Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014
Hoàn thiện hạch toán vật liệu tại công ty dệt may Hà Nội
chất lợng của sản phẩm, hoặc tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm đợc thực
hiện bình thờng, hoặc phục vụ cho nhu cầu công nghệ, kỹ thuật, phục vụ cho lao
động của công nhân viên chức (dầu nhờn, hồ keo, thuốc nhuộm, thuốc tẩy, thuốc
chống rỉ, hơng liệu, xà phòng, giẻ lau )
Nhiên liệu :
Về thực chất là một loại vật liệu phụ, nhng nó đợc tách ra thành một loại riêng
vì việc sản xuất và tiêu dùng nhiên liệu chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế
quốc dân, nhiên liệu cũng có yêu cầu và quản lý kỹ thuật hoàn toàn khác với vật liệu
phụ thông thờng. Nhiên liệu có tác dụng cung cấp nhiệt lợng trong quá trình sản
xuất, kinh doanh tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm có thể diễn ra bình th-
ờng. Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, thể rắn và thể khí.
Phụ tùng thay thế :
Là những loại vật t, sản phẩm dùng để thay thế, sửa chữa máy móc thiết bị, ph-
ơng tiện vận tải, công cụ dụng cụ sản xuất.
Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản :
Bao gồm các vật liệu và thiết bị ( cần lắp, không cần lắp, vật kết cấu, công cụ,
khí cụ ) mà doanh nghiệp mua vào nhằm mục đích đầu t cho xây dựng cơ bản .
Phế liệu :
Là các loại vật liệu thu đợc trong quá trình sản xuất hay thanh lý tài sản, có thể
sử dụng hay bán ra ngoài ( phôi bào, vải vụn, gạch, sắt )
Vật liệu khác :
Bao gồm các loại vật liệu còn lại ngoài các thứ cha kể trên nh bao bì, vật đóng
gói, các loại vật t đặc chủng
Hạch toán theo cách phân loại nói trên đáp ứng đợc yêu cầu phản ánh tổng quát
về mặt giá trị đối với mỗi loại nguyên vật liệu. Để đảm bảo thuận tiện, tránh nhầm lẫn
cho công tác quản lý và hạch toán về số lợng và giá trị đối với từng thứ nguyên vật
liệu, trên cơ sở phân loại theo vai trò và công dụng của nguyên vật liệu, các doanh
nghiệp phải tiếp tục chi tiết và hình thành nên " Sổ danh điểm vật liệu". Sổ này xác
định thống nhất tên gọi, ký mã hiệu, quy cách, số hiệu, đơn vị tính, giá hạch toán của
từng danh điểm nguyên vật liệu (theo mẫu sau) :
Ký hiệu Tên,nhãn hiệu, quy
cách NVL
Đơn vị
tính
Đơn giá
hạch toán
Ghi chú
5
Nhóm Danhđiểm NVL
3 . Tính giá vật liệu :
Tính giá vật liệu là một công tác quan trọng trong việc tổ chức hạch toán nguyên
vật liệu. Tính giá nguyên vật liệu là dùng tiền để biểu hiện giá trị của chúng. Lựa
chọn phơng pháp tính giá trong kỳ hợp lý để đảm bảo phản ánh chính xác chi phí vật
liệu trong giá thành sản phẩm mới và độ lớn của dự trữ vật liệu ngày cuối kỳ. Vì vậy,
đánh giá vật liệu là nhiệm vụ không thể thiếu của tổ chức hạch toán, là tiền đề để
hình thành hệ thống thông tin chính xác về vật liệu tiêu dùng và dự trữ.
Trong hạch toán, vật liệu đợc tính theo giá thực tế ( giá gốc ). Tuỳ theo doanh
nghiệp tính thuế VAT theo phơng pháp trực tiếp hay phơng pháp khấu trừ mà trong
giá thực tế có thể có thuế VAT ( nếu tính thuế VAT theo phơng pháp trực tiếp ) hay
không có thuế VAT ( nếu tính thuế VAT theo phơng pháp khấu trừ ).
a. Giá thực tế nhập kho :
Trong các doanh nghiệp sản xuất, giá thực tế nhập kho vật liệu đợc xác định
theo từng nguồn nhập :
Đối với vật liệu mua ngoài :
Giá thực tế gồm giá mua ghi trên hoá đơn của ngời bán hàng ( nếu là vật liệu tự
nhập khẩu bằng ngoại tệ thì quy đổi ra tiền Việt Nam theo tỷ giá thực tế hoặc tỷ giá
giao dịch bình quân trên thị trờng ngoại tệ của liên ngân hàng do ngân hàng nhà nớc
Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh, cộng thuế nhập khẩu và các khoản phụ
thu- nếu có ) cộng với chi phí vận chuyển, phí bốc xếp, phí bảo quản, phí bảo hiểm,
phí hao hụt hợp lý trên đờng đi, tiền thuê kho bãi, phí gia công trớc khi nhập kho
( nếu có ), phí chọn lọc, tái chế trừ đi các khoản giảm giá hàng mua đ ợc hởng.
Đối với vật liệu gia công xong nhập kho :
Giá thực tế bao gồm giá xuất và chi phí gia công chế biến .
Với vật liệu doanh nghiệp tự chế biến : Tính theo giá thành sản xuất thực tế
Với vật liệu thuê ngoài gia công chế biến gồm giá vật liệu thực tế xuất kho đem gia
công cộng với chi phí gia công nh chi phí vận chuyển, phí bốc xếp, phí bảo hiểm và
tiền trả cho ngời gia công.
Đối với vật liệu nhận vốn góp liên doanh, cổ phần :
6
Giá thực tế tồn đầu kỳ + Giá thực tế nhập trong kỳ
Số lợng tồn đầu kỳ + Số lợng nhập trong kỳ
Giá thực tế vật = Giá trị vốn góp + Chi phí liên quan đến
liệu nhập kho thoả thuận tiếp nhận (nếu có)
Đối với vật liệu nhận tặng, thởng, viện trợ :
Giá thực tế vật = Giá do hội đồng bàn giao xác định + Chi phí liên
liệu nhập kho trên cơ sở giá thị trờng quan(nếu có)
Đối với phế liệu thu hồi :
Giá thực tế là giá ớc tính, giá thực tế có thể sử dụng đợc hay giá bán thu hồi.
Giá các loại vật liệu và các chi phí gia công chế biến, vận chuyển, bảo quản, thu
mua nói trên phải ghi trên hoá đơn, chứng từ theo quy định của Bộ Tài Chính. Tr -
ờng hợp vật liệu là sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản mua của ng ời trực tiếp sản xuất,
không có hoá đơn thì ngời mua hàng phải lập bảng kê mua hàng ghi rõ họ tên địa chỉ
ngời bán, số lợng hàng hoá, đơn giá, thành tiền, chữ ký của ngời bán hàng, giám đốc
doanh nghiệp duyệt chi.
b. Giá thực tế xuất kho :
Đối với vật liệu xuất dùng trong kỳ, tuỳ theo đặc điểm hoạt động của từng doanh
nghiệp, vào yêu cầu quản lý và trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, có thể sử dụng
một trong các phơng pháp sau theo nguyên tắc nhất quán trong hạch toán, nếu có thay
đổi phải giải thích rõ ràng.
Phơng pháp giá thực tế bình quân gia quyền :
Theo phơng pháp này, căn cứ vào giá thực tế của vật liệu tồn đầu kỳ và nhập
trong kỳ, kế toán xác định đợc giá bình quân của một đơn vị vật liệu. Căn cứ vào lợng
vật liệu xuất trong kỳ và giá đơn vị bình quân để xác định giá thực tế xuất trong kỳ.
Giá thực tế xuất kho=Lợng vật liệu xuất khoìGiá bình quânđơn vị vật liệu
Phơng pháp này giảm nhẹ đợc việc hạch toán chi tiết vật liệu, và việc tính giá vật
liệu xuất kho không phụ thuộc vào tần suất nhập xuất trong kỳ.
7
=
Giá bình quân
đơn vị vật liệu
Tuy nhiên, chỉ tiến hành phơng pháp này vào cuối kỳ hạch toán, dồn công việc
tính giá vào cuối kỳ, làm chậm tiến độ thực hiện các khâu kế toán khác, đồng thời ph-
ơng pháp này cũng phải tiến hành tính giá theo từng danh điểm vật liệu.
Phơng pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít danh điểm vật liệu, số
lần nhập xuất nhiều, giá cả biến động đột ngột.
Phơng pháp giá thực tế bình quân sau mỗi lần nhập :
Theo phơng pháp này, sau mỗi lần nhập, kế toán phải xác định giá bình quân
của từng danh điểm vật liệu. Căn cứ vào giá đơn vị bình quân và lợng vật liệu xuất
kho giữa hai lần nhập kế tiếp để kế toán xác định giá thực tế vật liệu xuất kho.
Theo phơng pháp này việc tính giá chính xác, phản ánh kịp thời sự biến động
của giá cả. Việc tính giá đợc tiến hành đều đặn trong kỳ.
Tuy vậy, kế toán phải tốn nhiều công sức, tính toán nhiều lần.
Phơng pháp này tính toán rất phức tạp vì vậy chỉ nên áp dụng với những doanh
nghiệp có ít danh điểm vật liệu, số lần nhập xuất không nhiều, thực hiện kế toán bằng
máy vi tính.
Phơng pháp giá đơn vị bình quân cuối kỳ trớc :
Theo phơng pháp này, kế toán xác định giá đơn vị bình quân dựa trên giá thực
tế và lợng vật liệu tồn kho cuối kỳ trớc. Dựa vào giá đơn vị bình quân nói trên và lợng
vật liệu xuất kho trong kỳ để kế toán xác định giá thực tế vật liệu xuất kho theo từng
danh điểm.
Phơng pháp này cho phép giảm nhẹ khối lợng tính toán của kế toán, đơn giản,
phản ánh kịp thời tình hình biến động vật liệu trong kỳ.
Nhng độ chính xác của công việc tính giá phụ thuộc vào tình hình biến động giá
cả vật liệu, trờng hợp giá cả thị trờng vật liệu có sự biến động lớn thì việc tính giá vật
liệu xuất kho theo phơng pháp này trở nên thiếu chính xác và có trờng hợp gây ra bất
hợp lý ( tồn kho âm ).
Phơng pháp nhập trớc, xuất trớc ( FIFO ) :
8
Giá đơn vị bình
quân sau mỗi lần
nhập
Giá thực tế vật liệu tồn trớc khi nhập cộng số nhập
Lợng thực tế vật liệu tồn trớc khi nhập cộng lợng nhập
=
Theo phơng pháp này vật liệu đợc tính giá xuất trên cơ sở giả định lô vật liệu
nào nhập kho trớc thì sẽ đợc xuất dùng trớc, lợng vật liệu xuất kho thuộc lần nhập nào
thì tính theo giá thực tế của lần nhập đó, xuất hết thứ nhập trớc mới đến thứ nhập sau
theo giá trị tơng ứng của từng lần nhập.
Việc tính giá theo phơng pháp nhập trớc, xuất trớc đơn giản, dễ làm, cho phép
kế toán có thể tính giá vật liệu xuất kho kịp thời.
Tuy nhiên, kế toán phải tính giá theo từng danh điểm vật liệu và phải hạch toán
chi tiết vật liệu tồn kho theo từng loại giá nên tốn nhiều công sức.
Phơng pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít danh điểm vật liệu, số
lần nhập kho của mỗi danh điểm không nhiều.
Phơng pháp nhập sau, xuất trớc ( LIFO ) :
Phơng pháp này tính giá vật liệu xuất kho trên cơ sở giả định lô vật liệu nào
nhập kho sau thì xuất trớc, xuất hết thứ nhập sau mới đến thứ nhập trớc.
Về cơ bản, u nhợc điểm và điều kiện vận dụng của phơng pháp này cũng giống
nh phơng pháp nhập trớc, xuất trớc.
Phơng pháp giá thực tế đích danh :
Theo phơng pháp này, khi xuất kho lô vật liệu nào thì tính theo giá thực tế nhập
kho đích danh của lô đó.
Nh vậy, công tác tính giá vật liệu đợc thực hiện kịp thời và thông qua việc tính
giá vật liệu xuất kho, kế toán có thể theo dõi đợc thời hạn bảo quản của từng lô vật
liệu.
Phơng pháp này đòi hỏi công tác quản lý bảo quản và hạch toán chi tiết, tỉ mỉ.
Phơng pháp này chỉ thích hợp với những doanh nghiệp có điều kiện bảo quản
riêng từng lô vật liệu nhập kho.
Phơng pháp trị giá hàng tồn cuối kỳ :
Với các phơng pháp trên, để tính đợc giá thực tế vật liệu xuất kho đòi hỏi kế
toán phải xác định đợc lợng vật liệu xuất kho căn cứ vào các chứng từ xuất. Tuy
nhiên, trong thực tế có những doanh nghiệp có nhiều chủng loại vật liệu với mẫu mã
khác nhau, giá trị thấp, lại đợc xuất dùng thờng xuyên thì sẽ không có điều kiện để
kiểm kê từng nghiệp vụ xuất kho. Trong điều kiện đó, doanh nghiệp phải tính giá cho
số lợng vật liệu tồn kho cuối kỳ, sau đó mới xác định đợc giá thực tế của vật liệu xuất
kho trong kỳ :
9
G
HT
vật liệu tồn đầu kỳ + G
HT
vật liệu nhập trong kỳ
Giá thực tế vật liệu = Số lợng tồn kho ì Đơn giá vật liệu nhập kho
tồn kho cuối kỳ cuối kỳ lần cuối
Giá thực tế vật = Giá thực tế vật + Giá thực tế vật - Giá thực tế vật
liệu xuất kho liệu nhập kho liệu tồn đầu kỳ liệu tồn cuối kỳ
Phơng pháp giá hạch toán :
Đối với các doanh nghiệp có nhiều loại vật liệu, giá cả thờng xuyên biến động,
nghiệp vụ nhập xuất vật liệu diễn ra thờng xuyên thì việc hạch toán theo giá thực tế
trở nên phức tạp, tốn nhiều công sức và nhiều khi không thực hiện đợc. Do đó, việc
hạch toán hàng ngày nên sử dụng giá hạch toán.
Giá hạch toán là loại giá ổn định, doanh nghiệp có thể sử dụng trong thời gian
dài để hạch toán nhập, xuất, tồn kho vật liệu trong khi cha tính đợc giá thực tế của nó.
Doanh nghiệp có thể sử dụng giá kế hoạch hoặc giá mua vật liệu ở một thời điểm nào
đó hay giá vật liệu bình quân tháng trớc để làm giá hạch toán. Sử dụng giá hạch toán
để giảm bớt khối lợng cho công tác kế toán nhập, xuất vật liệu hàng ngày nhng cuối
tháng phải tính chuyển giá hạch toán của vật liệu xuất, tồn kho theo giá thực tế. Việc
tính chuyển dựa trên cơ sở hệ số giữa giá thực tế và giá hạch toán.
Hệ số giá vật liệu
G
TT
vật liệu xuất kho = Hệ số giá vật liệu ì G
HT
vật liệu xuất kho.
Phơng pháp này kết hợp đợc hạch toán chi tiết vật liệu và hạch toán tổng hợp để
tính giá vật liệu, không phụ thuộc vào cơ cấu vật liệu sử dụng nhiều hay ít.
Tuy nhiên, kế toán phải tổ chức hạch toán tỉ mỉ, khối lợng công việc dồn nhiều
vào cuối kỳ hạch toán, phải xây dựng đợc giá hạch toán khoa học.
Phơng pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có nhiều danh điểm vật liệu,
và đội ngũ kế toán có trình độ chuyên môn cao.
II. Hạch toán chi tiết vật liệu.
Hạch toán chi tiết vật liệu đòi hỏi phản ánh cả về giá trị, số lợng, chất lợng của
từng thứ ( từng danh điểm ) vật liệu theo từng kho và từng ngời phụ trách vật chất.
Trong thực tế hiện nay, có 3 phơng pháp hạch toán chi tiết vật liệu sau :
1.Phơng pháp thẻ song song.
10
G
TT
vật liệu tồn đầu kỳ + G
TT
vật liệu nhập trong kỳ
=
Theo phơng pháp thẻ song song, để hạch toán nghiệp vụ nhập, xuất và tồn kho
vật liệu, ở kho phải mở thẻ kho để ghi chép về mặt số lợng và ở phòng kế toán phải
mở thẻ kế toán chi tiết vật liệu để ghi chép về mặt số lợng và giá trị.
Thẻ kho do kế toán lập theo mẫu quy định thống nhất ( mẫu 06 - VT ) cho từng
danh điểm vật liệu và phát cho thủ kho sau khi đã đăng ký vào sổ đăng ký thẻ kho.
Tại kho :
Hàng ngày, khi nhận các chứng từ nhập, xuất vật liệu, thủ kho phải kiểm tra tính
hợp lý, hợp pháp của chứng từ rồi tiến hành ghi số lợng thực nhập, thực xuất vào
chứng từ và thẻ kho, cuối ngày thủ kho tiến hành tổng cộng số nhập, xuất tính ra số
tồn kho trên thẻ kho. Mỗi chứng từ ghi một dòng vào thẻ kho.
Đối với phiếu xuất vật t theo hạn mức, sau mỗi lần xuất thủ kho phải ghi số thực
xuất vào thẻ kho mà không đợi đến khi kết thúc chứng từ mới ghi một lần.
Thủ kho phải thờng xuyên đối chiếu số tồn kho ghi trên thẻ kho với số liệu thực
tế còn lại ở kho để đảm bảo sổ sách và hiện vật luôn khớp nhau. Hàng ngày hoặc định
kỳ 3, 5 ngày một lần thủ kho chuyển toàn bộ chứng từ nhập, xuất đã đợc phân loại
theo từng thứ vật liệu cho phòng kế toán.
Tại phòng kế toán :
Kế toán phải mở thẻ kế toán chi tiết cho từng danh điểm vật liệu tơng ứng với
thủ kho mở ở kho. Kế toán sử dụng sổ ( thẻ ) kế toán chi tiết vật liệu để ghi chép tình
hình nhập, xuất, tồn kho theo chỉ tiêu hiện vật và giá trị.
Thẻ kế toán chi tiết vật liệu có nội dung giống nh thẻ kho, nhng chỉ khác là theo
dõi cả về giá trị của vật liệu. Hàng ngày hoặc định kỳ 3,5 ngày một lần, khi nhận đợc
các chứng từ nhập, xuất kho do thủ kho chuyển đến, nhân viên kế toán vật liệu phải
kiểm tra chứng từ, đối chiếu các chứng từ nhập, xuất kho với các chứng từ liên quan
( nh hoá đơn mua hàng, phiếu mua hàng, hợp đồng vận chuyển ), ghi đơn giá vào
phiếu và tính thành tiền trên từng chứng từ nhập, xuất. Căn cứ vào các chứng từ nhập,
xuất kho đã kiểm tra và tính thành tiền, kế toán lần lợt ghi các nghiệp vụ nhập, xuất
kho vào các thẻ kế toán chi tiết vật liệu liên quan giống nh trình tự ghi thẻ kho của
thủ kho.
Cuối tháng, kế toán cộng sổ chi tiết vật liệu và kiểm tra, đối chiếu với thẻ kho.
Ngoài ra để có số liệu đối chiếu, kiểm tra với kế toán tổng hợp cần phải tổng hợp số
11
liệu kế toán chi tiết từ các sổ kế toán chi tiết vào bảng tổng hợp nhập - xuất - tồn kho
vật liệu cả về giá trị, số lợng theo từng nhóm, loại vật liệu.
Có thể khái quát nội dung, trình tự kế toán chi tiết vật liệu theo phơng pháp thẻ
song song theo sơ đồ sau :
Ghi chú : Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Quan hệ đối chiếu
Sơ đồ1.1 : Sơ đồ hạch toán chi tiết vật liệu theo phơng pháp thẻ song song.
Phơng pháp này đơn giản, dễ làm, dễ kiểm tra đối chiếu số liệu, đảm bảo sự
chính xác của thông tin và có khả năng cung cấp thông tin nhanh cho quản trị hàng
tồn kho.
Tuy nhiên, việc ghi chép giữa kho và phòng kế toán còn trùng lặp về chỉ tiêu số
lợng. Ngoài ra, việc kiểm tra, đối chiếu chủ yếu tiến hành vào cuối tháng, do vậy hạn
chế chức năng kiểm tra kịp thời của kế toán.
Phơng pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít chủng loại vật liệu.
Khối lợng các nghiệp vụ nhập, xuất ít, phát sinh không thờng xuyên và trình độ
nghiệp vụ chuyên môn của nhân viên kế toán cha cao.
2. Phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển :
Phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển đợc hình thành trên cơ sở cải tiến một bớc
phơng pháp thẻ song song.
Tại kho :
Theo phơng pháp này, để hạch toán chi tiết vật liệu, tại kho vẫn phải mở thẻ kho
để theo dõi về mặt số lợng đối với từng danh điểm vật liệu nh phơng pháp thẻ song
song.
Tại phòng kế toán :
Định kỳ, sau khi nhận đợc các chứng từ nhập, xuất kho từ thủ kho, kế toán thực
hiện kiểm tra và mở sổ đối chiếu luân chuyển để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn
12
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Thẻ
hoặc
sổ
chi
tiết
vật
liệu
Bảng tổng hợp
nhập, xuất, tồn
kho vật liệu
Kế toán
tổng hợp
kho về số lợng và giá trị của từng thứ vật liệu ở từng kho. Sổ đối chiếu luân chuyển
không ghi theo từng chứng từ nhập, xuất kho mà chỉ ghi một lần vào cuối tháng trên
cơ sở tổng hợp nhập, xuất kho phát sinh trong tháng của từng danh điểm vật liệu. Mỗi
danh điểm vật liệu chỉ đợc ghi một dòng trên sổ đối chiếu luân chuyển.
Để có số liệu ghi vào sổ đối chiếu luân chuyển, kế toán phải lập bảng kê nhập,
bảng kê xuất trên cơ sở các chứng từ nhập, xuất định kỳ do thủ kho chuyển tới.
Cuối tháng tiến hành kiểm tra, đối chiếu số lợng vật liệu trên sổ đối chiếu luân
chuyển với số lợng trên thẻ kho của thủ kho và đối chiếu số tiền của từng loại vật liệu
trên sổ đối chiếu luân chuyển với số liệu kế toán tổng hợp.
Nội dung, trình tự kế toán chi tiết vật liệu theo phơng pháp sổ đối chiếu luân
chuyển có thể khái quát theo sơ đồ sau :
Ghi chú : Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Quan hệ đối chiếu
Sơ đồ 1.2 : Sơ đồ hạch toán chi tiết vật liệu theo phơng pháp
sổ đối chiếu luân chuyển
Phơng pháp này đơn giản, dễ làm, khối lợng ghi chép giảm bớt so với phơng
pháp ghi thẻ song song.
Tuy nhiên phơng pháp này còn có một số nhợc điểm sau :
Việc ghi sổ trùng lặp giữa kho và phòng kế toán về chỉ tiêu số lợng
Việc kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa kho và phòng kế toán chỉ đợc tiến hành vào
cuối tháng, vì vậy hạn chế chức năng kiểm tra của kế toán.
Nếu không lập bảng kê nhập, xuất vật liệu thì việc sắp xếp chứng từ nhập, xuất
trong cả tháng để ghi sổ đối chiếu luân chuyển dễ phát sinh nhầm lẫn, sai sót. Nếu
lập bảng kê nhập, xuất thì khối lợng ghi chép vẫn lớn.
13
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Sổ đối chiếu
luân chuyển
Bảng kê nhập
Kế toán tổng hợp
Bảng kê xuất
Theo yêu cầu cung cấp thông tin nhanh phục vụ quản trị hàng tồn kho thì các
doanh nghiệp không nên sử dụng phơng pháp này, vì muốn lập báo cáo nhanh
hàng tồn kho cần phải dựa vào số liệu trên thẻ kho.
Phơng pháp này thích hợp với các doang nghiệp không có nhiều nghiệp vụ nhập,
xuất, không bố trí riêng nhân viên kế toán chi tiết vật liệu do vậy không có điều kiện
ghi chép, theo dõi tình hình nhập, xuất hàng ngày.
3. Phơng pháp sổ sổ d :
Phơng pháp này là một bớc cải tiến căn bản trong việc tổ chức hạch toán chi tiết
vật liệu. Đặc điểm nổi bật của phơng pháp này là kết hợp chặt chẽ việc hạch toán
nghiệp vụ của thủ kho với việc ghi chép của phòng kế toán và trên cơ sở kết hợp đó, ở
kho chỉ hạch toán về số lợng và ở phòng kế toán chỉ hạch toán về giá trị của vật liệu,
xoá bỏ đợc ghi chép trùng lặp giữa kho và phòng kế toán, tạo điều kiện thực hiện
kiểm tra thờng xuyên và có hệ thống của kế toán đối với thủ kho, đảm bảo số liệu kế
toán chính xác, kịp thời. Theo phơng pháp này, công việc hạch toán đợc tiến hành cụ
thể nh sau :
Tại kho :
Hạch toán vật liệu tại kho do thủ kho thực hiện trên các thẻ kho nh các phơng
pháp trên. Hàng ngày hoặc định kỳ 3, 5 ngày ( theo quy định thống nhất của doanh
nghiệp ), sau khi ghi thẻ kho xong, thủ kho phải tập hợp toàn bộ chứng từ nhập, xuất
kho vật liệu phát sinh trong ngày ( hoặc trong kỳ ) theo từng nhóm vật liệu quy định.
Căn cứ vào kết quả phân loại chứng từ lập phiếu giao nhận chứng từ kê rõ số lợng, số
hiệu các chứng từ của từng loại vật liệu, lập riêng cho phiếu nhập kho và phiếu xuất
kho. Phiếu này sau khi nhập xong đợc đính kèm với các tập phiếu nhập kho hoặc
phiếu xuất kho để giao cho kế toán.
Ngoài công việc hàng ngày nh trên, thủ kho còn ghi chép số lu kho cuối tháng
của từng thứ vật liệu theo chỉ tiêu số lợng vào sổ số d.
Sổ số d do kế toán lập cho từng kho, mở theo năm. Cuối mỗi tháng, sổ số d đợc
chuyển cho thủ kho để ghi số lợng hàng tồn kho trên cơ sở dữ liệu từ các thẻ kho.
Trên sổ số d, vật liệu đợc sắp xếp theo thứ, nhóm, loại. Mỗi nhóm có dòng cộng
nhóm, mỗi loại có dòng cộng loại.
Tại phòng kế toán :
14
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét