào tài sản có dài hạn. Nếu lãi suất
ngắn hạn tăng, chi phí ngân hàng phải bỏ ra cũng sẽ tăng lên, trong khi thu nhập
ở tài sản có dài hạn vẫn giữ ngun, như vậy thu nhập của ngân hàng khơng đủ
bù đắp chi phí kinh doanh, dẫn đến ăn mòn vào vốn.
+ Ngồi ra, rủi ro lãi suất có thể xayra do trình độ thấp kém bị thua thiệt
trong việc cạnh tranh lãi suất trên thị trường. Hoặc do yếu tố của nền kinh tế tác
động đến lãi suất như cung, cầu, yếu tố thị trường…Khi Nhà nước có quyết định
điều chỉnh lãi suất theo hướn giảm xuống, trong khi tiền gửi có kỳ hạn chưa đến
hạn trả. Như vậy, lãi suất cho vay bị giảm thấp, nhưng phần trả lãi cho những
khoản tiền gửi có kỳ hạn lại khơng giảm tương ứng dẫn đến rủi ro lãi suất.
2.3. Rủi ro nguồn vốn
2.3.1. Rủi ro do thừa vốn
Như ta biết, nguồn vốn hoạt động chủ yếu của NHTM là nguồn vốn huy
động. Để huy động được vốn Ngân hàng phải trả lãi cho người gửi tiền. Nếu số
này bị ứ đọng, khơng thể cho vay hoặc đầu tư vào các loại tài sản có thể sinh lời
trong khi ngân hàng vẫn phải trả lãi cho số vốn đã huy động thì có nghĩa là các
thiệt hại của ngân hàng đang diễn ra. Nếu q trình này kéo dài ở mức độ lớn có
thể dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh. Giải quyết vấn đề này, NHTM cần phải
tăng cường cơng tác kế hoạch hố, đảm bảo cân đối giữa vốn huy động và vốn
cho vay.
2.3.2. Rủi do do thiếu vốn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
Loại rủi ro này xảy ra khi Ngân hàng khơng đáp ứng được các nhu cầu
cho vay và đầu tư, thậm chí khơng đủ vốn để thanh tốn cho người gửi tiền khi
đến hạn. Rủi ro này xuất phát từ chưc năng chuyển hốn các kỳ hạn sử dụng vốn
và nguồn vốn của ngân hàng, thơng thường các kỳ hạn sử dụng vốn dài hơn kỳ
hạn các nguồn vốn, hoặc do mất lòng tin mà các hàng loạt khách hàng đến rút
tiền, khiến cho ngân hàng khơng có đủ tiền để chi trả cùng một lúc. Trong bối
cảnh đó, ngân hàng khó lòng huy động được nguồn vốn dồi dào, từ đó kinh
doanh có thể bị thu hẹp và vỡ nợ rất có thể xảy ra. Rủi ro này còn có thể do ngân
hàng chưa thực hiện tốt cơng tác huy động vốn thể hiện ở việc khơng thu hút đủ
vốn để cho vay hoặc do sự mất cân đối trong cơ cấu vốn huy động, thiếu các
nguồn vốn trung dài hạn trong khi nhu cầu vay vốn trung dài hạn lại ở mức cao.
Điều này đã làm cho Ngân hàng mất cơ hội đầu tư vào những dự án an tồn và
có thể đem lại lợi nhuận cao.
2.4. Rủi ro hối đối
Rủi ro hối đối là loại rủi ro do sự biến động của tỷ giá hối đối. Nếu tỷ
giá hối đối bán ra lớn hơn tỷ giá mua vào thì nhà kinh doanh có lãi, ngược lại
thì bị lỗ. Sự thay đổi tỷ giá dẫn đến sự thay đổi về giá trị ngoại hối, cụ thể:
+ Nếu ngân hàng có dư dật về ngoại tệ (vị thế thường - net long position):
Nếu ngoại tệ đó lên giá thì ngân hàng sẽ có lãi khi đánh giá lại và ngược lại ngân
hàng sẽ lỗ khi ngoại tệ đó xuống giá.
+ Nếu ngân hàng ở vị thế đoản (net short position) về loại ngoại tệ nào đó,
khi ngoại tệ đó lên giá, ngân hàng sẽ lỗ và ngược lại ngân hàng sẽ có lãi khi
ngoại tệ đó xuống giá.
Một trạng thái ngoại hối dù ở thế trường hay thế đoản đều có nguy cơ gây
ra tổn thất cho ngân hàng. Dư dật về ngoại tệ(vị thế trường) càng lớn thì rủi ro
càng cao khi tỷ giá giảm, ngược lại, đoản về ngoại tệ nào đó càng mạnh thì rủi
ro cũng khơng ít khi tỷ lệ tăng.
Khi phân biệt tình hình lãi lỗ ngoại hối theo vị thế ngoại hối, người ta so
sánh lỗ, lãi thực tế xảy ra so với mức lãi, lỗ dự kiến, qua đó đánh giá chất lượng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
quản lý rủi ro so với mức lãi, lỗ dự kiến, qua đó đánh giá chất lượng quản lý rủi
ro tỷ giá hối đối của một ngân hàng.
2.5. Rủi ro trong thanh tốn
Một ngân hàng hoạt động bình thường phải đảm bảo được khả năng thanh
tốn. Khả năng thanh tốn tưc là đáp ứng được các nhu cầu thanh tốn hiện đại,
đột xuất khi có vấn đề nảy sinh và đáp ứng được khả năng thanh tốn trong
tương lai. Khi ngân hàng thiếu khả năng thanh tốn, nếu khơng được giải quyết
một cách kịp thời có thể dẫn đến mất khả năng thanh tốn. Khi ngân hàng thừa
khả năng thanh tốn sẽ dẫn đến ứ đọng vốn, làm giảm khả năng sinh lời, thu
nhập của ngân hàng giảm.
Rủi ro thanh tốn nảy sinh do những ngun nhân sau:
+ Do mất cân bằng giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, nguồn vốn dư thừa
q lớn, trong khi đó thị trường đầu ra hạn hẹp nên một số ngân hàng đã dùng
vốn huy động ngắn hạn để cho tập trung dài hạn q mức, dẫn đến thiếu hụt khả
năng thanh tốn cuối cùng.
+ Đến hạn các khoản cho vay khó thu hồi được, uy tín của ngân hàng
giảm sút, người gửi tiền và người đi vay thường phản ứng trước những khó khăn
của ngân hàng bằng cách rút hết hạn mức tín dụng để đảm bảo có tiền cho
những nhu cầu về sau hoặc rút hết số dư tiền gửi vì sợ có thể khơng rút được.
Tất cả những khía cạnh trên đều dẫn đến những rủi ro trong thanh tốn của ngân
hàng.
+ Loại rủi ro này còn có thể phát sinh trong q trình thanh tốn của ngân
hàng, có thể do ngân hàng bị lợi dụng trong thanh tốn điện tử,thanh tốn séc
chấp nhận thanh tốn các chứng từ giả mạo hoặc do nhầm lẫn, sai sót trong hoạt
động nghiệp vụ…dẫn đến sự thiệt hại của ngân hàng.
2.6. Rủi ro thuần t
Đây là loại rủi ro khách quan do thiên tại gây ra như: lụt lội, động đất, hoả
hoạn hoặc do bị mất trộm, bị lừa đảo, tham nhũng…làm thiệt hại hay phá huỷ
các tài sản của ngân hàng. Các rủi ro này xảy ra cũng gây mất mát, thiệt hại
khơng nhỏ cho ngân hàng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
2.7. Rủi ro mất khả năng thanh tốn
Đây là loại rủi ro đặc trưng của NHTM liên quan đến sự sống còn của
ngân hàng, nó là hậu quả của một hoặc nhiều loại rủi ro kể trên dẫn đến việc
NHTM bị thua lỗ, khơng có đủ khả năng trả nợ cho người gửi tiền khi đến hạn
hoặc khơng có đủ tiền nhất thời để chi trả cho nhu cầu rút tiền ồ ạt của khách
hàng tại một thời điểm. Đây là loại rủi ro nghiêm trọng nhất, nó khơng những
làm sụp đổ chính NHTM đó mà còn là nguy cơ dẫn đến sự phá sản của hàng loạt
các chưc năng, các tổ chức tín dụng khác có liên quan.
Bài học thực tiễn của loại rủi ro này có thể kể đến như sự sụp đổ của hàng
trăm tổ chức tín dụng ở Mỹ từ năm 1985 đến năm 1992 hay sự đổ vỡ hàng loạt
quỹ tín dụng nhân dân ở nước ta trong những năm cuối của thập kỷ 80.
3. Rủi ro tín dụng
3.1. Các hình thức của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng xảy ra khi người vay khơng trả được nợ lãi và nợ gốc
đúng hạn, đầy đủ. Theo phương thức quản lý rủi ro tín dụng hiện nay, người ta
chia rủi ro tín dụng thành bốn cấp độ theo mức độ rủi ro.
3.1.1. Khơng thu được lãi đúng hạn
Cấp độ thấp nhất khi người vay khơng trả được lãi đúng hạn, khi đó Ngân
hàng sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phát sinh. Hình thức rủi ro này
được xếp vào mức rủi ro thấp vì ngoại trừ trường hợp khách hàng muốn quỵt nợ,
chiếm dụng vốn thì phần lớn đều xuất phát từ việc thiếu cân đối trong kỳ hạn thu
nợ và trả nợ của khách hàng.
3.1.2. Khơng thu được vốn đúng hạn
Khi khơng thu được vốn đúng hạn tình hình dường như nghiêm trọng
hơn, một phần do một lượng vốn vay lớn bị mất. Khi đó, Ngân hàng sẽ chuyển
số nợ đó sang mục nợ q hạn phát sinh. Khoản mục này phát sinh vào thời
gian đáo hạn của hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, đấy chưa phải là khoản mất mát
thực hiện của Ngân hàng vì có thể tiến độ hoạt động kinh doanh của khách hàng
bị chậm so với kế hoạch đã đề ra trình Ngân hàng.
3.1.3. Khơng thu được đủ lãi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
Khi Ngân hàng khơng thu được đủ lãi thì tình hình đã trở nên nghiêm
trọng hơn. Tình hình kinh doanh của khách hàng có thể đã kém hiệu quả đến
mức khơng thể trả đủ lãi cho Ngân hàng. Khi đó, Ngân hàng phải chuyển khoản
lãi này vào khoản mục lãi treo đóng băng và thậm chí có thể phải thực hiện miễn
giảm lãi cho khách hàng.
3.1.4. Khơng thu đủ vốn cho vay
Tình huống xấu nhất xảy ra khi ngân hàng khơng thuđủ vốn cho vay và
lúc này Ngân hàng đã bị mất vốn. Tại thời điểm này, Ngân hàng sẽ chuyển
khoản nợ vào mục nợ khơng có khả năng thu hồi hoặc phải xố nợ, coi như khép
lại một hợp đồng tín dụng khơng có hiệu quả.
Trên đây chủ yếu là bốn hình thức giúp cho NHTM phân biệt rủi ro tín
dụng và có biện pháp xử lý. Tuy nhiên, khơng phải lúc nào gặp rủi ro tín dụng
thì Ngân hàng đều phải trải qua bốn trường hợp trên. Có trường hợp khách hàng
đã trả lãi rất đầy đủ và đúng hạn nhưng cuối cùng lại khơng thể trả được nợ gốc
cho Ngân hàng. Vì vậy, khi nghiên cứu về rủi ro tín dụng, người ta thường chú
trọng vào các trường hợp có nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng như là lãi treo phát
sinh và đặc biệt là nợ q hạn phát sinh. Còn ở các trường hợp khác có lãi treo
đóng băng hay nợ khơng có khả năng thu hồi được coi là rủi ro thực sự nên
thường được xem xét để giải quyết hậu quả và rt ra những bài học kinh
nghiệm.
3.2. Các ngun nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
3.2.1. Ngun nhân từ mơi trường kinh doanh.
a) Mơi trường kinh tế, chính trị, xã hội và mơi trường pháp lý trong nước:
- Mơi trường kinh tế: Mơi trường kinh tế tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực
kinh doanh của ngân hàng cũng như các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Khi
nền kinh tế đang tăng trưởng ổn định thì các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và
có nhiều khả năng trả nợ cho Ngân hàng. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình
trạng bị suy thối, mất ổn định đã làm cho các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó
khăn trong hoạt động kinh doanh, sản xuất bị đình trệ, sức mua bị giảm sút,hàng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
hố bị ứ đọng. Điều này đã làm cho các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và đã
ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng.
Ngồi ra, các chính sách quản lý kinh tế vĩ mơ của chính phủ cũng ảnh
hưởng khơng nhỏ đến hoạt động của Ngân hàng. Chính phủ có thể gây khó khăn
cho một số khách hàng của Ngân hàng khi theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh
tế cao đã làm tăng tỷ lệ lạm phát dẫn đến giá cả các loại ngun vật liệu đầu vào
tăng, giá thành sản phẩm tăng, hàng hố khó tiêu thụ được. Hơn nữa, việc chính
phủ cho phép nhập khẩu tràn lan những mặt hàng mà ở trong nước có thể sản
xuất được, từ đó làm cho hàng hố trong nước bị cạnh tranh, chậm tiêu thụ, sản
xuất bị đình trệ…
- Mơi trường chính trị, xã hội: Mơi trường chính trị, xã hội ổn định sẽ tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển. Ngược lại, nếu doanh nghiệp ln
phải đặt ra trong tình trạng chiến tranh cấm vận kinh tế, chính trị bất ổn, tệ nạn
xã hội tràn lan…đều là những ngun nhân dẫn đến việc kìm hãm sản xuất, từ
đó gây ra rủi ro đối với các doanh nghiệp nói chung và đối với rủi ro tín dụng
của ngân hàng nói riêng.
- Mơi trường pháp lý: Nếu nhà nước xây dựng một hành lang pháp lý chặt
chẽ và có hiệu lực sẽ làm mạnh hố các quan hệ kinh tế giữa các tổ chức kinh tế
với nhau cũng như giữa các tổ chức kinh tế đó với Ngân hàng. Ngược lại, hệ
thống pháp lý lỏng lẻo sẽ tạo ra nhiều kẽ hở, gây nên tình trạng mánh kh, lừa
đảo và gây thiệt hại lẫn nhau; từ đó ảnh hưởng đến khả năng thanh tốn đối với
Ngân hàng, thậm chí trực tiếp lừa đảo chiếm dụng vốn của Ngân hàng, điển hình
như vụ án Tamexco, Epco - Minh Phung…đã gây xơn xao dư luận.
b) Mơi trường quốc tế.
Xu hướng hội nhập nền kinh tế khu vực và quốc tế hiện nay ảnh hưởng rất
lớn đến kinh doanh kinh tế. Một mặt nó tạo điều kiện giao lưu kinh tế, tăng hiệu
quả kinh tế xã hội đất nước, nhưng mặt khác nó lại tao ra sức cạnh tranh khốc
liệt. Nếu doanh nghiệp nào làm ăn kém hiệu quả thì lập tức sẽ bị phá sản gây
ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng Ngân hàng. Quan hệ kinh tế mở rộng ra các
nước đã tạo sự ràng buộc về kinh tế, tiềm ẩn những rủi ro mang tính hệ thống.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét