Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Phân tích hoạt động kinh doanh tại NHCT Kiên Giang

Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
Khi gửi tiền, khách hàng được hưởng lãi suất, góp phần tăng lợi nhuận cho
khách hàng nhưng khi có nhu cầu sử dụng thì họ lại chủ động rút ra. Mặt khác
khách hàng còn được phép sử dụng tiền gửi để phục vụ cho việc thanh toán không
dùng tiền mặt qua Ngân hàng.
Tiền gửi không kỳ hạn là nguồn vốn không ổn định, khách hàng có thể gửi vào
và rút ra bất kỳ lúc nào song giữa việc gửi tiền và rút tiền có sự chênh lệch về thời
gian và số lượng nên các loại tài khoản này luôn có số dư, Ngân hàng có thể huy
động số dư đó làm nguồn vốn tín dụng cho vay.
b.Tiền gửi có kỳ hạn:
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà khi khách hàng gửi vào có sự thỏa thuận
về thời gian rút ra giữa Ngân hàng và khách hàng.
Về nguyên tắc, người gửi tiền chỉ có thể rút tiền ra theo thời hạn đã thỏa thuận.
Tuy nhiên, trên thực tế do yếu tố cạnh tranh, để thu hút tiền gửi các Ngân hàng
thường cho phép khách hàng được rút tiền trước thời hạn nhưng không được
hưởng lãi suất, hoặc chỉ được hưởng một mức lãi suất thấp hơn hoặc phải chịu một
mức phí đối với khoản tiền gửi tiết kiệm rút trước thời hạn theo quy định của tổ
chức nhận tiền gửi tiết kiệm (theo Quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13
tháng 9 năm 2004).
Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn mang tính ổn định. Ngân hàng có thể sử dụng
loại tiền này một cách chủ động làm nguồn vốn kinh doanh. Vì vậy, để khuyến
khích khách hàng gửi tiền, các NHTM thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau
như: 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng… với mức lãi suất tương ứng theo nguyên tắc kỳ
hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
1.1.2. Tiền gửi của dân cư:
Tiền gửi của dân cư là một bộ phận thu nhập bằng tiền của dân cư gửi tại Ngân
hàng. Tiền gửi dân cư bao gồm:
Tiền gửi tiết kiệm: là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi
tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ
chức nhận gửi tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về
bảo hiểm tiền gửi.
Đây là hình thức huy động truyền thống của Ngân hàng. Trong hình thức huy
động này, người gửi tiền được cấp một thẻ tiết kiệm. Thẻ này được coi như giấy
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình5
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
chứng nhận có tiền gửi vào quỹ tiết kiệm của Ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm của
dân cư cũng được chia thành 2 loại: tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn.
Thẻ tiết kiệm được xem là một chứng từ đảm bảo tiền gửi. Vì vậy, người gửi có
thẻ tiết kiệm cũng có thể mang thẻ này đến Ngân hàng để cầm cố hoặc xin chiết
khấu để vay tiền.
1.1.3. Vốn huy động thông qua các chứng từ có giá:
Giấy tờ có giá là chứng nhận của TCTD phát hành để huy động vốn, trong đó
xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời gian nhất định, điều kiện
trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa TCTD và người mua.
Đây là việc các NHTM phát hành các chứng từ như kỳ phiếu Ngân hàng có mục
đích, trái phiếu Ngân hàng và chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn ngắn hạn và dài
hạn vào Ngân hàng.
Tại một số thời điểm đặc biệt, NHCT còn phát hành công cụ huy động đặc biệt
như: tiết kiệm dự thưởng, kỳ phiếu dự thưởng, tiết kiệm lãi suất bậc thang, tiết
kiệm kèm quà tặng khuyến mãi.
Việc phát hành các chứng từ có giá để huy động vốn chỉ được thực hiện sau khi
đã tiến hành lên cân đối toàn hệ thống ngân hàng giữa nguồn vốn và sử dụng vốn.
Khi khả năng nguồn vốn của toàn hệ thống không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng
vốn của cả hệ thống, nếu được Thống đốc NHNN chấp nhận thì các NHTM mới
được phép phát hành các chứng từ có giá để huy động vốn.
1.2. Các nguyên tắc quản lý tiền gửi của khách hàng:
- Ngân hàng phải đảm bảo thanh toán kịp thời cho khách hàng. Theo đó
Ngân hàng chỉ được sử dụng một tỷ lệ phần trăm tiền gửi nhất định để cho vay, số
còn lại làm quỹ dự trữ đảm bảo thanh toán cho khách hàng.
- Ngân hàng chỉ được thực hiện các khoản giao dịch trên tài khoản của
khách hàng khi có lệnh của chủ tài khoản hoặc có sự uỷ nhiệm của chủ tài khoản.
Ngoại trừ trường hợp khách hàng vi phạm luật chi trả và theo quy định của cơ
quan có thẩm quyền về thực hiện các nghiệp vụ thanh toán thì khi đó Ngân hàng
mới có quyền tự động trích các tài khoản tiền gửi của khách hàng để thực hiện các
khoản thanh toán có liên quan.
- Ngân hàng phải đảm bảo an toàn và bí mật cho chủ tài khoản
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình6
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
- Ngân hàng phải có trách nhiệm kiểm soát các giấy tờ thanh toán của
khách hàng, các chứng từ thanh toán phải được lập theo đúng quy định. Ngân hàng
phải kiểm tra con dấu và chữ ký của khách hàng, nếu không phù hợp thì Ngân
hàng có thể từ chối thanh toán.
- Khi có các nghiệp vụ liên quan đến tài khoản của khách hàng thì Ngân
hàng phải kịp thời gửi giấy báo có cho khách hàng. Cuối tháng, Ngân hàng phải
gửi bản sao tài khoản hoặc giấy báo số dư cho khách hàng.
2. Nghiệp vụ tín dụng:
2.1. Khái niệm tín dụng:
Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh
tế-xã hội. Ngày nay, tín dụng được hiểu theo những định nghĩa sau:
1/ Tín dụng là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện
vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả gốc và lãi sau một thời
gian nhất định.
2/ Tín dụng là phạm trù kinh tế, phản ánh quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa
các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế hàng hóa.
3/ Tín dụng là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (trái chủ-người cho
vay) cấp tiền, hàng hóa, dịch vụ, chứng khoán… dựa vào lời hứa thanh toán lại
trong tương lai của bên kia (thụ trái- người đi vay).
Như vậy, tín dụng có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau. Nhưng nội dung
cơ bản của những định nghĩa này là thống nhất, đều phản ánh một bên là người
cho vay, còn bên kia là người đi vay. Quan hệ giữa hai bên được ràng buộc bởi cơ
chế tín dụng và pháp luật hiện tại.
2.2. Bản chất tín dụng:
Tín dụng thể hiện như một sự chuyển giao tạm thời quyền sử dụng một vật hoặc
số tiền giữa người cho vay và người đi vay. Vì vậy, người ta có thể sử dụng được
giá trị của hàng hóa trực tiếp hay gián tiếp thông qua trao đổi. Bản chất tín dụng
thể hiện trong mối quan hệ kinh tế trong quá trình hoạt động của tín dụng và mối
quan hệ của nó trong quá trình sản xuất.
2.3. Phân loại tín dụng:
Có rất nhiều cách phân loại tín dụng nhưng cách phổ biến nhất là phân loại theo
thời gian. Căn cứ vào thời gian, tín dụng được chia thành ba loại:
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình7
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn đến một năm
Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ trên một năm đến năm năm
Tín dụng dài hạn: có thời hạn trên năm năm
2.4. Nguyên tắc tín dụng:
Khi tham gia vào quan hệ tín dụng, các doanh nghiệp vay vốn và các Ngân hàng
đều quán triệt các nguyên tắc. Các nguyên tắc tín dụng được hình thành từ bản
chất của tín dụng, được khẳng định trong thực tiễn hoạt động của các Ngân hàng
và được pháp lý hóa.
Trong kinh doanh tiền tệ, các Ngân hàng phải dựa trên các nguyên tắc này để
xem xét xây dựng, thực hiện và xử lý những vấn đề liên quan đến tiền vay, khách
hàng vay vốn phải tuân thủ và bị ràng buộc bởi các yêu cầu đặt ra theo xu hướng
mà các nguyên tắc này đòi hỏi.
Nguyên tắc 1: Tiền vay được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trên hợp
đồng tín dụng.
Nguyên tắc 2: Tiền vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn đã
thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng.
2.5. Lãi suất tín dụng:
Lãi suất huy động vốn: Là loại lãi suất mà các tổ chức tín dụng sử dụng để
huy động vốn cho các mục tiêu hoạt động kinh doanh của mình như: lãi suất tiền
gửi không kỳ hạn, lãi suất tiền gửi có kỳ hạn.
Bảng 01: LÃI SUẤT HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHCT KIÊN GIANG
NĂM 2005
Chỉ tiêu
Trả lãi sau
Trả lãi trước
Trả lãi định kỳ
VND (%/tháng)
VND
(%/tháng)
USD
(%/năm)
Không kỳ hạn 0,25 1,25 -
Kỳ hạn 1 tháng 0,45 3,25 -
Kỳ hạn 2 tháng 0,55 3,50 0,54
Kỳ hạn 3 tháng 0,64 3,20 0,62
Kỳ hạn 6 tháng 0,65 4,00 0,63
Kỳ hạn 9 tháng 0,69 4,10 0,66
Kỳ hạn 12 tháng 0,70 4,50 0,67
Kỳ hạn 24 tháng 0,74 4,55 - 0,72
Kỳ hạn 36 tháng 0,76 4,60 - 0,73
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình8
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
Kỳ hạn 60 tháng 0,77 4,80 - 0,74
Lãi suất cho vay: là tỷ lệ % giữa số lợi tức thu được trong kỳ so với số vốn cho
vay phát ra trong thời kỳ nhất định, thông thường lãi suất tính cho năm, quý,
tháng…
Tùy theo từng phương pháp cho vay và cách trả lãi, Ngân hàng có thể sử dụng
hai cách tính lãi độc lập:
Cách 1: Không nhập vốn gốc mà chỉ tính một lần vào cuối kỳ hạn gọi là cách
tính lãi đơn
Cách 2: Lãi tính theo lối nhập vào vốn gốc từng kỳ để tăng vốn gọi là cách tính
lãi kép.
Do đó, cùng một khoản vốn cho vay sau một thời gian nhất định tùy theo cách
tính lãi sẽ tạo ra những khoản thu khác nhau. Tuy nhiên, với cách tính lãi như thế
nào thì lãi suất cho vay cũng đảm bảo theo công thức sau:
Lãi suất cho vay = Chi phí vốn + Chi phí rủi ro tín dụng + Tỷ lệ lợi nhuận kỳ vọng
Bảng 02: LÃI SUẤT CHO VAY, CẦM ĐỒ & PHÍ DỊCH VỤ CỦA NHCT
KIÊN GIANG NĂM 2005
I/ Lãi suất cho vay Lãi suất trong hạn Lãi suất quá hạn
1/ Cho vay ngắn hạn bằng đồng VN 0,95%/tháng 1,425%/tháng
2/ Cho vay trung, dài hạn bằng đồng VN 1,04%/tháng 1,56%/tháng
(Theo phương thức thả nổi)
Trong đó: Lãi suất cơ sở 8,4%/năm
Phí Ngân hàng 4,08%/năm
3/ Cho vay ngắn hạn bằng đô la Mỹ
4/ Cho vay trung, dài hạn bằng đô la Mỹ
5/ Cho vay ngắn hạn ở nông thôn 1%/tháng 1,5%/tháng
6/ Cho vay trung, dài hạn ở nông thôn 1,1%/tháng 1,65%/tháng
7/ Cho vay trung, dài hạn vốn Việt Đức 0,73%/tháng
8/ Cho vay CB-CNV (Ngắn, T & DH) 0,95-1,04%/tháng
II/ Lãi suất cho vay dịch vụ cầm đồ
- Lãi suất dịch vụ cầm vàng và chứng từ
có giá
0,95%/tháng 1,425%/tháng
- Lãi suất dịch vụ cầm đồ khác
III/ Phí bảo lãnh
- Tính trên số tiền được bảo lãnh: 2%/năm
- Mức thu phí bảo lãnh tối thiểu : 100.000 đồng
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình9
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
IV/ Phí khác
- Phí phạt chậm trả lãi tiền vay: 0,5%/tháng x số tiền chậm trả lãi x số ngày chậm
trả lãi
- Phí gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ: 0,1%/tháng x số tiền gia hạn, điều chỉnh
- Phí vay trả trong ngày là: 0,1% trên số tiền trả
- Phí cam kết sử dụng vốn: 0,3% trên số tiền chưa rút vốn
3. Rủi ro tín dụng:
3.1. Khái niệm rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện
được các nghiệp vụ tài chính đối với Ngân hàng. Hay nói cách khác rủi ro tín dụng
là rủi ro xảy ra khi xuất hiện những biến cố không lường trước được do nguyên
nhân chủ quan hay khách quan mà khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng
một cách đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn, từ đó tác động xấu đến hoạt động và có
thể làm cho Ngân hàng bị phá sản.
Đây là rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và thường gây hậu quả nặng nề
nhất. Thông thường ở các nước, nghiệp vụ tín dụng mang lại 2/3 thu nhập cho
Ngân hàng. Còn ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, thu nhập từ hoạt động tín
dụng mang lại thường chiếm 70% - 90% tổng thu nhập. Nhưng đồng thời trong
lĩnh vực này cũng chứa đựng nhiều rủi ro bởi các khoản tiền cho vay bao giờ cũng
có xác suất vỡ nợ cao so với những khoản đầu tư khác.
3.2. Thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra:
3.2.1. Đối với ngân hàng:
Rủi ro tín dụng sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân
hàng như thiếu tiền chi trả cho khách hàng, vì phần lớn nguồn vốn hoạt động của
ngân hàng là nguồn vốn huy động, mà khi ngân hàng không thu hồi được nợ gốc
và lãi trong cho vay thì khả năng thanh toán của ngân hàng dần dần lâm vào tình
trạng thiếu hụt.
Như vậy, rủi ro tín dụng sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thanh
toán, làm cho ngân hàng lỗ và có nguy cơ bị phá sản.
3.2.2. Đối với nền kinh tế xã hội:
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình10
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
Hoạt động của ngân hàng có liên quan đến hoạt động của toàn bộ nền kinh tế,
đến tất cả các doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn, đến toàn bộ các tầng lớp dân cư. Vì
vậy, rủi ro tín dụng xảy ra có thể làm phá sản một vài ngân hàng và có khả năng
phát sinh lây lan sang các ngân hàng khác và tạo cho dân chúng một tâm lý sợ hãi.
Khi đó, dân chúng sẽ đưa nhau đến ngân hàng rút tiền trước thời hạn, điều đó cũng
có thể đưa đến sự phá sản của đồng loạt các ngân hàng. Như vậy, rủi ro tín dụng sẽ
tác động đến toàn bộ nền kinh tế.
Những điều nêu trên cho chúng ta thấy rủi ro tín dụng là vấn đề rất nghiêm
trọng mà Chính phủ các nước phải quan tâm, đặc biệt là Ngân hàng Trung ương
phải có những chính sách khuyến cáo thường xuyên thông qua công tác thanh tra,
kiểm soát, chiết khấu, tái chiết khấu và sẵn sàng hỗ trợ cho các NHTM khi có các
biến cố rủi ro xảy ra.
3.3. Những nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng:
3.3.1. Nguyên nhân từ khách hàng vay vốn:
Rủi ro tín dụng biểu hiện ra bên ngoài là việc không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ,
vốn bị ứ đọng khó có khả năng thu hồi, nợ quá hạn ngày càng lớn, các khoản lãi
chưa thu ngày càng gia tăng… Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là:
+ Khi các cá nhân vay vốn gặp phải các nguy cơ sau đây thường không trả nợ
cho ngân hàng đầy đủ cả vốn lẫn lãi như: thu nhập không ổn định; Bị sa thải, thất
nghiệp; Bị tai nạn lao động; Hỏa hoạn, lũ lụt; Hoàn cảnh gia đình khó khăn; Sử
dụng vốn sai mục đích; Thiếu năng lực pháp lý…
+ Khi các doanh nghiệp thường không trả được nợ vay của ngân hàng đầy đủ cả
gốc và lãi khi gặp phải những trường hợp sau: Năng lực chuyên môn và uy tín của
người lãnh đạo đơn vị giảm thấp; Khả năng tài chính của doanh nghiệp bị giảm do
lỗ trong kinh doanh; Sử dụng vốn sai mục đích; Thị trường cung cấp vật tư bị đột
biến; Bị cạnh tranh và mất thị trường tiêu thụ; Sự thay đổi trong chính sách của
Nhà nước; Những tai nạn bất ngờ.
3.3.2. Những nguyên nhân khách quan:
+ Tình hình kinh tế trong nước:
Hoạt động cho vay của ngân hàng là hoạt động rất nhạy cảm với những biến
động của nền kinh tế - xã hội.
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình11
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
Trong giai đoạn kinh tế suy thoái thường xuất hiện những doanh nghiệp thua lỗ
và phá sản, từ đó có các khoản tiền vay ngân hàng không trả được. Điều này làm
cho nợ quá hạn trong ngân hàng tăng lên nhanh chóng.
Trong giai đoạn nền kinh tế có lạm phát cao và ngày càng gia tăng cũng có thể
dẫn đến rủi ro tín dụng, bởi vì trong giai đoạn này người gửi tiền có tâm lý lo sợ
rằng đồng tiền của mình bị mất giá khi gửi ngân hàng, cho nên họ muốn rút tiền ra
khỏi ngân hàng. Trong khi đó những người đi vay thì lại muốn gia tăng nhu cầu
vay vốn và muốn kéo dài thời hạn vay. Điều này cũng là ảnh hưởng trực tiếp đến
nguồn vốn hoạt động của ngân hàng cũng như những khoản đầu tư của ngân hàng
không có hiệu quả. Nguy cơ này có thể làm hoạt động cho vay của ngân hàng bị
phá sản.
+ Tình hình thế giới:
Trong thời kỳ ngày nay, mỗi quốc gia là một tế bào của nền kinh tế chung thế
giới. Hoạt động kinh tế các nước đều có tác động ảnh hưởng lẫn nhau vì xu hướng
toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới. Nhiều tập đoàn công ty có xu hướng mở
rộng kinh doanh ra nước ngoài. Sự hình thành các khu vực kinh tế và các khu mậu
dịch tự do như NAFTA, AFTA… cho chúng ta thấy sự ảnh hưởng không nhỏ của
các nước trong khu vực cũng như trên thế giới đối với mỗi nước thành viên.
Chính vì vậy, khi có những biến cố và tình hình kinh tế, chính trị, quân sự xảy
ra ở bất kỳ nước nào thì cũng có thể tác động mạnh đến các nước khác trên thế
giới và sẽ dẫn đến biến động kinh tế trong nước và tác động xấu đến hoạt động
của ngân hàng. Qua các cuộc khủng hoảng kinh tế như ở Thái Lan (1997), nó ảnh
hưởng mạnh đến cả những nền kinh tế mạnh như Nhật Bản và Hàn Quốc và làm
cho hệ thống tài chính ngân hàng ở những nước này phá sản hàng loạt. Cuộc
khủng hoảng gần đây ở Argentina vào cuối 2001 cũng tác động làm lung lay các
nền kinh tế cũng như hệ thống tài chính ngân hàng các nước lân cận, điển hình là
Uruguay.
3.3.3. Những nguyên nhân liên quan đến việc đảm bảo tín dụng:
+ Đảm bảo đối nhân:
Nếu người bảo lãnh gặp phải những tình huống chủ quan hay khách quan đã
được trình bày ở phần trên. Điều đó có thể dẫn đến người bảo lãnh không có khả
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình12
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
năng thực hiện những lời cam kết của mình, tức là không có khả năng thay mặt
người vay trả nợ cho ngân hàng đầy đủ cả gốc và lãi.
+ Đảm bảo đối vật:
Rủi ro tín dụng xảy ra liên quan đến vật dùng để thế chấp, cầm cố nợ vay khi
gặp phải những trường hợp sau:
- Việc đánh giá tài sản cầm cố, thế chấp không chính xác
- Tài sản thế chấp, cầm cố không tiêu thụ được
- Tài sản thế chấp, cầm cố bị hỏa hoạn hoặc cấm lưu thông
- Tài sản thế chấp, cầm cố không được thực hiện đúng theo quy định của pháp
luật nên không thể phát mãi.
3.3.4. Những nguyên nhân do chính bản thân ngân hàng:
Rủi ro tín dụng xảy ra còn có thể là do chính bản thân ngân hàng tạo ra. Những
nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng do ngân hàng tạo ra có thể là những nguyên
nhân sau:
+ Do ngân hàng chạy theo lợi nhuận, đặt mong muốn về lợi nhuận cao hơn các
khoản cho vay lành mạnh.
+ Ngân hàng vi phạm các nguyên tắc cho vay, cho vay vượt tỷ lệ an toàn như
cho một khách hàng vay quá 15% vốn tự có của ngân hàng, thiếu tài sản thế chấp,
cầm cố, cho vay khống…
+ Phân tích đánh giá khách hàng sai, quyết định cho vay thiếu thông tin sát
thực.
+ Cán bộ ngân hàng vi phạm đạo đức kinh doanh.
3.4. Biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng:
3.4.1. Phân tích khách hàng:
Đây là biện pháp tích cực nhất nhằm hạn chế và phòng ngừa rủi ro. Bởi có đánh
giá đúng khách hàng thì mới biết được khả năng hoàn trả nợ của họ. Đánh giá
khách hàng thường chú trọng đến những mặt sau:
- Tình hình tài chính của khách hàng
- Tư cách, năng lực và trình độ hiểu biết của người đứng đầu doanh nghiệp
- Đánh giá tính khả thi của phương án vay vốn
3.4.2. Phân tích tín dụng:
- Phân tích chất lượng và hiệu quả tín dụng
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình13
Phân tích hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Công Thương Kiên Giang
- Phân tích khả năng mở rộng quy mô tín dụng
- Thực hiện các đảm bảo tín dụng
- Trình độ của cán bộ tín dụng
3.4.3. Phân tán rủi ro:
+ NHTM không nên dồn vốn vào một hoặc một số ít khách hàng, cho dù khách
hàng đó kinh doanh có hiệu quả. Bởi vì nếu khách hàng đó gặp khó khăn trong
kinh doanh thì ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của NHTM. Vì vậy, NHTM cần
phải tôn trọng giới hạn an toàn. Ở Việt Nam căn cứ vào quy chế cho vay của
NHNN ban hành 31/12/2001 quy định: “dư nợ đối với một khách hàng không
được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng”.
+ Cho vay hợp vốn: Cho vay hợp vốn hay còn gọi là đồng tài trợ là quá trình
cho vay, bảo lãnh của một nhóm ngân hàng cho một dự án, do một NHTM làm
đầu mối phối hợp với các bên tài trợ để thực hiện, nhằm nâng cao hiệu quả trong
hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp và của ngân hàng.
Việc cho vay hợp vốn là để cung cấp các khoản tín dụng lớn mà một ngân hàng
khó có đủ khả năng cho vay, khó xác định mức độ rủi ro. Vì thế, mà nhiều ngân
hàng kết hợp với nhau, cùng nhau xem xét đánh giá khách hàng, phân tích khả
năng sinh lời của dự án để tíến hành cho vay. Các ngân hàng tham gia hợp vốn vào
một dự án phải ký với nhau một hợp đồng đồng tài trợ, thỏa thuận rõ trách nhiệm
và quyền hạn của từng thành viên. Do đó, khi có rủi ro xảy ra gánh nặng sẽ không
dồn vào một ngân hàng nào, bởi các ngân hàng tham gia đồng tài trợ để chia sẻ rủi
ro, hậu quả của nó được giảm nhẹ.
+ Bảo hiểm tín dụng: là biện pháp quan trọng nhằm san sẻ rủi ro. Bảo hiểm tín
dụng có thể thực hiện dưới các loại như: bảo hiểm hoạt động cho vay, bảo hiểm tài
sản, bảo hiểm tiền vay. Ở các nước, bảo hiểm tín dụng thường được thực hiện
dưới dạng sau:
- Khách hàng vay vốn tham gia mua bảo hiểm cho ngành, nghề mà họ kinh
doanh.
- Ngân hàng trực tiếp mua bảo hiểm của các tổ chức bảo hiểm và sẽ được bồi
thường hại nếu gặp rủi ro mất vốn tín dụng.
- Bảo hiểm tài sản đảm bảo tiền vay.
SVTH: Nguyễn Thanh Dung GVHD: Ths. Trương Hoà Bình14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét